Tăng trưởng 2 con số: Lựa chọn lịch sử để Việt Nam bứt phá đến năm 2045
Bứt phá với mức tăng trưởng cao liên tiếp trong nhiều năm, các cực tăng trưởng không chỉ khẳng định sức mạnh nội tại mà còn đang trở thành đầu tàu kéo nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số. Hơn cả những lợi thế sẵn có, chính vai trò kiến tạo của địa phương và tinh thần chủ động, dám nghĩ dám làm là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
DẤU ẤN CHUYỂN ĐỔI
TỪ NHỮNG CỰC TĂNG TRƯỞNG
TIÊN PHONG
Năm 2025, tăng trưởng GDP của cả nước đạt 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Đóng góp vào kết quả đó, Quảng Ninh dẫn đầu các tỉnh, thành phố với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GRDP) của tỉnh đạt 11,89%. Hải Phòng xếp thứ hai với 11,81% và Bắc Ninh tăng trưởng đều đặn là 10,27%.
Là những cực tăng trưởng lớn trong nước, cả 3 tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng và Bắc Ninh đều để lại những dấu ấn đậm nét trong tổ chức thực hiện công tác quy hoạch, huy động nguồn lực và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Không còn phụ thuộc nhiều vào khai khoáng, Quảng Ninh đã từng bước thay đổi mô hình tăng trưởng địa phương, đột phá tư duy, mở rộng không gian phát triển. Trước những năm 2020, đã có tới 7 quy hoạch chiến lược của tỉnh, tầm nhìn đến năm 2030 do đơn vị tư vấn có năng lực, uy tín trong nước và quốc tế như công ty McKinsey (Hoa Kỳ), Công ty Nikken Sekkei (NSC Nhật Bản) đảm nhiệm. Trên cơ sở đó, quy hoạch tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã hoàn thành.
Đáng chú ý, linh hoạt trong thực hiện, triển khai mục tiêu đặt ra, Quảng Ninh đã áp dụng hình thức đầu tư PPP với các mô hình “đầu tư công - quản lý tư”, “đầu tư tư - sử dụng công” hiện thực chủ trương lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư, hóa giải điểm nghẽn về hạ tầng. Cao tốc Hạ Long-Hải Phòng, Hạ Long-Vân Đồn-Móng Cái, sân bay quốc tế Vân Đồn gắn với phát triển Khu kinh tế Vân Đồn … nhanh chóng được hình thành đã giúp Quảng Ninh tạo ra lợi thế kết nối toàn tỉnh và với các tỉnh khác, đồng thời tạo ra hạ tầng đồng bộ để thu hút mạnh mẽ đầu tư.
Cũng đi trước một bước, Hải Phòng với thế mạnh về cảng biển, đã triển khai đồng bộ quy hoạch phát triển thành phố gắn với quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng; quy hoạch phát triển kinh tế biển; quy hoạch hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế đồng thời kết hợp quy hoạch đô thị-công nghiệp-cảng biển trong một chỉnh thể thống nhất.
Hải Phòng tập trung đầu tư hạ tầng giao thông chiến lược (Cao tốc Hà Nội-Hải Phòng; Cầu Tân Vũ-Lạch Huyện; Hệ thống cảng biển nước sâu...), gắn phát triển khu công nghiệp với cảng biển và hạ tầng logistics đồng bộ, giúp Hải Phòng đạt tăng trưởng cao liên tiếp từ năm 2016.
Khác với Quảng Ninh và Hải Phòng, Bắc Ninh không có biển nhưng có lợi thế về công nghiệp nên đã quy hoạch tập trung vào phát triển công nghiệp điện tử, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và thu hút có chọn lọc các dự án FDI quy mô lớn, đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước.
Bắc Ninh đã thành công trong việc thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, thu hút mạnh FDI trong lĩnh vực điện tử, công nghệ cao, tăng cường kết nối và phát huy tác động lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước; trở thành một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn FDI.
Dù có hướng đi khác nhau nhưng các tỉnh này đã thành công trong việc đổi mới mô hình tăng trưởng ngay từ sớm, không phụ thuộc vào thâm dụng lao động mà phát triển dựa trên đổi mới, sáng tạo.
Quảng Ninh xác định tăng chi cho khoa học công nghệ với hơn 2.300 tỷ đồng trong giai đoạn 2020-2025, đầu tư khoảng 185 tỷ đồng cho đổi mới sáng tạo năm 2025. Từ đó giúp Quảng Ninh chủ động chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nâu” sang “xanh”, từ phụ thuộc vào khai thác than sang dịch vụ, du lịch chất lượng cao; công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh tế biển và kinh tế cửa khẩu; tăng trưởng xanh và bền vững.
Ở một hướng đi khác, Hải Phòng chuyển mạnh sang công nghiệp công nghệ cao, logistics và kinh tế biển, kiên định định hướng công nghiệp hiện đại thay vì dàn trải. Bắc Ninh chọn con đường chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, chuyển mạnh sang công nghiệp công nghệ cao, điện tử, bán dẫn.
Bốc xếp container tại cảng Nam Đình Vũ. Ảnh: Trần Hải
Bốc xếp container tại cảng Nam Đình Vũ. Ảnh: Trần Hải
Sự thành công và sức dẫn dắt của các cực tăng trưởng nêu trên không chỉ bắt nguồn từ tài nguyên hay vị trí địa lý sẵn có, mà yếu tố quyết định nằm ở vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương cùng tinh thần chủ động, dám nghĩ, dám làm. Khi các địa phương bứt phá khỏi tư duy thụ động, dũng cảm đổi mới mô hình phát triển, quyết liệt cải cách thể chế và linh hoạt đồng hành cùng doanh nghiệp, từ đó tạo nên cú bứt tốc thần kỳ về tăng trưởng.
Mô hình vươn lên trở thành những cực tăng trưởng của Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh là những bài học quý giá để các địa phương nghiên cứu, tìm hiểu cho con đường tăng trưởng của mình, từ đó hiện thực hóa thành công các mục tiêu chiến lược và khát vọng vươn mình của quốc gia.
ĐÁNH THỨC
NHỮNG KHÔNG GIAN KINH TẾ MỚI
Sáu tháng đầu năm 2026, trên bản đồ tăng trưởng GRDP của Việt Nam, đã xuất hiện những cái tên vươn lên mạnh mẽ. Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, Hà Tĩnh dẫn đầu với tăng trưởng 12,79%, Ninh Bình đạt 11,44%; Hưng Yên 10,72%, Phú Thọ 10,18%, Tây Ninh 10,12%; Thái Nguyên 10,01% … thuộc nhóm 9/34 tỉnh đạt tốc độ tăng GRDP cao trên 10%.
Bên cạnh Quảng Ninh, Hải Phòng hay Bắc Ninh, đã có những cực tăng trưởng mới đang hình thành. Phân tích động cơ tăng trưởng từ một số địa phương tiêu biểu nêu trên, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê, Bộ Tài chính chỉ ra, một số tỉnh tăng trưởng cao nhờ năng lực mới với những dự án mới đã và đang hình thành và đưa vào khai thác.
VinFast Hà Tĩnh được đầu tư trang bị dây chuyền sản xuất hiện đại. Ảnh: Ngô Tuấn
VinFast Hà Tĩnh được đầu tư trang bị dây chuyền sản xuất hiện đại. Ảnh: Ngô Tuấn
Có thể kế đến tại Hà Tĩnh, nhà máy xe máy điện VinFast được đầu tư với tổng vốn hơn 13.250 tỷ đồng, có công suất tối đa 2 triệu xe/năm; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được sửa chữa và hoàn thiện; Khu công nghiệp Vinhomes Vũng Áng có tổng vốn đầu tư hơn 13.276 tỷ đồng, được phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ để thu hút các ngành công nghiệp phụ trợ, ô-tô, logistics và năng lượng sạch. Các ngành công nghiệp chủ lực và dịch vụ-du lịch là lợi thế cạnh tranh của tỉnh, tiếp tục được lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo sát sao, và tạo điểm nhấn giúp Hà Tĩnh giữ vững vai trò là cực tăng trưởng quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ.
Dây chuyền sản xuất hiện đại của công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Phạm Hà
Dây chuyền sản xuất hiện đại của công ty TNHH dệt kim Bangjie Việt Nam, khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Phạm Hà
Hưng Yên - tỉnh có GRDP bứt phá bởi sự góp mặt của các khu công nghiệp được đầu tư bài bản như Thăng Long II, Phố Nối A, Yên Mỹ… đã góp phần thu hút đầu tư nước ngoài FDI đứng thứ 8 cả nước; tổng giá trị sản xuất đạt 417.465 tỷ đồng, tăng 12,5% so cùng kỳ.
Từ một tỉnh có kinh tế thuần nông, Hưng Yên đã khai thác những đặc điểm riêng có nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ để phát triển dịch vụ logistics, phát triển công nghiệp xây dựng. Đến nay tỉnh này đã trở thành địa phương có công nghiệp, thương mại, dịch vụ phát triển, với khát vọng vươn lên trở thành cực tăng trưởng mới của Đồng bằng sông Hồng.
Toàn cảnh khu công nghiệp Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Hòa Phát
Toàn cảnh khu công nghiệp Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Ảnh: Hòa Phát
Bà Mai Hạnh nhận định, các tỉnh, thành phố có nền tảng về công nghiệp, cơ sở hạ tầng được đầu tư bài bản, du lịch và dịch vụ khởi sắc có tăng trưởng tích cực.
Bài học từ các cực tăng trưởng như Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh là rõ nét để các địa phương soi chiếu và chủ động tìm ra con đường riêng của mình. Vai trò kiến tạo của địa phương và tinh thần chủ động, dám nghĩ dám làm là chìa khóa để biến tiềm năng thành kết quả tăng trưởng thực tế.
Từ phía Nhà nước, việc triển khai chính quyền địa phương hai cấp từ 1/7/2025 cũng đã tạo ra cơ chế đột phá mạnh mẽ để phân cấp, phân quyền nhiều hơn cho địa phương.
Theo lãnh đạo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, việc sắp xếp đơn vị hành chính đã tạo ra một động lực mới về thể chế và không gian phát triển. Khi các ranh giới hành chính được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, quy mô địa phương lớn hơn và cơ chế điều hành thống nhất hơn, điều kiện để quy hoạch phát triển vùng, phân bổ nguồn lực, đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư cũng thuận lợi hơn. Đồng thời, việc tinh gọn bộ máy giúp nâng cao hiệu quả quản trị, giảm chi thường xuyên và tạo thêm dư địa để tăng chi đầu tư phát triển.
Việc triển khai chính quyền địa phương hai cấp từ 1/7/2025 cũng đã tạo ra cơ chế đột phá mạnh mẽ để phân cấp, phân quyền nhiều hơn cho địa phương. Trong ảnh: Lễ công bố Nghị quyết sáp nhập đơn vị hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN
Việc triển khai chính quyền địa phương hai cấp từ 1/7/2025 cũng đã tạo ra cơ chế đột phá mạnh mẽ để phân cấp, phân quyền nhiều hơn cho địa phương. Trong ảnh: Lễ công bố Nghị quyết sáp nhập đơn vị hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN
Để động lực này thực sự phát huy hiệu quả trong thời gian tới, phải nhanh chóng biến "không gian hành chính mới" thành "không gian phát triển kinh tế mới". Trọng tâm là đẩy nhanh việc tích hợp quy hoạch, phát triển các hành lang kinh tế, vùng công nghiệp, logistics và đô thị theo lợi thế liên vùng thay vì tư duy phát triển theo địa giới hành chính cũ. Cùng với đó, cần tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, rút ngắn thời gian thực hiện các thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng để các nguồn lực được đưa nhanh vào sản xuất, kinh doanh.
Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Hoàng Diệu tại xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng. Ảnh: Quốc Vinh
Lễ khởi công Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Hoàng Diệu tại xã Gia Phúc, thành phố Hải Phòng. Ảnh: Quốc Vinh
Việc trao quyền nhiều hơn cho các địa phương, tạo ra không gian phát triển mới có tác động không nhỏ giúp các tỉnh chủ động phát triển, chủ động đổi mới mô hình tăng trưởng và khai thác tối đa tiềm năng sẵn có để hình thành thêm những cực tăng trưởng bền vững. Sự trỗi dậy của những cực tăng trưởng mới này mang ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế, không chỉ giúp các địa phương bứt phá, mà còn tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy liên kết vùng.
KHƠI THÔNG MẠCH MÁU LIÊN KẾT CÁC CỰC TĂNG TRƯỞNG
Tại Hội thảo quốc tế với chủ đề về Không gian phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhận định, sau 40 năm Đổi mới, mô hình tăng trưởng theo chiều rộng đã bộc lộ những giới hạn. Việt Nam cần chuyển từ “bản đồ hành chính” sang “bản đồ phát triển” từ quản lý các địa bàn riêng lẻ sang quản trị mạng lưới, hành lang và hệ sinh thái liên kết; từ khai thác không gian hiện hữu sang chủ động kiến tạo các không gian mới dựa trên thể chế, khoa học-công nghệ, dữ liệu và năng lực quản trị.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ảnh: Quỳnh Trang
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Ảnh: Quỳnh Trang
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (2024), chỉ số kết nối liên vùng tại các vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam vẫn ở mức trung bình thấp; làm suy giảm đáng kể lợi thế cạnh tranh và hiệu ứng lan tỏa của cực tăng trưởng.
Soi chiếu vào phạm vi hoạt động của các cực tăng trưởng tại Việt Nam, cho thấy việc phát triển các cực tăng trưởng này cần phải đặt trong tổng thể phát triển vùng với tính liên kết cao.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng quy hoạch ở Việt Nam chủ yếu được xây dựng theo tư duy một bên là quản lý hành chính, một bên là quy hoạch không gian kinh tế-kỹ thuật với các hành lang kinh tế và hệ thống khu công nghiệp. Trong khi đó, các dòng chảy của nền kinh tế lại không vận động theo những đường ranh giới ấy, mà cần phải vượt ra khỏi ranh giới hành chính của từng địa phương và đặt trong cấu trúc phát triển bao trùm, rộng lớn hơn.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Chuyên gia chính sách công, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Các cực tăng trưởng của Việt Nam chưa có tính lan tỏa toàn vùng; có thể thấy khá rõ trong trường hợp của các vùng Thủ đô Hà Nội, vùng Thành phố Hồ Chí Minh về cơ bản đã trở thành các vùng đô thị lớn, đô thị cực lớn, cực tăng trưởng chủ đạo trong cấu trúc tổng thể mạng lưới đô thị quốc gia.
Chúng ta đã có khu vực Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ - là hai trong số những vùng động lực lớn của cả nước, nhưng tại mỗi khu vực chỉ tập trung phát triển ở một vài đơn vị tiêu biểu. Những đơn vị này vẫn vận hành như những không gian phát triển riêng, chưa thực sự phát huy vai trò dẫn dắt sự phát triển đồng đều của toàn vùng kinh tế.
Cao tốc Vân Đồn-Móng Cái. Ảnh: Thành Đạt
Cao tốc Vân Đồn-Móng Cái. Ảnh: Thành Đạt
Việc thiếu các liên kết kinh tế dựa trên chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và phân công sản xuất… đã hạn chế khả năng lan tỏa công nghệ, thị trường và nguồn nhân lực chất lượng cao từ các cực tăng trưởng sang khu vực lân cận.
Chuyên gia chính sách công Nguyễn Quốc Việt đề xuất, thay vì chỉ quy hoạch không gian đất đai cho nhà máy lắp ráp, các địa phương cần triển khai quy hoạch tích hợp “Khu công nghiệp - Đô thị - Logistics - Nhà ở - Dịch vụ - Nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu mới”. Đồng thời, triển khai các Chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa và Nền tảng hợp tác đa bên nhằm giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của các cực tăng trưởng vùng.
Để giải quyết bài toán liên kết địa lý, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt cho rằng cần thúc đẩy hạ tầng kết nối với giao thông công cộng (TOD). Giải quyết được bài toán hạ tầng, gồm các trục giao thông đường bộ cao tốc, tập trung đầu tư, xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao bắc-nam, hệ thống đường sắt đô thị; Ưu tiên phát triển các cảng hàng không lớn… sẽ tạo ra xương sống kết nối cực tăng trưởng và hành lang kinh tế.
"Xương sống kết nối" không chỉ dừng lại ở logistics thuần túy, mà đòi hỏi hạ tầng logistics tích hợp, khu công nghiệp xanh, thông minh, năng lượng sạch cùng với hạ tầng xã hội.
"Xương sống kết nối" không chỉ dừng lại ở logistics thuần túy, mà đòi hỏi hạ tầng logistics tích hợp, khu công nghiệp xanh, thông minh, năng lượng sạch cùng với hạ tầng xã hội.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt phân tích, thực tiễn tại các cực tăng trưởng công nghiệp chế biến-chế tạo cho thấy "xương sống kết nối" không chỉ dừng lại ở logistics thuần túy như đường sắt hay đường bộ, cảng biển, mà một hệ sinh thái cạnh tranh đòi hỏi hạ tầng logistics tích hợp, khu công nghiệp xanh, thông minh, năng lượng sạch cùng với hạ tầng xã hội (nhà ở công nhân, y tế, giáo dục, chăm sóc trẻ em). Việc đảm bảo hạ tầng an sinh xã hội cho lao động di cư chính là điều kiện nền tảng để giữ chân nhân lực kỹ thuật, giảm biến động lao động và duy trì sức kéo bền vững cho các cực tăng trưởng.
Vấn đề quan trọng khác cần được tháo gỡ đó là cơ chế điều phối vùng linh hoạt. Đây được xem là giải pháp đột phá về mặt thể chế để giải quyết bài toán liên kết địa phương.
Hiện nay, thể chế quản trị đô thị chưa theo kịp vai trò và quy mô của các cực tăng trưởng. Việc quản trị các đô thị lớn vẫn chủ yếu dựa trên khung thể chế chung áp dụng cho các địa phương.
Vấn đề quan trọng khác cần được tháo gỡ đó là cơ chế điều phối vùng linh hoạt. Ảnh: Thủy Nguyên
Vấn đề quan trọng khác cần được tháo gỡ đó là cơ chế điều phối vùng linh hoạt. Ảnh: Thủy Nguyên
Lấy ví dụ về sự chậm trễ trong việc triển khai các cơ chế đặc thù cho một số cực tăng trưởng hay các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… trong nhiều năm cho thấy, khi thể chế chưa hoàn thiện sẽ làm giảm khả năng tận dụng lợi thế quy mô, thị trường và đổi mới.
Bài toán về thể chế cần được chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển để giải phóng những nguồn lực chưa được khơi thông, qua đó khiến các cực tăng trưởng phát huy hết tiềm năng trong việc dẫn dắt tăng trưởng quốc gia.
Để các cực tăng trưởng thực sự phát huy sức mạnh dẫn dắt và tạo hiệu ứng lan tỏa toàn vùng, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ hai nhóm giải pháp cốt lõi: Đột phá về hạ tầng và đổi mới về thể chế, tạo bệ phóng vững chắc để các cực tăng trưởng liên kết đưa nền kinh tế quốc gia bứt tốc.
ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG:
BỆ PHÓNG CHO CÁC ĐỊA PHƯƠNG
Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV. (Ảnh: ĐĂNG KHOA)
Nghị quyết 19-NQ/TW (Nghị quyết 19) ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, được Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thông qua. Nghị quyết 19 đã chỉ ra những mô hình tăng trưởng tiên tiến mà bất cứ địa phương nào cũng có thể tìm được mô hình phù hợp để nghiên cứu áp dụng, ví dụ như các không gian mới gồm không gian số, không gian ngầm, không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian thử nghiệm thể chế, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế.
Những quyết sách tại Nghị quyết cũng đưa ra những nhóm giải pháp định hướng để từ đó, các địa phương nhanh chóng xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Quỳnh Trang
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ. Ảnh: Quỳnh Trang
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hải Quân, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, để tăng trưởng, bên cạnh khai thác hiệu quả các nguồn lực và không gian sẵn có, phải chủ động kiến tạo những không gian phát triển mới, tạo ra giá trị mới, năng suất cao hơn và năng lực cạnh tranh lớn hơn. Và khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò đặc biệt trong quá trình này.
Như đã phân tích ở trên, các cực tăng trưởng của Việt Nam như Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh đã sớm nhận diện và đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ phụ thuộc vào vốn, lao động, tài nguyên, gia công sang công nghệ, công nghiệp-dịch vụ chất lượng cao.
Tuy nhiên thực tế tại nhiều địa phương cho thấy, quá trình chuyển dịch từ công nghiệp thâm dụng lao động sang công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ giá trị gia tăng cao diễn ra chậm, khiến lợi thế cạnh tranh của các địa phương vẫn chủ yếu dựa vào quy mô và chi phí, thay vì sáng tạo và năng suất.
Khu sản xuất của Công ty TNHH Bumjin Electronics Vina tại tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Thành Đạt
Khu sản xuất của Công ty TNHH Bumjin Electronics Vina tại tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Thành Đạt
Trên cơ sở đó, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị, Việt Nam cần đổi đơn vị đo lường cốt lõi, các địa phương cần có những tính toán cụ thể về các thành tố quan trọng có tác động lớn vào tăng trưởng của mỗi tỉnh. Trước hết là tăng năng suất lao động, cần đưa lên mức khoảng 8,5%/năm so với mức 5-6% hiện nay; thứ hai là tăng tỷ trọng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 55% (so với mức khoảng 47% hiện nay); cuối cùng là nâng cao chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) ở mức khoảng 6,4 hiện nay xuống còn khoảng 4-4,5 để giảm tỷ lệ sử dụng vốn, tạo ra tăng trưởng GDP .
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị, Việt Nam cần đổi đơn vị đo lường cốt lõi, các địa phương cần có những tính toán cụ thể về các thành tố quan trọng có tác động lớn vào tăng trưởng của mỗi tỉnh. (Đồ họa có sử dụng AI).
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị, Việt Nam cần đổi đơn vị đo lường cốt lõi, các địa phương cần có những tính toán cụ thể về các thành tố quan trọng có tác động lớn vào tăng trưởng của mỗi tỉnh. (Đồ họa có sử dụng AI).
Sự ra đời của Nghị quyết 19-NQ/TW đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, cung cấp lời giải cho bài toán nút thắt tăng trưởng mà nhiều địa phương đang gặp phải. Khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự thâm nhập vào cốt lõi của nền kinh tế, các chỉ số về năng suất và hiệu quả đầu tư sẽ đạt được bước nhảy vọt. Xác định được mô hình tăng trưởng mới không chỉ giúp các địa phương, vùng kinh tế khắc phục triệt để sự phụ thuộc vào lao động giá rẻ hay tài nguyên, mà còn mở ra một chu kỳ phát triển mới, trở thành những cực tăng trưởng quan trọng của đất nước.
Giai đoạn tiếp theo đòi hỏi các cực tăng trưởng phải đóng vai trò tiên phong bứt phá trong chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, thu hút đồng thời lan tỏa đến các địa phương lân cận. Bên cạnh đó, cần có một mô hình quản trị vùng hiệu quả, vượt qua tư duy địa phương để phân bổ nguồn lực và hình thành các chuỗi liên kết giá trị một cách tối ưu nhất. Có như vậy, những cực tăng trưởng sẽ trở thành những lực kéo góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới.
Cao tốc Vân Đồn-Móng Cái. Ảnh: Thành Đạt
Cao tốc Vân Đồn-Móng Cái. Ảnh: Thành Đạt
Bức tranh kinh tế Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển mình mang tính bước ngoặt. Mục tiêu tăng trưởng hai con số sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự bứt phá từ các địa phương, đặc biệt từ các cực tăng trưởng của đất nước.
Những thành tựu bứt phá từ các cực tăng trưởng tiên phong như Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Ninh…, cùng sự trỗi dậy mạnh mẽ của các địa phương mới như Hà Tĩnh hay Hưng Yên…, giúp củng cố niềm tin trong hành trình bước vào giai đoạn tăng trưởng cao.
Sự cộng hưởng giữa nỗ lực tự thân của từng vùng và tầm nhìn vĩ mô của quốc gia sẽ kiến tạo nên mạng lưới các cực tăng trưởng liên kết chặt chẽ, đưa Việt Nam hiện thực hóa khát vọng về một đất nước “tự cường, sáng tạo, nhân văn, phát triển bền vững và hội nhập”.
Sản xuất tại công ty Thép Hòa Phát-Hưng Yên.
Sản xuất tại công ty Thép Hòa Phát-Hưng Yên.
Robot Container tại nhà máy Hòa Phát.
Robot Container tại nhà máy Hòa Phát.
Cảng Cát Lái.
Cảng Cát Lái.
Ngày xuất bản: 9/2026
Thực hiện: Hồng Vân - Quỳnh Trang - Minh Phương - Bảo Minh - Khánh Giang
Bài 1: Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam