Kết quả tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Nội vụ vừa qua cho thấy có 98 văn bản (gồm bảy bộ luật, luật của Quốc hội; 25 nghị định của Chính phủ; năm quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 60 thông tư, thông tư liên tịch và một quyết định của bộ trưởng) được đề xuất sửa đổi, bổ sung; thay thế; tạm ngưng hiệu lực, bãi bỏ hoặc bãi bỏ một phần.
Theo đó, không ít quy định trong các văn bản nêu trên chưa kịp thời thích ứng việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thay đổi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của các cơ quan. Vẫn còn thành phần hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện kinh doanh cần tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa; việc chuyển đổi số và khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để thay thế giấy tờ trong hồ sơ chưa được thể hiện đầy đủ trong một số quy định. Ở nhiều lĩnh vực, việc thay đổi chính sách đầu tư, kinh doanh còn đòi hỏi phải bãi bỏ các giấy phép và điều kiện không còn cần thiết. Khó khăn, vướng mắc cũng tập trung ở yêu cầu hoàn thiện cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện dân chủ ở cơ sở và cơ chế thu hút, trọng dụng nhân tài…
Trên cơ sở thực tiễn và đánh giá tính cấp bách của từng văn bản, Bộ Nội vụ cần tập trung xử lý văn bản ngay trong năm 2026 và lộ trình các năm tiếp theo nhằm kịp thời đáp ứng yêu cầu tại Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và tại các nghị quyết trụ cột của Đảng.
Việc sửa đổi, bổ sung phải tạo được hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động của bộ máy chính trị trong vận hành mô hình chính quyền ba cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và yêu cầu về phát triển, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và thi hành pháp luật. Hiện nay vẫn còn nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thống nhất, chưa bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp cần được Bộ Nội vụ tập trung xử lý; đồng thời hoàn thiện văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành trong một số lĩnh vực theo hướng giảm đến mức thấp nhất thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư, kinh doanh và chi phí tuân thủ, không để xảy ra tình trạng quy định có nhiều cách hiểu, dẫn đến phát sinh tiêu cực, gây khó khăn cho việc thực thi…
Thực tiễn hiện nay cũng đòi hỏi Bộ Nội vụ khẩn trương nghiên cứu, ban hành mới hoặc nâng hiệu lực pháp lý của văn bản đối với những vấn đề chưa được pháp luật điều chỉnh hoặc cần được điều chỉnh bằng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, nhất là về các lĩnh vực còn nhiều kiến nghị như: Tổ chức bộ máy, công chức, viên chức, lao động, việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, người có công, văn thư và lưu trữ nhà nước, cải cách hành chính, an toàn vệ sinh lao động và tổ chức phi chính phủ.
Trong bối cảnh mới, yêu cầu quan trọng là hệ thống pháp luật phải làm sao thích ứng phương thức quản trị dựa trên dữ liệu, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm nhưng vẫn bảo đảm tính ổn định, thống nhất. Do đó, sau công tác tổng rà soát của các bộ, ngành, địa phương, Bộ Tư pháp cần hướng dẫn thống nhất về phương pháp đánh giá, phân loại, xác định phương án xử lý văn bản, đánh giá tác động chính sách. Nghiên cứu hoàn thiện quy trình rà soát, hệ thống hóa văn bản thật sự khoa học, thống nhất gắn với theo dõi việc thi hành; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật bảo đảm chia sẻ dữ liệu, tránh trùng lặp, chồng chéo trong quá trình thực hiện.
Bộ Khoa học và Công nghệ cần nghiên cứu phát triển công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) hỗ trợ rà soát, hệ thống hóa văn bản, tự động phát hiện quy định mâu thuẫn, chồng chéo, hết hiệu lực hoặc không còn phù hợp; ban hành các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật để việc ứng dụng AI thống nhất, đồng bộ, an toàn và hiệu quả trong hoạt động của các bộ, ngành, địa phương.