“Hạt ngọc” đâu chỉ của trời

THẢO LÊ-THIÊN LAM 14/02/2026 14:02

Giữa những cánh đồng lúa–tôm đang vào vụ thu hoạch ở An Giang, niềm vui no ấm hiện rõ trên gương mặt người nông dân. “Hạt ngọc” năm nay chắc, mẩy, thơm - không chỉ nhờ trời đất ưu ái, mà còn nhờ sự bền bỉ của bàn tay lao động và khối óc sáng tạo.

brown-modern-minimal-interior-design-presentation-5.jpg

Một ngày đầu năm, nhà khoa học của nông dân Hồ Quang Cua gọi chúng tôi: “Các cháu sắp xếp đi vựa lúa miền tây đi, đang vào vụ thu hoạch, chứ năm sau chẳng biết bác có sức mấy mà đi nữa?”. Chẳng phút chần chừ, chúng tôi vượt cả nghìn km từ Hà Nội vào Cần Thơ và rong ruổi theo ông xuyên xuống tới An Giang, Cà Mau.

Lâu rồi, ông không về địa bàn này vì xa xôi, nhưng bữa nay ông khỏe lạ kỳ. Suốt chặng đường, thi thoảng ông cười đầy sảng khoái khi nhìn thấy bà con vui mừng, quên hết mệt nhọc dù vác trên vai từng bao thóc lớn ra xe vận chuyển. Ông biết, năm nay, bà con vùng này đã thắng lớn.

Vượt quãng đường lắt léo men theo kênh, tăng bo bằng xe máy leo qua những cây cầu hẹp vanh, bắc cao vượt kênh rạch, chúng tôi vào ấp Thịnh Tây A, xã Đông Hòa (An Giang). Biết ông đến, người dân cứ từ đâu kéo tới. Những gương mặt sạm đen vì nắng gió cười như tỏa nắng.

Mảnh ruộng rộng 3,3ha của anh Nguyễn Văn Trường đang thu hoạch những luống cuối cùng. Máy gặt đập liên hợp làm việc hết công suất. Hai công nhân phía sau nhanh tay đóng gói từng bao thóc. Anh Trường khoe với ông: “Lần đầu tiên con thắng lớn như năm nay. Chi phí cho thuốc và phân giảm hơn mọi năm, mưa đến sớm và kéo dài, đất ít bị nhiễm mặn nên lúa chín rất đều. Chú nhìn coi hạt lúa ít lép, sáng chắc hơn, vỏ mỏng, hạt tròn”.

ndo_br_z7414917796225-c4d53b5053fe87348056e3b4cba7e9e3.jpg
Mảnh ruộng rộng 3,3 ha của anh Nguyễn Văn Trường đang được thu hoạch những luống cuối cùng.

Ông Cua rút thuốc mời mấy anh em, châm điếu, rít một hơi dài rồi cười sảng khoái. Nhìn ra cánh đồng thẳng cánh cò bay, chẳng ai nghĩ, hàng chục năm trước, nơi đây trồng lúa hai vụ, nhưng thu hoạch chẳng đáng là bao, dù chi phí cho giống, thuốc, phân bón rất lớn. Đấy là câu chuyện của hàng chục năm trước, còn 5 năm trở lại đây, bà con vùng này đã thật sự được đổi đời nhờ chính mảnh ruộng cha ông để lại nhờ chuyển đổi giống lúa canh tác.

“Năm nay gieo sạ, phân bón ít hơn mọi năm mà thu hoạch tăng hẳn 15%, kỷ lục đó chú”, anh Trường nói hiền khô. Niềm vui của bà con như tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho “cha đẻ” gạo ST. Năm năm trước, khi mang giống ST24 về vùng này, ông đã cất công nghiên cứu loại giống ST có gene chịu mặn, rút ngắn ngày sạ giống, thích hợp với thổ nhưỡng vùng đất nhiễm mặn ở đây.

ndo_br_z7488381282103-6bcca46813ff3407728f35e5e5cd3ebd-8950.jpg
Kỹ sư Hồ Quang Cua hào hứng khi người dân ở Đông Hòa khoe năm nay vụ mùa thắng lớn.

Là những hộ đầu tiên mang lúa ST về vùng Đông Hòa, anh Trần Hoàng Giang được xem như tổ trưởng sản xuất ở ấp này nói, so với trước đây trồng lúa mùa truyền thống, năng suất thấp, giá chỉ khoảng 4.000–5.000 đồng/kg, làm không có lãi, thì giống ST mang lại giá trị cao hơn hẳn, đặc biệt là ST25. Những vụ đầu, bà con còn lo lắng vì chưa quen tập quán canh tác, nhưng nhờ được hướng dẫn “cầm tay chỉ việc”, từ gieo sạ, bón phân đến phòng trừ sâu bệnh đúng thời điểm, nên dần làm chủ được kỹ thuật.

Nhấp chén trà, anh Giang cho biết, đời anh may mắn gặp được kỹ sư Hồ Quang Cua trực tiếp mang giống xuống địa phương vào năm 2018. Biết ông rất kỹ tính, làm phải ra làm, phải dốc sức mà làm, anh Giang mạnh dạn áp dụng giống mới, kỹ thuật canh tác mới. Mảnh ruộng rộng 2,7ha của anh cho “trái ngọt” ngay từ vụ đầu tiên với năng suất khoảng 700–750 kg/công. Quan trọng hơn, rơm rạ sau thu hoạch trở thành nguồn thức ăn tự nhiên cho hệ sinh thái ao tôm: sinh ra phiêu sinh, vi sinh vật, trùng chỉ, ốc gạo…, giúp tôm con nhanh lớn, chắc vỏ, cải tạo môi trường nuôi.

Điều mà bà con học được từ ông Cua, không chỉ là được tiếp cận giống tốt phù hợp với thổ nhưỡng, rút ngắn thời gian sạ mà hơn cả, được tiếp cận tri thức khoa học của ông trong lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp. “Vùng lúa-tôm này hầu như không sử dụng thuốc hóa học, chủ yếu theo hướng hữu cơ để bảo vệ môi trường nuôi tôm. Đất tốt hơn thì tôm khỏe hơn, lúa cũng tốt hơn, ít lép” anh Giang nói.

Kế bên ruộng nhà anh Giang, anh Trần Thanh Thế hồ hởi khoe với ông Cua: “Năng suất vụ năm nay nhà cháu đạt khoảng 1 tấn/công, tương đương 8,5–9 tấn/ha. Sau khi trừ toàn bộ chi phí, trong 3,5 tháng canh tác lúa mang lại lợi nhuận khoảng 70 triệu đồng/ha. Tết này có 200 triệu đồng để ăn Tết, ngon nha chú!”.

ndo_br_de-xuat-kinh-doanh-thuyet-trinh-kinh-doanh-theo-phong-cach-khoi-mau-xanh-duong-dam-xam.jpg
Vụ mùa thắng lớn của bà ở Đông Hòa, An Giang năm vừa qua.

Cũng theo anh Giang, nhờ hiện đại hóa sản xuất, nông dân ngày nay đỡ vất vả hơn rất nhiều. Từ gieo sạ, bón phân, phun thuốc đến thu hoạch đều có máy móc, thậm chí sử dụng máy bay không người lái, người dân chủ yếu theo dõi quy trình và quản lý sản xuất. Giống lúa ST có khả năng chịu phèn, chịu mặn tốt. Nguồn phân hữu cơ tự nhiên từ hoạt động nuôi tôm giúp cây lúa sinh trưởng ổn định, ít sâu bệnh hơn so với dùng phân hóa học.

Vùng An Hòa, An Giang canh tác nhiều giống ST, nhưng với anh Giang, Thế, Trường… giống lúa ST của kỹ sư Hồ Quang Cua vẫn cho năng suất và chất lượng vượt trội so với nhiều giống ST khác trên thị trường.

Thực tiễn tại vùng lúa-tôm Đông Hòa cho thấy, khi sản xuất được tổ chức hài hòa, tuần hoàn giữa cây lúa và con tôm, mô hình này hiệu quả và bền vững hơn hẳn so với canh tác đơn lẻ. Gốc rạ trở thành phân hữu cơ cho tôm, còn chất thải của tôm lại nuôi dưỡng cây lúa, tạo nên một hệ sinh thái khép kín, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn – đúng với định hướng nông nghiệp sinh thái, giá trị cao mà địa phương đang theo đuổi.

brown-modern-minimal-interior-design-presentation-7.jpg

Trên hành trình rong ruổi, chúng tôi đi xuyên đường làng nhỏ vào ấp Hai Chong, xã Tây Yên, tỉnh An Giang. Nhà anh Huỳnh Văn Mực vừa thu hoạch xong vụ lúa 2 hôm trước, đang đưa nước vào ruộng để thả giống tôm. Chúng tôi đến nhà anh khi quá trưa, mùi gạo mới được thổi thơm ngái căn bếp.

Bố mẹ anh Mực đang đon đả chuẩn bị những khâu cuối cùng cho bữa cơm đón ông Cua về làng. Bữa cơm đầm ấm phía sau nhà hôm nay có món đặc sản miền tây là gà om nước dừa, khoai môn và lẩu mực với chả cá. Xới bát cơm gạo mới, chan chút nước om gà, chúng tôi không khỏi cảm thán trước độ ngon tê lưỡi của đặc sản vùng quê này.

Gia đình anh Mực là một trong những hộ đầu tiên mang giống lúa ST về trồng tại địa phương. Ban đầu chỉ làm thử, nhưng thấy hiệu quả rõ rệt nên bà con xung quanh dần làm theo.

ndo_br_z7414879638554-7b5e765a6b058efa4dff10b644381aed.jpg
Ông Hồ Quang Cua và 2 anh em nhà anh Trung, anh Mực cùng nhìn bản đồ vùng nước nhiễm phèn, nhiễm mặn phù hợp canh tác lúa ST.

“Thuận lợi lớn nhất là giá lúa ST cao, lúa thường chỉ khoảng 5.000–6.000 đồng/kg, còn lúa ST gấp đôi, khoảng 10.000 đồng/kg,” anh Mực chia sẻ. Đặc biệt, mô hình liên kết cho phép ứng giống trước, trừ tiền giống sau khi thu hoạch, giúp bà con giảm áp lực vốn ban đầu. Nhờ mưa nhiều, hạt lúa mỏng vỏ, chắc ký, chất lượng gạo tốt hơn, dẻo hơn, vỏ mỏng nên vụ năm nay, năng suất lúa đạt khoảng 7 tấn/ha, cao hơn 15% so với năm trước.

Chỉ ra cánh đồng đang ngập nước vừa thả giống tôm, cua, anh Mực tâm sự, trong điều kiện xâm nhập mặn, nhiều giống lúa khác chỉ chịu được khoảng 5‰ là chết, trong khi lúa ST vẫn sinh trưởng tốt. Không chỉ chịu mặn, gạo ST còn không bị bạc bụng, trong khi nhiều giống khác trong vùng thường bị đục hạt, làm giảm chất lượng. Gạo ST nấu buổi sáng, tới chiều vẫn dẻo; còn các giống khác để lâu là cứng.

ndo_br_z7414879568353-8ee03c5256d4d579d9d2861d5e340148.jpg
Anh Trung và anh Mực xả nước vào đồng chuẩn bị cho vụ nuôi tôm, cua sau khi đã thu hoạch lúa.

Ngồi kế anh Mực, anh Phan Văn Trung, Tổ trưởng Tổ hợp tác Văn Mực chia sẻ, trước năm 2017, anh chưa hiểu nhiều về gạo ST. Trồng lúa 2 vụ hoài thấy năng suất không ổn nên phải đi tìm giống phù hợp. Khi chuyển sang giống ST5 rồi ST22, anh nhận ra lượng giống gieo sạ giảm một nửa: lúa thường phải sạ 20kg/công, còn ST chỉ 10kg/công, chi phí ngang nhau nhưng năng suất và giá bán đều cao hơn.

Bà con nhìn thấy giá trị thật sự của giống lúa mới nên chuyển đổi mô hình canh tác ngay vụ mua sau. Tổ hợp tác Quăng Mực ngày càng mở rộng, trở thành điểm tựa sản xuất cho bà con. Theo anh Trung, hiện nay 100% diện tích trong tổ hợp tác đã chuyển sang trồng lúa ST. Thời gian đầu gặp khó do đầu ra chưa ổn định, lúa ít người mua, nhưng sau khi có sự liên kết với doanh nghiệp của ông Hồ Quang Trí, từ ST22 đến ST24 rồi ST25, thì toàn bộ sản lượng đều được thu mua.

“Từ lúc gặp chú Hồ Quang Cua, bà con ở ấp Hai Chong này được hỗ trợ giống, thuốc sinh học và bao tiêu đầu ra, nên rất yên tâm sản xuất”, anh Trung hồ hởi nói. Bình quân mỗi năm, 2,5ha của gia đình anh Mực mang lại doanh thu gần 200 triệu đồng/năm; còn anh Trung với 1ha cũng mang lại doanh thu gần 100 triệu đồng/năm. Với người nông dân đầu tắt, mặt tối, thu nhập này là con số mơ ước.

ndo_br_z7488381208022-5c8ee904ab2dfec171395742c380db36.jpg
Bữa cơm đậm nghĩa tình tại nhà anh Mực.

Mở bản đồ xem đường từ An Giang, xuyên Á đến Cà Mau, ông khoanh cho chúng tôi xem vùng nước mặn rất lớn mà ông mất nhiều năm nghiên cứu để mang giống lúa ST đến canh tác. Ông tâm sự, dù nghe có vẻ “đối chọi”, nhưng trên thực tế, tôm và lúa không mâu thuẫn nhau về mặt kỹ thuật, mà hỗ trợ lẫn nhau, góp phần hình thành một hệ sinh thái sản xuất bền vững. Trong quá trình nuôi tôm, môi trường được cải tạo; đến vụ trồng lúa, đất tiếp tục được phục hồi. Sau khi thu hoạch lúa, gốc rạ để lại tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú như vi sinh vật, động vật nhỏ, trùng chỉ, ốc gạo… phục vụ cho vụ nuôi tôm tiếp theo.

Theo ông Trần Minh Tú, Phó Bí thư Đảng ủy xã An Biên, tỉnh An Giang (ảnh dưới), mô hình luân canh tôm-lúa tại địa phương đã được hình thành và phát triển gần 10 năm nay, với diện tích khoảng 24.000 ha. Quá trình chuyển dịch diễn ra mạnh mẽ nhất từ năm 2015 đến nay, đặc biệt trong giai đoạn 2015–2016, khi tình trạng xâm nhập mặn diễn biến gay gắt. Riêng những năm gần đây, diện tích chuyển đổi đã đạt hơn 15.000 ha, cho thấy mô hình này phù hợp với đặc điểm tự nhiên địa phương và mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt.

ndo_br_z7488381294261-c209b8e3a8d7c8b0b3e6d38d9833724a-4647.jpg

Không chỉ phù hợp về mặt sinh thái, mô hình tôm-lúa còn phù hợp với điều kiện sản xuất của bà con nông dân và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xã An Biên xác định nâng cao chuỗi giá trị là hướng đi lâu dài, thông qua liên kết với doanh nghiệp, tiêu biểu như doanh nghiệp Hồ Quang Trí, xây dựng chuỗi giá trị từ đầu vào đến đầu ra, sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ, qua đó nâng cao giá trị sản phẩm.

Sự kết hợp hài hòa, tuần hoàn giữa lúa và tôm đã tạo nên mô hình canh tác bền vững cho bà con ở miền tây này. Để mô hình tiếp tục phát huy hiệu quả, ông Trần Minh Tú rất mong Nhà nước tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng, nhất là giao thông và thủy lợi, đồng thời thu hút doanh nghiệp tham gia liên kết, hình thành chuỗi giá trị bền vững. Xã cũng tiếp tục kết nối với doanh nghiệp Hồ Quang Trí để mở rộng vùng nguyên liệu, tháo gỡ khó khăn trong quá trình liên kết, bảo đảm lợi ích hài hòa và ổn định thu nhập cho người dân, nhất là trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động.

brown-modern-minimal-interior-design-presentation-6.jpg

Suốt đường đi, ông Cua bật mí cho chúng tôi nghe rất nhiều chuyện về những cách làm sáng tạo của người dân ở vùng miền tây nam bộ để thích ứng với mảnh đất đến 2/3 bị xâm nhập mặn. Vượt qua Đông Hòa, An Giang, ông đưa chúng tôi tới Thới Bình, Cà Mau. Ông khoe, bà con ở đây hay lắm, ném mạ mà lại vô tình tạo ra hiệu quả canh tác rất lớn.

Ông Phạm Nhật Tạo, Phó Giám đốc HTX Nông nghiệp Trí Lực, Thới Bình dẫn chúng tôi đi dọc bờ ruộng đang được dẫn nước vào ruộng nuôi tôm kể, từ năm 2015, ở vùng này có một gia đình vì gieo mạ muộn nên thay vì cấy, họ đã mang giống ra ném (hay còn gọi là thảy hoặc chọi mạ). Tưởng vụ ấy mất ăn, ấy thế mà sự lười đó lại có thành quả thu hoạch tốt.

ndo_br_z7414879838624-260f046fd6568cad51c61d0e9faa2da0.jpg
Vùng trồng gạo ST của bà con ở miền tây năm nay thắng lớn.

Sáng kiến ấy được lan truyền, bà con học theo trong vụ mới thì thấy lúa ném là mạ bám đất tốt hơn, không bị vùi sâu, nghiêng nhẹ nên nhanh bén rễ, đặc biệt phù hợp với vùng đất nhiễm mặn. Gieo mạ “ném” trở thành nét canh tác đặc thù, giúp ruộng không bị kín mặt, tạo điều kiện cho tôm, cua di chuyển, sinh trưởng, bảo đảm tính cân bằng sinh thái. Thời gian sinh trưởng được rút ngắn khoảng 2 tuần so với cấy, rất quan trọng đối với giống ST có chu kỳ sinh trưởng ngắn. Nhờ đó, bông lúa to hơn, năng suất cao hơn, trong khi cây lúa vẫn giữ vai trò chính là cải tạo môi trường cho vụ nuôi tôm sau.

Từ năm 2018, toàn bộ vùng Trí Phải đã chuyển sang 100% gieo mạ bằng phương pháp “ném”, thay cho cấy truyền thống. Sáng kiến này từng khiến nhiều nhà khoa học bất ngờ. Viện trưởng Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long đã đề nghị xem xét công nhận đây là sáng kiến kỹ thuật của nông dân, bởi hiệu quả rõ rệt cả về sinh trưởng cây lúa lẫn thích ứng điều kiện mặn-phèn.

Xã Trí Phải có tự nhiên rất đặc thù: 6 tháng nước mặn, 6 tháng nước ngọt, có năm độ mặn lên tới 40-50‰, khiến sản xuất lúa gặp nhiều rủi ro, có năm mất trắng do hạn mặn kéo dài, không có mưa. Vì thế, việc có được giống lúa thích hợp với vùng nước mặn, thời gian gieo ngắn ngày như ST là một sáng kiến tuyệt vời giúp bà con ở vùng này tìm thấy phương pháp canh tác bền vững.

ndo_br_z7488363699429-46ab6b2103662b7f867b299ab8e37785.jpg
Anh Hà Minh Sữa, Phó Phòng Kinh tế xã Trí Phải và ông Hồ Quang Cua.

Anh Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc phụ trách kỹ thuật của Hợp tác xã Nông nghiệp Trí Lực Thới Bình, cho biết địa phương bắt đầu chuyển sang sản xuất lúa ST từ năm 2016, ban đầu là giống ST20, sau đó chuyển dần sang ST24 và ST25. Đây cũng là vùng đầu tiên của Cà Mau sử dụng giống ST20.

Ông hỏi, năng suất tốt vậy thu nhập bà con ổn không. Anh Toàn lấy tay nhẩm tính khoe: Năng suất lúa ST tại Trí Phải bình quân đạt 700 kg/công, cao nhất có thể lên tới 960 kg/công (1.296 m²). Nếu không sản xuất theo hướng hữu cơ, năng suất phổ biến khoảng 800–900 kg/công. Trước đây, khi trồng lúa mùa truyền thống, giá bán chỉ khoảng 5.000–7.000 đồng/kg; nay với lúa ST, giá dao động 8.000–10.000 đồng/kg, riêng lúa đạt chứng nhận có thể lên tới 11.000–12.000 đồng/kg.

Điều quan trọng hơn, theo anh Hà Minh Sữa, Phó Phòng Kinh tế xã Trí Phải, sản xuất lúa trên đất nuôi tôm không chỉ mang lại giá trị kinh tế, mà còn giữ vai trò quyết định trong cải tạo đất. “Nếu không trồng lúa, đất ngâm mặn nhiều năm sẽ mất dinh dưỡng, ảnh hưởng trực tiếp đến vụ nuôi tôm sau,” anh Sữa nói.

Suốt cuộc trò chuyện, những người nông dân chất phác của hợp tác xã luôn bày tỏ sự khâm phục trước sáng kiến của ông Hồ Quang Cua, người đã nghiên cứu thành công giống lúa đặc biệt phù hợp với thổ nhưỡng vùng lúa–tôm, vừa cho năng suất cao, vừa có hương thơm và vị đậm đà hơn.

z7408853788372-b7a9ddf794facbf30935b59a929c999a.jpg
Giống lúa ngắn ngày đang được ông Hồ Quang Cua tiếp tục nghiên cứu để thích ứng với thổ nhưỡng tại Cà Mau.

Toàn xã Trí Phải hiện có gần 1.000 ha lúa–tôm, trong đó ST24 và ST25 chiếm 60–70% diện tích. Trong bối cảnh giống ST24 khan hiếm, nhiều hợp tác xã phải trực tiếp liên hệ, đi tận nơi để bảo đảm đủ giống cho bà con sản xuất. Trước lúc ra về, một số người ngỏ ý mùa gieo mạ tới, xin được mua giống từ doanh nghiệp Hồ Quang Trí của ông Cua. Châm điếu thuốc, hít một hơi thật dài, ông cười khà khà: “Năm sau nhớ gọi sớm tôi sẽ để phần giống ST cho”.

Chúng tôi rời Trí Phải khi trời chuyển sang chạng vạng. Cuối ngày chúng tôi được tiếp cận với các lãnh đạo ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Cà Mau Phan Minh Chí, những năm gần đây, các mô hình sản xuất nông-lâm kết hợp tại Cà Mau cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt nhờ chu kỳ sản xuất ngắn, sản lượng tăng và giá trị gia tăng cao. Đặc biệt, việc kết hợp trồng lúa trong mô hình lúa-tôm cũng mang lại lợi ích rõ rệt về môi trường. Việc đưa lúa vào sản xuất theo Chương trình một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn trong giảm phát thải khí nhà kính.

ndo_br_z7414879803047-9d51db6720e8d74667278c8c594d98fa.jpg
Trồng lúa vẫn là kế sinh nhai bền vững của bà con ở miền tây này.

Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật tỉnh Cà Mau Nguyễn Trần Thức cho biết thêm, nông nghiệp Cà Mau có những nét rất đặc thù do nằm ở cuối nguồn sông Mê Kông. Một phần khu vực phía bắc tỉnh hưởng lợi từ nguồn nước ngọt, trong khi phần lớn diện tích còn lại sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào nước trời. Dù năng suất không cao bằng một số tỉnh, nhưng chất lượng lúa gạo được đánh giá cao, do sử dụng ít phân bón, phù hợp với các giống lúa thơm, đặc biệt ở vùng mặn-lợ.

Sau khi sáp nhập địa giới hành chính, tổng diện tích canh tác lúa của tỉnh khoảng 187.000 ha, diện tích gieo trồng đạt 314.000 ha. Sản lượng lúa toàn tỉnh năm nay đạt khoảng 1,9 triệu tấn.

ndo_br_z7413531137350-f6d85ebe4c54c11c17eb2db1ef2f9548-4849.jpg
Bà con vẫn luôn mong ngóng kỹ sư Hồ Quang Cua vì những tâm huyết tạo kế sinh nhai bền vững trong trồng lúa mà ông dành cho bà con trong mấy chục năm qua.

Ông Thức giãi bày, hiện tỉnh Cà Mau đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, lớn nhất là tác động ngày càng nặng nề của biến đổi khí hậu do địa bàn có 3 mặt giáp biển. Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa gạo, còn gặp khó khăn do chi phí logistics cao, khoảng cách xa các trung tâm tiêu thụ lớn, giá cả thị trường biến động, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún. Hạ tầng giao thông và thủy lợi chưa theo kịp yêu cầu thích ứng với biến đổi khí hậu, khiến khả năng chống chịu của sản xuất nông nghiệp còn hạn chế.

Ông Thức cũng rất mong sớm đưa được giống lúa ST về vùng phía nam Cà Mau. Nơi này phần lớn diện tích canh tác là ngập mặn, không có nước ngọt. Nhưng làm thế nào để lúa thích ứng với mảnh đất nhiễm mặn này không dễ dàng.

Với tâm tư không chỉ của người nông dân mà còn của cả ngành nông nghiệp địa phương, ông Hồ Quang Cua quả quyết, sẽ sớm mang giống lúa mới trong vụ mùa tới đây về Cà Mau. Ở trại nghiên cứu giống của ông, đang có chừng 1.000 giống, có giống đang được bổ sung thêm gene phù hợp với vùng đất mặn ở phía nam Cà Mau như Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, Trần Văn Thời, U Minh… và ông nung nấu, mình còn phải tiếp tục làm, làm tốt hơn nữa để giống ST vươn xa được tới những vùng đất “khó nhằn” nhất, để “hạt ngọc” vẫn là kế sinh nhai bền vững cho bà con, để những cánh đồng vẫn tíu tít khi vào mùa gặt…

Theo nhandan.vn
https://nhandan.vn/hat-ngoc-dau-chi-cua-troi-post940402.html
Copy Link
https://nhandan.vn/hat-ngoc-dau-chi-cua-troi-post940402.html

    Nổi bật

        Mới nhất

        “Hạt ngọc” đâu chỉ của trời
        • Mặc định