Thanh Hóa, 10 năm xây dựng nông thôn mới

Sau gần 10 năm triển khai, chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) của Thanh Hóa đã có sự chuyển biến nhanh chóng và rõ rệt, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Chương trình xây dựng NTM đã bao phủ toàn diện về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Thanh Hóa, không những góp phần thay đổi bộ mặt làng quê mà còn thay đổi nhận thức của hệ thống chính quyền cơ sở và người dân nông thôn trong nỗ lực chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập, vươn lên làm giàu...
Thu hoạch rau thủy canh ở xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương (Thanh Hóa).
Thu hoạch rau thủy canh ở xã Quảng Tân, huyện Quảng Xương (Thanh Hóa).

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, tháng 6-2010, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành đề án xây dựng NTM của tỉnh, đặt ra mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cho toàn Đảng bộ, chính quyền và hệ thống chính trị trong tỉnh. Theo đó, tỉnh thành lập đồng bộ hệ thống bộ máy tổ chức chỉ đạo, điều hành từ tỉnh đến cơ sở, trong đó phân công đồng chí bí thư cấp ủy làm trưởng ban chỉ đạo; tăng cường bộ phận tham mưu giúp việc chuyên trách, chuyên nghiệp để đủ sức điều phối chương trình. Trong khi một số nội dung, vấn đề chưa có hướng dẫn hoặc còn phải chờ văn bản hướng dẫn của Trung ương, song căn cứ điều kiện cụ thể của địa phương và với cách tiếp cận tự tin, sáng tạo, năm 2011, tỉnh Thanh Hóa đã chủ động ban hành hướng dẫn lập quy hoạch xã NTM 3 trong 1, gồm quy định “Lấy phiếu đánh giá về sự hài lòng của người dân”, “Quy định trình tự, thủ tục đánh giá, công nhận đạt chuẩn tiêu chí NTM”, đặc biệt là đến đầu năm 2014 đã ban hành “Bộ tiêu chí thôn bản NTM” và Thanh Hóa cũng là một trong hai tỉnh trong cả nước, từ năm 2012 đã có những xã đã đạt chuẩn NTM đầu tiên. Về huy động nguồn lực, bên cạnh triển khai nghiêm việc tiếp nhận, thụ hưởng cơ chế chính sách của Trung ương, Thanh Hóa là một trong những địa phương chủ động kiến tạo khung pháp lý và sớm ban hành cơ chế chính sách riêng trong xây dựng NTM như: Để lại tiền thu từ chuyển quyền sử dụng đất, hỗ trợ đầu tư xây dựng công trình, hỗ trợ phát triển mô hình phát triển sản xuất, thưởng thôn, bản, xã, huyện đạt chuẩn NTM, trong đó, một mặt quy định mức hỗ trợ cụ thể từ ngân sách tỉnh cho thôn, xã và huyện, mặt khác đã định hướng về quyền chủ động ban hành cơ chế chính sách, huy động nguồn lực của các địa phương cấp huyện, xã. Chính vì thế, trong gần 10 năm qua, tỉnh đã huy động được hơn 56.394 tỷ đồng cho xây dựng NTM. Cùng với nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ, các địa phương đã chủ động khai thác, huy động các nguồn nội lực trong dân, như: góp công lao động, hiến đất, vật liệu, tiền; động viên người thân thành đạt tham gia chú trọng khai thác huy động các nguồn từ ngân hàng, doanh nghiệp và xã hội. Từ nguồn vốn nêu trên, cùng với cách làm hiệu quả thiết thực, toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo được 13.965 km đường giao thông nông thôn, 1.944 km giao thông nội đồng, 1.274 công trình thủy lợi nhỏ, 3.892 km kênh mương nội đồng, 12.039 phòng học các cấp, 972 trạm biến áp và 7.286 km đường dây tải điện các loại, 538 nhà văn hóa và khu thể thao xã, 3.431 nhà văn hóa thôn, 506 chợ nông thôn, 518 trạm y tế, 350 trụ sở xã, hơn 33.548 công trình cấp nước sinh hoạt, 1.960 công trình vệ sinh và xử lý môi trường nông thôn, xây mới và chỉnh trang hơn 176.055 nhà ở dân cư.

Chỉ đạo các xã lựa chọn những công việc mà phần lớn người dân trong thôn, bản và trong xã thấy cần tập trung làm trước; đã khuyến khích triển khai những nội dung, tiêu chí từng thôn, bản, từng hộ dân có thể tự làm được. Mặt khác, đã tập trung cao cho nhiệm vụ phát triển sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ. Chú trọng dồn đổi, tập trung ruộng đất gắn với quy hoạch đồng ruộng, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa các khâu trong quá trình sản xuất, chế biến. Coi trọng cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp, xây dựng, thúc đẩy các mối liên kết, hợp tác giữa nông dân với doanh nghiệp và nhà khoa học, giữa nông dân với nông dân thông qua tổ hợp tác và hợp tác xã để tăng thu nhập cho nông dân, theo đó, riêng từ nguồn vốn trực tiếp của chương trình toàn tỉnh đã xây dựng được 1.790 mô hình sản xuất các loại.

Về lĩnh vực xã hội, đã có sự quan tâm tập trung chỉ đạo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn để nâng cao kỹ năng tay nghề, chất lượng lao động và giải quyết việc làm theo cả hai hướng phi nông nghiệp và nông nghiệp. Đây là giải pháp đột phá, căn cơ để chuyển lực lượng lao động nông nghiệp hiện đang dư thừa sang ngành nghề khác có thu nhập cao hơn.

Cảm nhận từ người dân và tích hợp kết quả từ chương trình, điều dễ nhận thấy hiện nay là bức tranh tổng thể hay diện mạo nông thôn tỉnh Thanh Hóa đã có sự đổi mới mạnh mẽ. Toàn tỉnh đã có 332 trong tổng số 569 xã đạt chuẩn NTM (bằng 58,34%), hoàn thành mục tiêu của tỉnh sớm trước một năm. Đối với cấp huyện, đã có năm huyện đạt chuẩn NTM; một thành phố, một thị xã đã có 100% số xã đạt chuẩn NTM. Hầu hết các xã trong tỉnh đều được hưởng lợi từ chương trình xây dựng NTM, trong đó cái được lớn nhất là sự tin cậy của nhân dân, thứ hai là điều kiện, chất lượng cuộc sống và tư duy sản xuất hàng hóa của người nông dân được nâng lên rõ rệt, vai trò chủ thể của người dân nông thôn được phát huy cao cùng sự trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở, từ trách nhiệm, năng lực quản lý đến sự sâu sát, gần gũi với dân hơn.

Những kết quả nêu trên, cho thấy sự thành công lớn của chương trình xây dựng NTM, khẳng định tính đúng đắn, một chủ trương lớn mang tầm chiến lược, thể hiện ý chí và quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, phát triển bền vững; một xã hội nông thôn dân chủ, văn minh, tiến bộ; một thế hệ nông dân kiểu mới, có những tố chất tiên tiến về văn hóa, chính trị, lối sống, kỹ năng lao động, trình độ sản xuất, phương thức sản xuất; có đời sống vật chất, tinh thần nâng cao, tiến bộ, văn minh, hiện đại. Kết quả này càng thấm đậm hơn đối với một tỉnh đất rộng, người đông, thường phải chịu tổn thương lớn về thiên tai và còn bộn bề gian khó như Thanh Hóa.

Có thể bạn quan tâm

Trưng bày “Dưới cờ Đảng quang vinh: Việt Nam 40 năm Đổi mới và khát vọng trong kỷ nguyên vươn mình” tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

Khoa học xã hội và nhân văn góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Kết quả nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương pháp luật, chính sách xây dựng phát triển đất nước, quốc phòng và an ninh. Những lập luận khoa học còn giúp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo niềm tin trong xã hội và sự đồng thuận của nhân dân.

Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Nhân Dân bên lề Đại hội.

Đối ngoại - trụ cột kiến tạo môi trường hòa bình và phát triển cho kỷ nguyên phát triển mới

Chia sẻ bên lề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Đại sứ Việt Nam tại Liên bang Nga Đặng Minh Khôi khẳng định niềm tin sâu sắc vào đường lối của Đảng, nhấn mạnh vai trò trọng yếu của đối ngoại trong việc giữ vững môi trường hòa bình, huy động nguồn lực quốc tế và mở rộng không gian phát triển.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường điều hành phiên thảo luận.

Tạo bước chuyển quan trọng về tư duy và hành động, vì tương lai lâu dài của đất nước

Tiếp tục chương trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 21/1, các đại biểu tiến hành phiên thảo luận tại hội trường. Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư và các đại biểu dự phiên thảo luận. Chủ tịch nước Lương Cường điều hành phiên thảo luận.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư. (Ảnh: DUY LINH)

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030

Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư ký ban hành Kết luận số 231-NQ/TW ngày 8/1/2026 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại hội thảo. (Ảnh: PHẠM CƯỜNG)

Đồng chí Trần Quốc Hoàn - Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam

Ngày 15/1, tại Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Công an, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức hội thảo khoa học: “Đồng chí Trần Quốc Hoàn - Người cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam”.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: DUY LINH)

Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương lấy ý kiến cử tri giới thiệu người ứng cử Đại biểu Quốc hội Khóa XVI

Ngày 12/1, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tổ chức hội nghị Lấy ý kiến của cử tri nơi công tác đối với người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI theo hình thức trực tiếp và trực tuyến. Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương dự hội nghị.

Thượng tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, phát biểu chỉ đạo hội nghị. (Ảnh: BẢO LONG)

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền về ý nghĩa chính trị, văn hóa Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 12/1, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tổ chức Hội nghị Tổng kết giai đoạn 2021-2025 thực hiện Đề án “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về ý nghĩa chính trị, văn hóa Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo" (Đề án 4144).