Nhắc tới Đặng Vũ Hiệp, nhiều người sẽ nhớ tới ông như vị tướng của chiến trường Tây Nguyên, với hơn 10 năm ròng rã “nằm gai nếm mật” trong vai trò Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, chỉ huy nhiều chiến dịch lịch sử ở dải đất này. Nhưng trong những ngày cả nước đang dồn sức cho chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính liệt sĩ, người ta sẽ nhắc đến Đặng Vũ Hiệp nhiều hơn với tư cách là người khởi xướng ý tưởng về chính sách đặc biệt: Phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Là một vị tướng, khi trở về nhà sau chiến thắng và được phong Thứ trưởng Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, lòng ông vẫn luôn trĩu nặng khi những người lính của mình vẫn đang nằm lại đâu đó nơi chiến trường. Còn mẹ già thì vẫn đang ngóng trông. Bản thân ông cũng nhói lòng với lời trách móc của mẹ, khi cậu con út là liệt sĩ Đặng Vũ Tân chưa tìm thấy hài cốt: “Anh làm tướng mà không đưa được em về cho mẹ là không được”.

Câu nói ấy đã thôi thúc ông cùng Tổng cục Chính trị đề xuất xây dựng đề án chính sách đặc biệt về Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Ngày ngày các mẹ vẫn ra đầu ngõ, các mẹ vẫn viết thư, các mẹ vẫn mở đài nghe mục nhắn tìm đồng đội. Ở đâu có chút manh mối về con là các mẹ lại tìm đến. Dù có thế nào, các mẹ vẫn kiên cường bám trụ, như bao thân cây già cỗi nhưng vô cùng dẻo dai trên đại ngàn Tây Nguyên, để đợi ngày đón anh trở về. 

Nhưng thời gian cứ dần trôi. Nhiều mẹ đã không đợi được nữa, không kịp đón con về với quê hương. Các anh vẫn đang nằm lại ở một nơi nào đó trên dải đất hình chữ S. Chiến dịch 500 ngày đêm ra đời vì mục đích cao cả ấy, như điều vẫn luôn canh cánh trong lòng Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp. Phải làm tất cả, để đưa các anh về với mẹ.

Phải làm tất cả, để đưa các anh về với mẹ.

Nhiều người vẫn thường ví von, dáng hình đất nước Việt Nam giống như một bà mẹ đội nón lá, còng lưng, chịu thương, chịu khó như bao cuộc bể dâu suốt hàng năm lịch sử. Và để có nền độc lập như ngày hôm nay, có biết bao bà mẹ đã phải nuốt nước mắt tiễn con ra mặt trận.

Ý tưởng tôn vinh những người mẹ có lẽ đã đeo đẳng trong lòng Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp suốt nhiều năm. Và đến năm 1994, mọi việc mới chín muồi.

Ý tưởng tôn vinh những người mẹ có lẽ đã đeo đẳng trong lòng Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp suốt nhiều năm.

Theo Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu (nguyên Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng), vào giữa năm 1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng nghe Tổng cục Chính trị báo cáo về việc tìm kiếm, cất bốc, quy tập mộ liệt sĩ hy sinh trong các cuộc chiến tranh. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp khi đó là Thứ trưởng Quốc phòng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phụ trách hậu phương quân đội, còn Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu là Cục trưởng Cục Chính sách, phụ tá cho Thượng tướng.

Sau khi Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp thay mặt Tổng cục Chính trị trình bày báo cáo, Tổng Bí thư Đỗ Mười nêu một số vấn đề chính cần xem xét, đại ý: Về việc giải quyết chính sách sau chiến tranh của chúng ta đã tương đối đầy đủ, cả về mặt văn bản. Kết quả đạt được rất tốt, góp phần ổn định hậu phương, động viên quân đội hoàn thành nhiệm vụ. 

Chủ tịch nước Lê Đức Anh dẫn các Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phong lần đầu tiên duyệt Đội danh dự Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày 19/12/1994. (Ảnh tư liệu)

Chủ tịch nước Lê Đức Anh dẫn các Bà mẹ Việt Nam anh hùng được phong lần đầu tiên duyệt Đội danh dự Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày 19/12/1994. (Ảnh tư liệu)

Ông Đẩu kể, trong lúc Tổng Bí thư Đỗ Mười vừa đi vòng quanh bàn hội nghị, vừa phát biểu như thể tiếp tục suy nghĩ, xem xét, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp liền nói xen vào: “Thưa Tổng Bí thư! Bản thân tôi có người em út tên là Đặng Vũ Tân, hy sinh ở chiến trường Quảng Trị năm 1972. Từ ngày báo tử, bao nhiêu năm rồi mẹ tôi vẫn đắp cái chăn là di vật của em Tân. Đến ngày mẹ tôi từ trần, gia đình chúng tôi lấy cái chăn ấy khâm liệm cho cụ. Khi mẹ tôi còn sống, cứ mỗi lần tôi về, cụ nói mà như trách cứ tôi rằng, con làm tướng mà không tìm được mộ em con đưa về đây cho mẹ thì nói làm gì!”

Nghe vậy, Tổng Bí thư nói: “Đúng đấy! Cụ mắng cậu là phải. Ở bất cứ nơi đâu, người mẹ liệt sĩ nào cũng vậy thôi. Chính các mẹ là người hy sinh lớn nhất”. 

Ở bất cứ nơi đâu, người mẹ liệt sĩ nào cũng vậy thôi. Chính các mẹ là người hy sinh lớn nhất. 
Tổng Bí thư Đỗ Mười

Rồi Tổng Bí thư Đỗ Mười kết luận hội nghị: “Đến giờ phút này, theo tôi, còn có một đối tượng có nhiều công lao to lớn với quân đội với đất nước nhưng chưa được khen thưởng xứng đáng. Đó là những bà mẹ đã thầm lặng hiến dâng những người con cho Tổ quốc. Chúng ta phải nghiên cứu một chính sách gì đấy để đền đáp công ơn đó".

Đề án chính sách “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” ra đời từ những lời “trách móc” như thế. Và nó xuất phát từ trách nhiệm và bổn phận của những người đứng đầu đất nước, của những người chỉ huy, đồng đội.

Ngay sau cuộc họp trên, Tổng Bí thư Đỗ Mười giao cho Tổng cục Chính trị, Cục Chính sách của Bộ Quốc phòng phối hợp Bộ Lao động-Thương binh và xã hội nghiên cứu lập đề án. “Thế thì cụ Hiệp (cách ông Đẩu nói về người thủ tưởng của mình một cách đầy trìu mến) về báo cáo lại với anh Lê Khả Phiêu (khi đó là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị) nghiên cứu ra chính sách Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Sau khi ban hành chính sách rồi ấy thì có một việc nữa là phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân các tổ chức quần chúng, các địa phương chủ trương phụng dưỡng các mẹ” - ông Đẩu bồi hồi kể.

Sau khi ban hành chính sách rồi ấy thì có một việc nữa là phát động toàn Đảng, toàn quân, toàn dân các tổ chức quần chúng, các địa phương chủ trương phụng dưỡng các mẹ.
Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu bồi hồi kể lại

“Thế là thầy trò tôi, cụ Trần Hoàn (khi đó là Bộ trưởng Văn hóa) và nhiều người đã cùng đi động viên các cấp, các ngành để vận động. Rồi chúng tôi vào Điện Bàn (Quảng Nam) thăm mẹ Thứ…”. Ông Đẩu không nén được xúc động khi nhắc đến người mẹ đã 9 lần nhận giấy báo tử của các con trai.

Mẹ Nguyễn Thị Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Bức ảnh huyền thoại mẹ Thứ già nua, khắc khổ ngồi bên mâm cơm có 9 cái bát, 9 đôi đũa dành cho 9 người con đã hy sinh, được Đại tá, nhà báo Trần Hồng ghi lại, là biểu tượng bất diệt cho sự hy sinh vĩ đại của các bà mẹ Việt Nam. Đại tá Trần Hồng kể: Khi đến nhà, tôi thấy bà đang ngồi cạnh mâm cơm với 9 cái bát, 9 đôi đũa như thế. Bà bảo tôi rằng bà vẫn đợi nó về. 9 thằng chắc chắn có một thằng về với tôi, chắc chắn thế”. 

Tượng đài mẹ Thứ. (Ảnh: TTXVN)

Tượng đài mẹ Thứ. (Ảnh: TTXVN)

Ngày 17/12/1994, tức chỉ vài tháng sau cuộc họp lịch sử giữa Tổng Bí thư Đỗ Mười với Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký quyết định tặng và truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng đợt đầu tiên cho 19.879 mẹ, trong đó có mẹ Thứ. Năm 2004, Đảng và Nhà nước đồng ý xây dựng quần thể tượng đài Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Và đến ngày 27/7/2009, nhân kỷ niệm 62 năm ngày Thương binh Liệt sĩ, công trình vĩ đại ấy được khởi công tại Núi Cấm (Tam Kỳ, Quảng Nam), lấy nguyên mẫu từ mẹ Thứ, với ý tưởng mẹ là suối nguồn bao la, vô tận.

Mẹ Thứ mất năm 2010, thọ 102 tuổi, 5 năm trước khi bức tượng bà mẹ Việt Nam anh hùng được hoàn thành. Nhưng mẹ thì vẫn sống mãi, là linh hồn đất nước, như trong ý tưởng về danh hiệu tri ân mà Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp đề xuất.

(Ảnh tư liệu)

(Ảnh tư liệu)

Nhưng không chỉ có đề án Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp còn nhiều nỗi trăn trở khác, tất cả nhằm tri ân và tôn vinh những người đã dành cả tuổi xuân, hy sinh phần máu xương cho Tổ quốc. Ví như đề án tiền lương, phụ cấp quân đội.

Lúc đó, ông Đẩu là Đại úy, trợ lý của Phòng Chính sách, Cục Tổ chức Tổng cục Chính trị. Còn ông Đặng Vũ Hiệp là Thiếu tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Quốc phòng.

Đại tướng Chu Huy Mân và Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (ngoài cùng bên phải) cùng một số cán bộ chiến sĩ của Binh đoàn Tây Nguyên. (Ảnh: Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp)

Đại tướng Chu Huy Mân và Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (ngoài cùng bên phải) cùng một số cán bộ chiến sĩ của Binh đoàn Tây Nguyên. (Ảnh: Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp)

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu kể: Trong Đề án, có mục Phụ cấp thâm niên vẫn giữ mức tối đa 25% trên nền lương chính như chế độ hiện hành. Nhưng đến phần thảo luận tham gia ý kiến, tôi không nhất trí, bởi khi Nhà nước ban hành chế độ tiền lương năm 1960, thì tuổi quân của cán bộ quân đội cao nhất hồi đó mới là 16 năm, hưởng Phụ cấp thâm niên là 16%. Đến nay, quân đội ta đã qua 36 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, nếu để ở mức tối đa 25% là không hợp lý. 

Ý kiến của Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu lúc ấy không được đa số thành viên cuộc họp đồng ý, với lập luận mọi khoản phụ cấp theo lương không vượt quá 1/4 lương chính. Khi đứng dậy kết luận, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp nói: “Cá nhân tôi đồng ý với ý kiến của đồng chí Nguyễn Mạnh Đẩu, nhưng hội nghị phải kết luận theo đa số. Tôi hẹn nhé, bây giờ đồng chí là Đại úy, chờ đến khi nào đồng chí lên tới Đại tá, Cục trưởng Chính sách thì tiếp tục đưa kiến nghị này ra. Và tôi cho rằng, sẽ được chấp thuận…”. Câu nói có tính dự báo hồi đó của ông, 13 năm sau (năm 1993) là hoàn toàn đúng.

“Trong cuộc đời quân ngũ của tôi đang ngót 45 năm, thì tôi có thời gian công tác ở Tổng cục Chính trị cũng khoảng độ hơn 20 năm. Tôi may mắn được công tác, được phục vụ cho thủ trưởng Đặng Vũ Hiệp. Tôi cho đây là một cái may mắn trong đời, thậm chí là ân huệ. Cả trọn đời tôi, tôi luôn luôn coi Thủ trưởng Đặng Vũ Hiệp là người thầy, là Thủ trưởng, là đàn anh của tôi trong cuộc đời binh nghiệp” - Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu bồi hồi.

Theo Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu, trong đời sống cũng như trong công việc, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp luôn là con người nghĩa tình. Tháng 4/1994, ông Đẩu tháp tùng thủ trưởng lên Điện Biên Phủ để kiểm tra việc chuẩn bị về mặt chính sách (nghĩa trang liệt sĩ, bia kỷ niệm) phục vụ cho Lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/1994). 

Cả trọn đời tôi, tôi luôn luôn coi Thủ trưởng Đặng Vũ Hiệp là người thầy, là Thủ trưởng, là đàn anh của tôi trong cuộc đời binh nghiệp.

Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu

“Ông cùng tôi đến từng nghĩa trang, bia kỷ niệm, xem xét việc tu bổ từng khu mộ liệt sĩ. Theo danh sách của Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị cung cấp, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã gắn tên liệt sĩ bằng chữ đồng lên các bức tường lớn bao quanh Nghĩa trang A1” - Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu cho biết, đồng thời nói thêm rằng đi đâu, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp cũng dành thời gian đi thăm các đối tượng chính sách và anh em cán bộ chính sách ở cơ sở.  

Vì thế mà sau khi nghỉ hưu theo chế độ (năm 1998), Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp vẫn đi tiếp con đường mà ông đã chọn, vì chiến sĩ, vì nhân dân. Ngày 17/12/2003, ông được phân công là Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam với sứ mệnh chăm sóc, giúp đỡ và đấu tranh bảo vệ quyền lợi, đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam

Năm 2007, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp dẫn đầu đoàn đại biểu nạn nhân chất độc da cam/dioxin các tỉnh, thành phố tiếp kiến Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết. Hôm đó, Chủ tịch nước ôm chầm lấy Thượng tướng và nói đại ý: Anh Hiệp đã vào sinh ra tử, đáng ra có thể an nhàn tuổi già, nhưng vì nghĩa tình đồng đội, nghĩa đồng bào mà vẫn ngày đêm chăm lo cho các nạn nhân chất độc da cam.

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (đứng thứ ba từ trái sang) cùng các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội nhận hoa chúc mừng tại Lễ trao Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập. (Ảnh: Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp)

Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp (đứng thứ ba từ trái sang) cùng các đồng chí lão thành cách mạng, tướng lĩnh quân đội nhận hoa chúc mừng tại Lễ trao Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập. (Ảnh: Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp)

Câu nói ấy đã khái quát con người cũng như đức hy sinh của Thượng tướng. Mẹ của ông không có tên trong danh sách được phong Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Bà cũng không chờ được đến ngày ông thực hiện lời dặn dò, “trách móc” năm xưa. Bà mất năm 1986, với tấm chăn khâm liệm là di vật của cậu con út, liệt sĩ Đặng Vũ Tân. 

Mãi đến năm 1996, Thượng tướng mới tìm được hài cốt em trai ở Nghĩa trang Trường Sơn và đưa về nằm cạnh mẹ ở nghĩa trang quê hương. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, mẹ vẫn dang tay đón các con vào lòng, hòa tan vào đất nước.

Ngày xuất bản: Tháng 7/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật - Ngọc Diệp - Ngọc Duy - Công Lý - Đức Lương
Ảnh: Thành Đạt, Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp
(Bài viết có sử dụng tư liệu của Media 21 và Bảo tàng Đặng Vũ Hiệp. Một số thiết kế có sử dụng AI)
Kỳ tới: Có những người lính chưa từng nhìn thấy biển