Tăng trưởng 2 con số: Lựa chọn lịch sử để Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 đã được xác định rõ trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Mục tiêu tăng trưởng 2 con số trở lên trong giai đoạn 2026-2030 cũng đã được cụ thể hóa bằng các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp. Tuy nhiên, giữa mục tiêu và hiện thực luôn có một khoảng cách. Khoảng cách đó chỉ có thể được thu hẹp bằng cải cách mạnh mẽ về thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng, khơi thông hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế và năng lực tổ chức thực hiện của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội.
CẢI CÁCH ĐỂ MỞ ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
Có những thời điểm, lựa chọn con đường phát triển quan trọng hơn tốc độ phát triển. Với Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030 không đơn thuần là một chỉ tiêu kinh tế. Đây là lựa chọn chiến lược nhằm tạo thêm nguồn lực để đất nước bứt phá, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến gần mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Bối cảnh hiện nay cũng rất khác so gần bốn thập niên trước. Những lợi thế từng tạo nên tốc độ tăng trưởng cao như lao động chi phí thấp, khai thác tài nguyên hay mở rộng đầu tư đang dần thu hẹp. Trong khi đó, cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất lao động và chất lượng quản trị.
Điều đó đòi hỏi Việt Nam phải chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào chất lượng, hiệu quả và năng suất. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Kết luận số 18-KL/TW, với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Văn kiện đồng thời xác định hệ thống nhiệm vụ và giải pháp đồng bộ cho giai đoạn 2026-2030.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu biểu quyết thông qua chương trình Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV, ngày 20/7/2026. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu biểu quyết thông qua chương trình Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV, ngày 20/7/2026. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Nếu Kết luận số 18-KL/TW xác định phương hướng chiến lược thì Nghị quyết số 169/NQ-CP của Chính phủ đã cụ thể hóa thành chương trình hành động với nhiệm vụ và trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương. Điều này cho thấy mục tiêu tăng trưởng không còn là nhiệm vụ của riêng một lĩnh vực, mà đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ trong toàn bộ nền kinh tế.
Điểm chung trong các văn kiện, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, đó là vấn đề cải cách thể chế luôn được đặt lên hàng đầu. Sau nhiều năm đổi mới, dư địa tăng trưởng lớn nhất của Việt Nam không còn nằm ở việc bổ sung thêm vốn hay khai thác thêm tài nguyên, mà ở khả năng khơi thông những nguồn lực đang bị cản trở bởi cơ chế, chính sách và khâu tổ chức thực hiện.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội, đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII, cho rằng mục tiêu tăng trưởng hai con số hoàn toàn khả thi nếu Việt Nam thực hiện quyết liệt cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Điều quan trọng hiện nay không phải là thiếu nguồn lực, mà là tạo được cơ chế để các nguồn lực được phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn. Khi khu vực tư nhân được tạo điều kiện phát triển, nguồn lực công được dẫn dắt đúng hướng và thị trường vận hành minh bạch, nền kinh tế sẽ có thêm dư địa để tăng trưởng nhanh, đồng thời vẫn giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
Thực tế cho thấy, những địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm đều có điểm chung là môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, thủ tục hành chính được đơn giản hóa, hạ tầng được đầu tư đồng bộ và bộ máy điều hành chủ động, linh hoạt. Điều đó cho thấy, thể chế không còn là vấn đề mang tính lý luận mà đã trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của từng địa phương và của cả nền kinh tế.
Tiến sĩ Trần Văn. Ảnh: NVCC
Tiến sĩ Trần Văn. Ảnh: NVCC
Tại hội thảo “Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân tổ chức mới đây, các chuyên gia, nhà quản lý và đông đảo đại diện các doanh nghiệp đều thống nhất quan điểm: Cải cách thể chế phải là khâu đột phá của giai đoạn phát triển mới. Khi doanh nghiệp còn mất nhiều thời gian cho thủ tục, dự án còn chậm vì quy định chồng chéo và nguồn lực xã hội chưa được khơi thông, chính nền kinh tế sẽ phải gánh chi phí. Vì vậy, cải cách thể chế không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp mà còn trực tiếp góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí và mở rộng dư địa tăng trưởng.
Hội thảo “Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Bảo Long
Hội thảo “Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp” do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Bảo Long
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tích lũy được nhiều nguồn lực cho phát triển. Điều cần làm lúc này là tạo cơ chế để các nguồn lực ấy được vận hành thông suốt, phân bổ đúng nơi tạo ra giá trị cao nhất và sử dụng hiệu quả nhất. Khi những điểm nghẽn về thể chế được tháo gỡ, quyết tâm cải cách sẽ được chuyển hóa thành động lực phát triển, tạo nền tảng cho chặng đường hướng tới mục tiêu năm 2045.
ĐỘNG LỰC MỚI CHO CHẶNG ĐƯỜNG MỚI
Nếu cải cách thể chế mở ra không gian phát triển thì khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp sẽ quyết định nền kinh tế có tận dụng được không gian ấy hay không. Đây cũng là điểm khác biệt của mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới.
Trong nhiều năm, tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào mở rộng đầu tư, khai thác các lợi thế sẵn có và gia tăng quy mô lao động. Mô hình này đã góp phần đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới và duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên, khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn, dư địa của các động lực truyền thống dần thu hẹp, trong khi yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp thiết.
Yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp thiết. Ảnh: Hòa Phát
Yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh ngày càng trở nên cấp thiết. Ảnh: Hòa Phát
Chính vì vậy, Kết luận số 18-KL/TW xác định chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).
Những mục tiêu như TFP đóng góp trên 55% vào tăng trưởng hay kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP không chỉ là những chỉ tiêu định lượng mà còn thể hiện định hướng phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất.
Kết luận số 18-KL/TW xác định chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP).
Theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, giảng viên Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, khi dư địa tăng trưởng từ vốn và lao động không còn nhiều, năng suất sẽ là yếu tố quyết định khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn. Muốn nâng tỷ trọng đóng góp của TFP, Việt Nam phải đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới quản trị doanh nghiệp, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nền kinh tế.
Theo ông Điền, năng suất không chỉ được tạo ra trong nhà máy hay trên dây chuyền sản xuất. Một quy trình được số hóa, một công nghệ mới được ứng dụng, một quyết định quản trị đúng hay một thủ tục hành chính được cắt giảm đều góp phần nâng cao năng suất. Điều đó cho thấy nâng cao TFP không phải nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp hay ngành khoa học và công nghệ, mà đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ trong quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực.
Nâng cao TFP không phải nhiệm vụ của riêng doanh nghiệp hay ngành khoa học và công nghệ, mà đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ trong quản trị quốc gia, quản trị doanh nghiệp và phát triển nguồn nhân lực.
Nếu TFP phản ánh chất lượng tăng trưởng thì doanh nghiệp chính là chủ thể trực tiếp tạo ra chất lượng ấy. Vì vậy, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, hình thành các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu là yêu cầu xuyên suốt trong các chủ trương phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Ở góc nhìn khác, với quan điểm tăng trưởng hai con số sẽ khó bền vững nếu doanh nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào lợi thế chi phí thấp hoặc gia công đơn giản, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính-Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng, trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bán dẫn và chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức sản xuất trên toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn cho nghiên cứu, công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh.
Điều Việt Nam cần không chỉ là tăng nguồn lực cho nghiên cứu mà còn xây dựng môi trường thể chế khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận những rủi ro có kiểm soát và bảo vệ những người dám đổi mới vì lợi ích chung.
Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo luôn đi cùng rủi ro. Vì vậy, điều Việt Nam cần không chỉ là tăng nguồn lực cho nghiên cứu mà còn xây dựng môi trường thể chế khuyến khích thử nghiệm, chấp nhận những rủi ro có kiểm soát và bảo vệ những người dám đổi mới vì lợi ích chung. Khi đó, khoa học và công nghệ mới thực sự trở thành động lực phát triển thay vì chỉ dừng ở các chủ trương, định hướng.
Phải nâng cao kỹ năng lao động, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Trần Hải
Phải nâng cao kỹ năng lao động, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Trần Hải
Một động lực quan trọng khác là chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam đang ở giai đoạn cuối của thời kỳ cơ cấu dân số vàng - lợi thế sẽ không kéo dài. Theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, nếu không tận dụng giai đoạn này để nâng cao kỹ năng lao động, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị cho quá trình già hóa dân số, lợi thế về quy mô lao động sẽ nhanh chóng suy giảm. Khi đó, nền kinh tế sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc duy trì tăng trưởng.
Kiến tạo động lực tăng trưởng mới không chỉ là phát triển thêm một số ngành công nghệ cao hay tăng đầu tư cho nghiên cứu. Quan trọng hơn là xây dựng một hệ sinh thái phát triển, trong đó thể chế khuyến khích đổi mới, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho công nghệ, các trường đại học và viện nghiên cứu gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của thị trường, còn nguồn nhân lực được chuẩn bị để thích ứng với nền kinh tế số.
Đó cũng là bước chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa trên các lợi thế sẵn có sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và năng suất. Một nền kinh tế muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm không thể chỉ mở rộng quy mô sản xuất mà phải liên tục tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.
Khi những động lực mới được hình thành và phát huy hiệu quả, mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ có nền tảng vững chắc hơn, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế trong dài hạn.
BIẾN QUYẾT TÂM THÀNH KẾT QUẢ
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, một chiến lược đúng chưa đủ để tạo nên thành công. Điều quyết định là sự kiên định trong cải cách và tính nhất quán trong tổ chức thực hiện. Khi mục tiêu đã được xác lập, mọi cấp, mọi ngành phải cùng hành động, không để những rào cản về cơ chế hay tư duy nhiệm kỳ làm chậm bước phát triển. Tinh thần đó được thể hiện trong Kết luận số 18-KL/TW, với yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 169/NQ-CP đã giao rõ mục tiêu, nhiệm vụ và tiến độ thực hiện cho từng bộ, ngành, địa phương, tạo cơ sở để các chủ trương lớn được triển khai thống nhất trong thực tiễn.
Nghị quyết số 169/NQ-CP đã giao rõ mục tiêu, nhiệm vụ và tiến độ thực hiện cho từng bộ, ngành, địa phương, tạo cơ sở để các chủ trương lớn được triển khai thống nhất trong thực tiễn.
Theo Tiến sĩ Trần Văn, cải cách thể chế chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng đổi mới trong tổ chức thực hiện. Một chính sách đúng nhưng triển khai chậm hoặc thiếu đồng bộ sẽ làm giảm hiệu quả và gia tăng chi phí cho nền kinh tế. Vì vậy, cùng với việc hoàn thiện cơ chế, cần xây dựng một môi trường quản trị minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.
Trong hành trình đó, doanh nghiệp là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải và hiện thực hóa các động lực tăng trưởng mới. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp không thể tiếp tục dựa vào những lợi thế cũ mà cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Đây cũng là con đường để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp không thể tiếp tục dựa vào những lợi thế cũ mà cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Ảnh: Thành Đạt
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp không thể tiếp tục dựa vào những lợi thế cũ mà cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị. Ảnh: Thành Đạt
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp không thể tiếp tục dựa vào những lợi thế cũ mà cần đầu tư nhiều hơn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản trị.
Song, Tiến sĩ Trần Văn cũng nêu rõ, doanh nghiệp không thể phát triển nếu thiếu một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và thị trường cần được kết nối chặt chẽ hơn để khoa học, công nghệ nhanh chóng đi vào sản xuất, còn nguồn nhân lực được đào tạo sát với nhu cầu của nền kinh tế. Đặc biệt, con người cũng là yếu tố quyết định của quá trình phát triển. Lợi thế dân số vàng sẽ không còn kéo dài, vì vậy đầu tư cho giáo dục, đào tạo kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cần được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược tăng trưởng. Khi người lao động có tri thức, kỹ năng và khả năng thích ứng với công nghệ mới, năng suất của nền kinh tế mới được nâng lên một cách bền vững.
Doanh nghiệp không thể phát triển nếu thiếu một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và thị trường cần được kết nối chặt chẽ hơn để khoa học, công nghệ nhanh chóng đi vào sản xuất, còn nguồn nhân lực được đào tạo sát với nhu cầu của nền kinh tế.
Chia sẻ với quan điểm đã được đưa ra và thống nhất tại Hội thảo “Tăng trưởng hai con số - Động lực từ doanh nghiệp”, Tiến sĩ Trần Văn nhấn mạnh, tăng trưởng hai con số là mục tiêu tất yếu để hướng tới một nền kinh tế phát triển nhanh nhưng bền vững, có năng suất và sức cạnh tranh cao hơn, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội.
Khát vọng phát triển đã được xác lập, mục tiêu cũng đã được lượng hóa bằng những quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước. Phần việc còn lại là biến quyết tâm thành hành động và hành động thành kết quả. Mỗi cải cách được triển khai hiệu quả, mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ, mỗi doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới, mỗi người lao động không ngừng nâng cao tri thức và kỹ năng sẽ góp phần tạo nên sức mạnh cộng hưởng cho nền kinh tế. Khi những động lực tăng trưởng mới được khơi thông và phát huy hiệu quả, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 sẽ có nền tảng vững chắc để trở thành hiện thực.
Ngày xuất bản: 10/2026
Thực hiện: Hồng Vân - Minh Phương - Quỳnh Trang - Bảo Minh - Khánh Giang
Ảnh: Thành Đạt - Tùng Lâm