CHUYỂN ĐỔI XANH, YÊU CẦU CẤP THIẾT

Tăng trưởng công nghiệp trong giai đoạn mới không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô sản xuất, sử dụng nhiều năng lượng và tài nguyên. Các doanh nghiệp ngày càng phải đáp ứng những yêu cầu mới về dấu chân carbon, sử dụng năng lượng tái tạo, quản lý chất thải và minh bạch dữ liệu môi trường.

Công ty TNHH Juki Việt Nam đóng trong Khu chế xuất Tân Thuận sử dụng điện năng lượng mặt trời để giảm khí thải carbon.

Công ty TNHH Juki Việt Nam đóng trong Khu chế xuất Tân Thuận sử dụng điện năng lượng mặt trời để giảm khí thải carbon.

Sức ép này đến trực tiếp từ những thị trường lớn như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và từ chính các tập đoàn đa quốc gia trong chuỗi cung ứng. Một doanh nghiệp muốn giữ đơn hàng không chỉ cần chứng minh năng lực sản xuất, mà còn phải chứng minh quá trình sản xuất đáp ứng những tiêu chuẩn bền vững ngày càng chặt chẽ.

Với Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu ấy càng rõ nét khi không gian công nghiệp sau hợp nhất đã hình thành một chuỗi tương đối hoàn chỉnh: công nghiệp công nghệ cao, điện tử ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh cũ; chế biến chế tạo, công nghiệp hỗ trợ ở Bình Dương cũ; năng lượng, luyện kim, hóa chất gắn với cảng biển ở Bà Rịa-Vũng Tàu cũ.

Đây là lợi thế lớn về cấu trúc công nghiệp, nhưng cũng đồng nghĩa Thành phố phải giải bài toán phát thải trên một không gian rộng hơn.

Thành phố Hồ Chí Minh sau hợp nhất đã tạo lập nền tảng chuỗi giá trị công nghiệp tích hợp và nâng cao hiệu quả điều phối phát triển ở quy mô vùng đô thị. Trong không gian mới, ba khu vực chuyên môn hóa và bổ sung cho nhau đã hình thành ba trụ cột: công nghiệp công nghệ cao-điện tử (Thành phố Hồ Chí Minh cũ); chế biến chế tạo-công nghiệp hỗ trợ (Bình Dương cũ); và năng lượng-luyện kim-hóa chất gắn với cảng biển (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ). Rất ít vùng kinh tế ở Việt Nam đồng thời sở hữu đầy đủ cả ba nhóm ngành này nhưng cũng đặt ra thách thức lớn về môi trường.

Nhà máy sản xuất nhựa HDPE tại Khu công nghiệp Hiệp Phước.

Nhà máy sản xuất nhựa HDPE tại Khu công nghiệp Hiệp Phước.

Việc mở rộng không gian phát triển sau hợp nhất ba địa phương càng làm cho yêu cầu này trở nên cấp thiết, bởi Thành phố vừa là trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước, vừa hội tụ những nguồn phát thải khí nhà kính tập trung nhất. Trong kỷ nguyên phát triển mới, Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước câu hỏi lớn: chuyển đổi bằng cách nào, bằng nguồn lực nào và bắt đầu từ đâu.

Toàn cảnh nhà xưởng trong khu công nghiệp

Hệ thống Khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

  • 67 Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thành lập
  • 58 khu đang hoạt động
  • 80% tỷ lệ lấp đầy
  • Hơn 5.300 dự án được thu hút

Nguồn: Ban Quản lý các Khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HEPZA).

BÀI TOÁN KÉP CHO CHUYỂN ĐỔI XANH

Đối với chuyển đổi xanh tại các Khu công nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được những bước tiến ban đầu. Khu vực công nghiệp đã bắt đầu chuyển dịch theo hướng sử dụng hiệu quả tài nguyên và giảm phát thải; một số tiêu chí như hiệu quả sử dụng điện năng, kiểm soát phát thải và áp dụng công nghệ sạch đã đạt mức "thực thi" ở một bộ phận doanh nghiệp.

Công ty TNHH Giấy Xuân Mai áp dụng mô hình sản xuất “kinh tế tuần hoàn” nhằm tiết kiệm tối đa nguyên nhiên liệu, giảm tới mức thấp nhất chất thải phát sinh.

Công ty TNHH Giấy Xuân Mai áp dụng mô hình sản xuất “kinh tế tuần hoàn” nhằm tiết kiệm tối đa nguyên nhiên liệu, giảm tới mức thấp nhất chất thải phát sinh.

Khu công nghiệp Hiệp Phước là một trong những trường hợp đáng chú ý. Chương trình thí điểm chuyển đổi sang mô hình Khu công nghiệp sinh thái với sự hỗ trợ của UNIDO giúp các doanh nghiệp tham gia cắt giảm gần 23.000 tấn CO2 mỗi năm và tiết kiệm khoảng 66 tỷ đồng chi phí sản xuất.

Ở Bình Dương cũ, một số Khu công nghiệp như VSIP I và II đã đạt chứng chỉ Khu công nghiệp sinh thái của UNIDO, với mức giảm khoảng 25% năng lượng và 30% nước thải. Tại Khu công nghiệp Phú Mỹ, hệ thống quản lý thông minh giúp giảm khoảng 15% năng lượng tiêu thụ.

Các Khu công nghiệp VSIP I và VSIP II tại Bình Dương đã được Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) chứng nhận đạt chuẩn Khu công nghiệp sinh thái, giúp tiết kiệm khoảng 25% năng lượng và 30% nước thải.

Các Khu công nghiệp VSIP I và VSIP II tại Bình Dương đã được Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) chứng nhận đạt chuẩn Khu công nghiệp sinh thái, giúp tiết kiệm khoảng 25% năng lượng và 30% nước thải.

Tuy nhiên, thực trạng vẫn còn nhiều hạn chế, việc sử dụng năng lượng tái tạo, tái sử dụng nước thải, tái chế chất thải rắn và áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế (ISO 14001, ISO 50001) còn thấp. Các mô hình cộng sinh công nghiệp và kinh tế tuần hoàn mới ở giai đoạn khởi động chứ chưa trở thành xu hướng phổ biến.

Xét về góc độ phát thải, cơ cấu công nghiệp của Thành phố đang dịch chuyển theo hướng phát thải thấp hơn: phần lớn giá trị sản phẩm công nghiệp thuộc nhóm phát thải trung bình và thấp. Trong khi đó, nhóm phát thải rất cao tuy chiếm tỷ trọng giá trị nhỏ nhưng tập trung phần lớn lượng phát thải và gọn về mặt địa lý, tập trung ở khu vực ven biển và một phần khu vực phía bắc.

Cơ sở sản xuất công nghiệp

Phát thải theo cơ cấu giá trị sản phẩm

Biểu đồ cung bán nguyệt thể hiện tỷ trọng bốn mức phát thải: rất cao 12,07%, cao 18,71%, trung bình 43,02%, thấp 26,20% Tỷ trọng
Mức phát thải Tỷ trọng
Rất cao
12,07%
Cao
18,71%
Trung bình
43,02%
Thấp
26,20%

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, nhóm phát thải rất cao chiếm tỷ trọng giá trị sản phẩm nhỏ nhưng tập trung phần lớn lượng phát thải và tương đối gọn về mặt địa lý, chủ yếu ở khu vực ven biển và một phần phía bắc.

Trong khi đó, lượng lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ trong các ngành điện tử, dệt may, da giày, thực phẩm, nhựa, cơ khí lại phân tán trên nhiều địa bàn. Đây là nhóm chịu sức ép trực tiếp từ CBAM (Cơ chế Điều chỉnh biên giới carbon) và yêu cầu ESG của bên mua, nhưng cũng là nhóm có khả năng giảm phát thải tương đối nhanh thông qua những giải pháp như điện mặt trời mái nhà, điện khí hóa, nâng hiệu suất năng lượng và kinh tế tuần hoàn.

Nhiều doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Tân Tạo, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng điện mặt trời áp mái.

Nhiều doanh nghiệp tại Khu công nghiệp Tân Tạo, Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng điện mặt trời áp mái.

Vì vậy, theo cách tiếp cận của Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, xanh hóa Khu công nghiệp phải đồng thời giải hai bài toán.

Một là bài toán tập trung, với các ngành công nghiệp nặng như lọc hóa dầu, luyện kim, hóa chất. Đây là nhóm cần nguồn tài chính chuyển đổi có mục tiêu cho từng cơ sở.

Hai là bài toán phân tán, với hàng nghìn doanh nghiệp vừa và nhỏ cần những giải pháp có chi phí đầu tư phù hợp, thời gian hoàn vốn ngắn và dễ triển khai.

KHƠI THÔNG DÒNG VỐN XANH

Theo định hướng của Thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 2030, khoảng 20% Khu công nghiệp sẽ triển khai mô hình sinh thái và con số này tăng lên khoảng 30% vào năm 2035. Đến năm 2030, toàn bộ Khu công nghiệp và cụm công nghiệp sẽ được định hướng lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà, bảo đảm ít nhất 20% điện tiêu thụ đến từ năng lượng tái tạo. Thành phố đồng thời đặt yêu cầu tăng tỷ lệ cơ sở áp dụng công nghệ sạch, mở rộng cộng sinh công nghiệp, tái chế chất thải rắn, tái sử dụng nước thải và áp dụng các tiêu chuẩn ISO.

Nhiều doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh từng bước chuyển đổi mô hình điện mặt trời áp mái.

Nhiều doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh từng bước chuyển đổi mô hình điện mặt trời áp mái.

Để thực hiện những mục tiêu này, nhu cầu vốn là rất lớn. Nhưng vốn không phải điểm nghẽn duy nhất. Chuyển đổi một Khu công nghiệp theo định hướng Net Zero liên quan đến nhiều hạng mục, từ nâng cấp hệ thống năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo, chuyển đổi nhiên liệu đến xử lý và tuần hoàn nước, quản lý chất thải, số hóa hệ thống đo đếm, xây dựng dữ liệu phát thải và sử dụng vật liệu phát thải thấp.

Trong khi đó, nhiều dự án xanh có vốn đầu tư ban đầu lớn và thời gian hoàn vốn dài hơn những dự án thương mại thông thường.

Điểm đáng chú ý là nhiều dự án xanh quy mô nhỏ nếu được tập hợp ở cấp phân khu hoặc cụm Khu công nghiệp có thể tạo ra quy mô tài chính lớn hơn, đồng thời chia sẻ được chi phí giao dịch và chuẩn hóa hồ sơ.

Nhiều doanh nghiệp trong Khu chế xuất Tân Thuận đã hợp tác với các nhà thầu cơ điện và năng lượng mặt trời để triển khai các hệ thống công suất từ vài chục kWp đến hàng trăm kWp cho nhà máy.

Nhiều doanh nghiệp trong Khu chế xuất Tân Thuận đã hợp tác với các nhà thầu cơ điện và năng lượng mặt trời để triển khai các hệ thống công suất từ vài chục kWp đến hàng trăm kWp cho nhà máy.

Khi đó, bài toán tài chính xanh không còn đơn giản là doanh nghiệp tìm ngân hàng để vay vốn. Đó là bài toán thiết kế một hệ thống kết nối chính sách, tiêu chuẩn, dữ liệu, công cụ tài chính, cơ chế bảo lãnh, nhà đầu tư và thị trường đầu ra cho tín chỉ carbon hoặc sản phẩm phát thải thấp.

Toàn cảnh khu vực sản xuất công nghiệp

3 điểm nghẽn của doanh nghiệp

  1. Minh hoạ chi phí vốn và tài chính doanh nghiệp

    Chi phí vốn

    Khó tiếp cận nguồn vốn dài hạn với chi phí phù hợp để đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ giảm phát thải.

  2. Minh hoạ tiêu chuẩn phân loại và dữ liệu đo lường, báo cáo

    Tiêu chuẩn và dữ liệu

    Thiếu tiêu chí phân loại xanh, dữ liệu phát thải và hệ thống đo lường, báo cáo, thẩm định khiến các định chế tài chính khó đánh giá rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn.

  3. Minh hoạ dự án năng lượng tái tạo quy mô nhỏ tại doanh nghiệp

    Quy mô dự án

    Nhiều hạng mục xanh tại từng doanh nghiệp có quy mô nhỏ, chi phí giao dịch cao, chưa đủ hấp dẫn với các nhà đầu tư quốc tế.

TỪ CHÍNH SÁCH ĐẾN MỘT KIẾN TRÚC TÀI CHÍNH

Định hướng chuyển đổi xanh đã được xác định trong văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, trong đó đặt ra yêu cầu chuyển đổi các Khu công nghiệp, khu chế xuất hiện hữu sang mô hình sinh thái và thông minh hướng tới Net Zero; ưu tiên điện mặt trời mái nhà, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kiểm kê khí nhà kính và xây dựng đề án chuyển đổi kép số-xanh.

Tuy nhiên, để những mục tiêu này đi vào thực tế, các chính sách hỗ trợ cũng cần được cụ thể hóa.

Toàn cảnh cơ sở công nghiệp

Những hạn chế trong chính sách phát triển công nghiệp

  1. Chưa có tiêu chí định lượng về giảm phát thải

  2. Danh mục ưu tiên còn rộng, dẫn đến dàn trải nguồn lực

  3. Chưa có cơ chế ưu đãi riêng cho dự án xanh

  4. Thiếu cơ chế đánh giá ESG và Net Zero

  5. Thiếu cơ chế theo dõi kết quả môi trường sau đầu tư

  6. Khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn thấp

Nguồn: Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh

Từ thực tế đó, một mô hình tài chính xanh cấp phân khu có thể trở thành hướng đi để Thành phố chuyển từ chủ trương sang những dự án cụ thể. Mô hình này gồm bốn lớp: xác định danh mục dự án xanh ưu tiên; chuẩn hóa hồ sơ tài chính và môi trường; thiết kế cấu trúc vốn phù hợp; giám sát, báo cáo và tái đầu tư.

Quan trọng hơn, quá trình thí điểm phải có khả năng đo lường kết quả. Một Khu công nghiệp được gọi là xanh không thể chỉ dựa trên danh mục công nghệ được đầu tư, mà phải chứng minh được mức giảm phát thải, mức tiết kiệm năng lượng, tỷ lệ tái sử dụng tài nguyên và hiệu quả sử dụng vốn.

Thành phố sẽ từng bước tái cơ cấu sản xuất các Khu công nghiệp hướng tới sử dụng công nghệ cao, giảm phát thải, ít thâm dụng lao động qua đó thực hiện lộ trình tiến tới phát thải ròng bằng 0, Net Zero vào năm 2050.

Thành phố sẽ từng bước tái cơ cấu sản xuất các Khu công nghiệp hướng tới sử dụng công nghệ cao, giảm phát thải, ít thâm dụng lao động qua đó thực hiện lộ trình tiến tới phát thải ròng bằng 0, Net Zero vào năm 2050.

Sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có một lợi thế hiếm có khi sở hữu chuỗi công nghiệp tương đối đầy đủ từ công nghệ cao, điện tử, chế biến chế tạo đến năng lượng, luyện kim, hóa chất và cảng biển. Nhưng chính quy mô đó cũng khiến yêu cầu chuyển đổi trở nên cấp thiết hơn.

Xanh hóa Khu công nghiệp không chỉ nhằm giảm áp lực lên môi trường. Đó còn là cách doanh nghiệp giữ đơn hàng, đáp ứng yêu cầu của thị trường, tiếp cận dòng vốn mới và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi đó, chuyển đổi xanh không chỉ là chi phí phải bỏ ra để đáp ứng các yêu cầu môi trường. Nó đã trở thành một phần của năng lực cạnh tranh mới, giúp hệ thống công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh thích ứng với những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường toàn cầu.

Chỉ đạo sản xuất: Lê Nam Tư
Tổ chức sản xuất: Tùng Quang
Nội dung: Cao Tân, Thảo Du
Ảnh: Tùng Anh, Thế Anh
Trình bày: Tùng Anh
(Bài có sử dụng hình ảnh AI trong thiết kế)