KINH TẾ NHÀ NƯỚC:
Làm chủ các “cao điểm chiến lược” để dẫn dắt nền kinh tế
Khi khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, yêu cầu đặt ra đối với khu vực kinh tế nhà nước không chỉ là giữ vai trò chủ đạo, mà còn phải thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, mở đường và kiến tạo những không gian phát triển mới.
Mới đây, ngày 6/7, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã ban hành kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp thứ nhất. Theo đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không phải bằng khẩu hiệu, bao cấp, độc quyền, ưu đãi hành chính hay cơ chế xin - cho. Vai trò này phải được thể hiện bằng năng lực dẫn dắt, điều tiết, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và chi phối những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Khu vực kinh tế nhà nước phải tuân thủ kỷ luật thị trường, kỷ luật tài chính, nâng cao chất lượng quản trị và trách nhiệm giải trình.
Tinh thần ấy đang mở ra một giai đoạn phát triển mới cho kinh tế nhà nước: không còn chỉ là "trụ cột" bảo đảm ổn định vĩ mô, mà phải vươn lên làm chủ những "cao điểm chiến lược" của nền kinh tế - từ hạ tầng số, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao.
Loạt bài "Kinh tế nhà nước: Làm chủ các 'cao điểm chiến lược' để dẫn dắt nền kinh tế" sẽ phân tích những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp nhà nước, nhận diện các rào cản cần tháo gỡ, đồng thời phản ánh những nỗ lực chuyển mình để khu vực kinh tế nhà nước thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên mới.
Không chỉ làm rõ bản chất, vai trò, vị trí của kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 79-NQ/TW còn tái định vị nguồn lực vốn của khu vực kinh tế quan trọng này, tạo ra một sự dịch chuyển quan trọng trong tư duy quản trị: từ quản lý doanh nghiệp sang quản trị toàn bộ nguồn lực vốn và tài sản nhà nước.
Với cách tiếp cận này, doanh nghiệp nhà nước không còn là trung tâm duy nhất, mà trở thành một cấu phần trong tổng thể kinh tế nhà nước khi trở thành công cự quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực vốn nhà nước.
01. Bước chuyển mạnh sang tư duy quản trị nguồn lực
Theo thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính, hiện nay cả nước có 866 doanh nghiệp có vốn nhà nước, trong đó Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tại 500 doanh nghiệp; nắm giữ trên 50% vốn điều lệ tại 203 doanh nghiệp và có 163 doanh nghiệp nhà nước là cổ đông sở hữu dưới 50% vốn điều lệ. Với quy mô của khu vực doanh nghiệp nhà nước rất lớn, khu vực kinh tế nhà nước giữ thị phần chi phối ở nhiều lĩnh vực then chốt như: năng lượng, viễn thông, ngân hàng…, và tiếp tục là trụ cột trong ổn định kinh tế vĩ mô và dẫn dắt các ngành, linh vực nền tảng của nền kinh tế.
Song, quy mô lớn chưa hẳn đã đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực vốn tương xứng. Những hạn chế kéo dài về quản trị doanh nghiệp, kỷ luật đầu tư và bất cập thể chế vẫn là lực cản lớn đối với quá trình đổi mới và phát triển bền vững.
Quy mô lớn chưa hẳn đã đồng nghĩa với năng lực cạnh tranh và hiệu quả sử dụng nguồn lực vố tương xứng.
Báo cáo tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ làm việc với các Chủ tịch, Tổng giám đốc một số tập đoàn, tổng công ty Nhà nước tổ chức vào cuối năm 2025, Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Đức Tâm cũng cho biết, ở thời điểm năm 2024, tổng tài sản của 671 doanh nghiệp nhà nước, với tổng tài sản ước đạt hơn 5,6 triệu tỷ đồng, tổng doanh thu gần 3,3 triệu tỷ đồng, đóng góp hơn 29% GDP của đất nước.
Có lẽ chính vì vậy trong nhiều năm qua, các thảo luận về khu vực kinh tế nhà nước chủ yếu xoay quanh nâng cao hiệu quả mà doanh nghiệp đem lại, xử lý các dự án thua lỗ hay tái cơ cấu các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước lớn. Song cách tiếp cận này phần nào thu hẹp phạm vi của kinh tế nhà nước. Bởi cũng trong năm 2024, lợi nhuận trước thuế của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt khoảng 227.500 tỷ đồng, dù tăng 8% so cùng kỳ năm kề trước đó, nhưng lại thấp hơn đáng kể so tốc độ mở rộng tài sản. Khoản nộp ngân sách gần 400 nghìn tỷ đồng dù tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế nhà nước, song đồng thời cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng sử dụng nguồn lực. Không chỉ vậy, hiệu quả hoạt động của nhiều doanh nghiệp còn thấp, ở thời điểm năm 2023 có tới 134 doanh nghiệp nhà nước còn lỗ lũy kế, với lỗ lũy kế ước khoảng 115.270 tỷ đồng, trong đó, có 72 doanh nghiệp lỗ phát sinh hơn 33.700 tỷ đồng.
Mặt khác, chỉ số an toàn sử dụng vốn (ICOR) không chỉ là những con số thống kê khô khan, mà chính là sự phản ánh rõ nét nhất cho bài toán hiệu quả của kinh tế nhà nước. Việc ICOR của Việt Nam duy trì ở mức cao so các nền kinh tế phát triển, nhất là ở khu vực kinh tế nhà nước đã chỉ ra một thực tế đáng quan ngại: chúng ta đang duy trì tăng trưởng dựa quá lớn vào việc “đổ” thêm vốn thay vì tối ưu hóa năng suất. Đây chính là biểu hiện của sự thâm dụng vốn, một mô hình mà ở đó quy mô tài sản có thể phình to nhanh chóng (tăng 45% trong năm 2024) nhưng lợi nhuận lại không bám đuổi kịp tốc độ đầu tư. Khi nguồn lực quốc gia bị nghẽn lại ở những dự án có hệ số sinh lời thấp hoặc thời gian thu hồi vốn quá dài, năng lực cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế sẽ bị kéo lùi…
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung Ương báo cáo tại Hội nghị quán triệt về Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung Ương báo cáo tại Hội nghị quán triệt về Nghị quyết số 79-NQ/TW.
Nhận thức rõ sự cấp thiết của việc cần có cách tiếp cận mới về nguồn lực vốn của khu vực kinh tế quan trọng này trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW với nội hàm kinh tế nhà nước, nhất là nguồn lực vốn, theo tiếp cận rất mới. Cụ thể, báo cáo tại Hội nghị quán triệt về Nghị quyết số 79-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung Ương, nêu rõ: đây là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, khẳng định kinh tế nhà nước vừa trực tiếp sản xuất, kinh doanh, vừa là nguồn lực vật chất quan trọng.
Đây cũng chính quan điểm mà không ít lần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến khi đặt ra yêu cầu, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm các cân đối lớn, ổn định và điều tiết vĩ mô, đồng thời chiếm lĩnh các “cao điểm chiến lược” của nền kinh tế. Nhưng “cao điểm” chỉ thật sự có ý nghĩa khi được giữ bằng hiệu quả vận hành và năng lực dẫn dắt thực chất, chứ không chỉ bằng quy mô sở hữu.
Thay vì chỉ tập trung vào doanh nghiệp, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chuyển sang tư duy “quản trị tài sản nhà nước” khi đưa ra những khái niệm tổng quát định vị lại khu vực kinh tế nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước chỉ là bộ phận quan trọng nằm ở vị trí trung tâm trong chỉnh thể rộng lớn hơn, bao gồm tài nguyên, ngân sách, hệ thống hạ tầng và các loại tài sản công…
Chỉ ra và phân tích về những điểm mới đáng chú ý tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu chính sách, Trường đại học VinUni nhận định, thay vì chỉ tập trung vào doanh nghiệp, Nghị quyết số 79-NQ/TW đã chuyển sang tư duy “quản trị tài sản nhà nước” khi đưa ra những khái niệm tổng quát định vị lại khu vực kinh tế nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp nhà nước chỉ là bộ phận quan trọng nằm ở vị trí trung tâm trong chỉnh thể rộng lớn hơn, bao gồm tài nguyên, ngân sách, hệ thống hạ tầng và các loại tài sản công…
Và khi nhìn các nguồn lực này trong một tổng thể thống nhất, câu chuyện kinh tế nhà nước không còn dừng lại ở hiệu quả của từng doanh nghiệp, mà nằm ở cách quản trị, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, sự thay đổi trong cách định vị nguồn lực vốn nhà nước nhìn kéo theo cách tiếp cận mới về vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Thực tế, trong thời gian dài, khu vực doanh nghiệp nhà nước luôn phải chịu áp lực lớn về bảo toàn vốn, khiến nhiều doanh nghiệp vận hành thận trọng, ưu tiên an toàn hơn là mở rộng hay đổi mới.
THỰC TRẠNG
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
Phân tích dữ liệu tài chính và hiệu quả hoạt động dựa trên các báo cáo kinh tế.
1. Cơ cấu doanh nghiệp
Nguồn: Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính
866 (doanh nghiệp)
Tổng số có vốn nhà nước
500 (doanh nghiệp)
Nhà nước nắm giữ 100% vốn
203 (doanh nghiệp)
Nhà nước nắm giữ > 50% vốn
163 (doanh nghiệp)
Cổ đông sở hữu < 50% vốn
2. Hiệu quả và quy mô khu vực DN Nhà nước (2024)
Nguồn: Báo cáo của Thứ trưởng Tài chính Nguyễn Đức Tâm tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ làm việc với các Chủ tịch, Tổng giám đốc một số tập đoàn, tổng công ty Nhà nước tổ chức vào cuối năm 2025
doanh nghiệp nhà nước
5,6 triệu
tỷ đồng
Tổng tài sản
3,3 triệu
tỷ đồng
Tổng doanh thu
29%
Đóng góp vào GDP
227.500
tỷ đồng
Lợi nhuận trước thuế
400.000
tỷ đồng
Tổng đóng góp vào ngân sách nhà nước
3. Tình trạng hoạt động và khó khăn
Nguồn: Số liệu tổng hợp báo cáo năm 2023
134 (doanh nghiệp)
lỗ luỹ kế
khoảng 115.270
tỷ đồng
72 (doanh nghiệp)
lỗ phát sinh
33.700
tỷ đồng
Chia sẻ quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, chuyên gia chính sách công (Trường đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội), cho rằng, các nguồn lực của Nhà nước cần được phân bổ theo nguyên tắc thị trường, thông qua các cơ chế minh bạch như đấu thầu, đấu giá, thay vì cơ chế “xin - cho”. Khi các chức năng được tách bạch, nguồn lực được phân bổ minh bạch và cơ chế vận hành theo nguyên tắc thị trường, kinh tế nhà nước mới có thể phát huy vai trò một cách hiệu quả.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, doanh nghiệp cần được tạo điều kiện để chủ động hơn về tài chính, như được giữ lại lợi nhuận sau thuế hoặc nguồn thu từ cổ phần hóa để tái đầu tư, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn cho những lĩnh vực có tính chiến lược. Thực tế, Nghị quyết số 79-NQ/TW không chỉ đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển kinh tế nhà nước, mà quan trọng hơn, mở ra một cơ hội chiến lược để nâng cấp năng lực quản trị quốc gia. Khi năng lực quản trị được nâng cao, kinh tế nhà nước sẽ không còn được đo bằng vai trò hình thức hay quy mô nguồn lực, mà bằng khả năng dẫn dắt, kiến tạo và tạo dựng niềm tin cho toàn bộ nền kinh tế.
Nghị quyết số 79/NQ-TW
không chỉ đặt ra những yêu cầu mới đối với phát triển kinh tế nhà nước, mà quan trọng hơn, mở ra một cơ hội chiến lược để nâng cấp năng lực quản trị quốc gia. Khi năng lực quản trị được nâng cao, kinh tế nhà nước sẽ không còn được đo bằng vai trò hình thức hay quy mô nguồn lực, mà bằng khả năng dẫn dắt, kiến tạo và tạo dựng niềm tin cho toàn bộ nền kinh tế.
02. Khỏa lấp các “khoảng trống” pháp lý, định hình lại “luật chơi”
Trước năm 2010, việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thực hiện theo Luật Doanh nghiệp nhà nước (năm 1995 và 2003), các văn bản hướng dẫn và một số luật liên quan.
Từ ngày 1/7/2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước hết hiệu lực, các doanh nghiệp nhà nước được chuyển đổi, thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Trong suốt bốn năm tiếp theo đó, nhiều vướng mắc, “khoảng trống” pháp lý đối với hoạt động của khối doanh nghiệp này đã xuất hiện, việc quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh chủ yếu được điều chỉnh bằng văn bản dưới luật.
Hiện nay, với tổng giá trị tài sản ước hơn 3,3 triệu tỷ đồng, nguồn lực vốn nhà nước tại các doanh nghiệp (chưa bao gồm các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước) là rất lớn, cần được sử dụng một cách thực sự hiệu quả. Nguyên nhân của vấn đề này đã nhiều lần được Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Đậu Anh Tuấn nhắc đến, đó là một số quy định liên quan quản trị doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư trực tiếp còn bất cập. Việc quản lý lợi ích thu được từ vốn nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp chưa được quy định cụ thể, thống nhất trong hệ thống luật… Điều này khiến cho các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước gặp nhiều khó khăn trong hoạt động.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, về phương thức quản lý, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm và chấp nhận rủi ro trong đầu tư. Nếu không chấp nhận rủi ro thì rất khó có đột phá, đặc biệt trong các lĩnh vực mới. Đặc biệt nếu thiếu cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, các quyết định đầu tư dễ rơi vào trạng thái thận trọng quá mức, làm giảm động lực đổi mới và hiệu quả sử dụng nguồn lực vốn.
Đơn cử, tại Hội nghị trao đổi, đề xuất chính sách, pháp luật thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số” do Bộ Tư pháp tổ chức vào cuối tháng 3 vừa qua, ông Nguyễn Đình Phước - Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết, EVN thường đầu tư các dự án lớn, trên nhóm B, do đó đều phải xin ý kiến nhiều cấp nên việc triển khai bị chậm trễ. Mặt khác, việc thu hồi các dự án chậm trễ, đình trệ cũng gặp rất nhiều khó khăn vì… thiếu cơ chế thu hồi cụ thể. Đặc biệt, lâu nay, EVN rất vất vả trong việc quản lý, giải trình về phần vốn nhà nước do EVN được giao và đầu tư tại các công ty con.
Đặc biệt, lâu nay, EVN rất vất vả trong việc quản lý, giải trình về phần vốn nhà nước do EVN được giao và đầu tư tại các công ty con.
Tương tự, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) cũng gặp rất nhiều khóa khăn từ việc các quy định pháp lý chưa quy định rõ các nguyên tắc, hình thức và quy trình sáp nhập công ty con do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ vào công ty mẹ do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Là người trải qua và khá thấu hiểu về những khúc mắc chưa thể gỡ bỏ trong suốt thời gian dài vừa qua, bà Trần Thị Ngọc Liên (Ban Pháp chế VNPT) chia sẻ, để xử lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực này chắc chắn có nhiều doanh nghiệp cũng đang gặp phải vướng mắc như tại VNPT. Đây chính là rào cản lớn đối với việc tổ chức cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021- 2025 vì pháp luật chưa quy định cụ thể.
Đây chính là rào cản lớn đối với việc tổ chức cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2021- 2025 vì pháp luật chưa quy định cụ thể.
Còn theo đại diện Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), cách tư duy mới về xác định vốn nhà nước tại doanh nghiệp, quản trị doanh nghiệp… sẽ tạo sự thay đổi cơ bản, tạo sự chủ động, linh hoạt hơn cho các doanh nghiệp nhà nước, việc sắp xếp, tái cơ cấu, đổi mới quy trình hoạt động sẽ được thuận lợi, nhanh chóng hơn…
Chia sẻ và bày tỏ sự trăn trở trước sự quan tâm của nhiều doanh nghiệp nhà nước về cơ chế sử dụng lợi nhuận để lại tăng vốn điều lệ tại doanh nghiệp có vốn nhà nước, nhất là tư duy xác định vốn nhà nước tại doanh nghiệp, ông Hồ Đức Phớc, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Tài chính, từng chỉ rõ, nếu không khơi thông được nguồn vốn này, sẽ làm suy giảm hiệu lực của một công cụ quan trọng của nhà nước trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.
Ông Hồ Đức Phớc cho rằng, bất cập của quy định hiện hành đã làm chậm, thậm chí làm mất cơ hội của các doanh nghiệp lớn như Vietnam Airlines, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước... Đặc biệt, là vấn đề tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, quyền tự quyết của doanh nghiệp chưa được thể chế hóa bằng văn bản quy phạm pháp luật. Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải kịp thời lấp các “khoảng trống” pháp lý đó theo hướng tạo bước ngoặt lớn trong phân bổ, quản lý nguồn lực vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải kịp thời lấp các “khoảng trống” pháp lý đó theo hướng tạo bước ngoặt lớn trong phân bổ, quản lý nguồn lực vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo đánh giá của giới chuyên gia, những bất cập này sẽ được xử lý trong thời gian tới, bởi Nghị quyết số 79-NQ/TW cho thấy một dịch chuyển rõ rệt khi “doanh nghiệp nhà nước không chỉ bảo toàn tài sản mà còn phải chủ động cạnh tranh”. Nghĩa là, với cách tiếp cận mới, các dự án sử dụng vốn nhà nước sẽ không còn mặc định giao cho doanh nghiệp nhà nước, mà được lựa chọn thông qua các cơ chế minh bạch như đấu thầu, mua sắm công. Kèm theo đó là một yêu cầu quan trọng: tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh để quyền lực quản lý trở thành lợi thế cạnh tranh. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước cần từng bước tiệm cận các chuẩn mực quản trị quốc tế về minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Bởi Nghị quyết số 79-NQ/TW nêu rõ: “Xử lý nghiêm, kịp thời thu hồi tối đa cho Nhà nước những tài sản, kinh phí bị sử dụng sai mục đích hoặc bị chiếm đoạt, không để gây ra hệ luỵ ảnh hưởng đến nền kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Có các giải pháp cụ thể đẩy nhanh việc xử lý các dự án, công trình tồn đọng kéo dài nhằm khơi thông và phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực”.
Từ những thay đổi trong cách tiếp cận, vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế cũng được tái định vị theo hướng nhấn mạnh chất lượng hơn là phạm vi tham gia. Thay vì trực tiếp thực hiện nhiều hoạt động, Nhà nước chuyển sang vai trò điều phối và kiến tạo, tập trung vào quản trị tổng thể các nguồn lực, thiết kế chính sách và tạo lập môi trường cạnh tranh minh bạch. Trong mô hình này, hiệu quả không còn được đo bằng việc Nhà nước nắm giữ bao nhiêu hay tham gia sâu đến đâu, mà ở khả năng phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách tối ưu.
Nghị quyết số 79-NQ/TW vì vậy không chỉ là câu chuyện cải cách doanh nghiệp nhà nước, mà là bước chuyển trong cách Nhà nước tham gia vào nền kinh tế - từ “làm thay” sang “dẫn dắt”, từ “quản lý từng chủ thể” sang “quản trị toàn bộ hệ thống” nguồn lực. Thậm chí, với nhiều chuyên gia kinh tế, Nghị quyết số 79-NQ/TW còn được xem như một nỗ lực thiết kế lại “luật chơi” cho khu vực kinh tế nhà nước của cấp có thẩm quyền. Điểm đáng kể chính là yêu cầu mạnh mẽ về việc tách bạch ba chức năng “chủ sở hữu, quản lý nhà nước và kinh doanh nguồn lực vốn kinh tế nhà nước”.
Là người từng rất trăn trở với vấn đề quản lý, kinh doanh vốn nhà nước, bà Phạm Thúy Chinh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội khóa XV, đánh giá, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển đổi số quốc gia diễn ra mạnh mẽ, đây là cách tiếp cận tiến bộ, phù hợp yêu cầu phát triển trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Theo đó, việc tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu và chức năng quản trị doanh nghiệp không chỉ là một điều chỉnh kỹ thuật, mà là một cuộc đổi trục về tư duy. Doanh nghiệp nhà nước không thể tiếp tục lúng túng trong vòng xoáy “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, càng không thể phát triển nếu mọi quyết định kinh doanh đều phải chờ cơ chế “xin-cho”. Khi ba vai trò này được phân định rõ, ranh giới trách nhiệm sẽ bớt nhập nhằng, không gian quyết định được mở rộng và tâm lý “sợ sai” có điều kiện được tháo gỡ. Đặc biệt, việc lần đầu tiên đưa các khái niệm như “kinh tế không gian vũ trụ”, “kinh tế tầm thấp”, “không gian ngầm” vào tầm nhìn chiến lược cho thấy Đảng đã đặt kinh tế nhà nước vào trục phát triển của tương lai, nơi cạnh tranh không chỉ bằng quy mô, mà bằng công nghệ, năng lực kiến tạo không gian phát triển mới và nguồn lực tổng thể quốc gia.
Các công nhân của EVN làm việc trên công trường. (Ảnh: Lê Tiên)
Các công nhân của EVN làm việc trên công trường. (Ảnh: Lê Tiên)
Ngoài ra, việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp, sáp nhập các đơn vị trong cùng lĩnh vực để tạo quy mô lớn hơn, hoạt động hiệu quả hơn cũng là những giải pháp then chốt. Nhìn tổng thể, các giải pháp này sẽ góp phần tạo ra sân chơi bình đẳng hơn, công bằng hơn giữa doanh nghiệp nhà nước và các khu vực kinh tế khác, để khu vực doanh nghiệp nhà nước có dư địa chủ động, linh hoạt hơn trong các hoạt động đầu tư của họ.
Với việc tăng cường các nội dung về đổi mới tư duy quản lý, phương thức quản trị, kỷ luật, kỷ cương và minh bạch trong khu vực kinh tế nhà nước, định vị lại khu vực kinh tế nhà nước theo cách tiếp cận mới, theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Thảo, Phó Trưởng ban Phát triển doanh nghiệp và Môi trường kinh doanh (Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế-tài chính, Bộ Tài chính), Nghị quyết 79-NQ/TW đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo, các giải pháp cụ thể, nhằm tối ưu hoá nguồn lực, khơi thông “điểm nghẽn” để kinh tế nhà nước phát huy tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới. Quan điểm chỉ đạo đã rõ ràng, các giải pháp đã cụ thể đầy đủ, vấn đề ở đây chính là làm thế nào để triển khai hiệu quả?
Nghị quyết 79-NQ/TW đã đưa ra các quan điểm chỉ đạo, các giải pháp cụ thể, nhằm tối ưu hoá nguồn lực, khơi thông “điểm nghẽn” để kinh tế nhà nước phát huy tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới.
***
Nghị quyết số 79-NQ/TW cho thấy một dịch chuyển rõ rệt khi “doanh nghiệp nhà nước không chỉ bảo toàn tài sản mà còn phải chủ động cạnh tranh”.
***
Nghị quyết số 79-NQ/TW nêu rõ: Có các giải pháp cụ thể đẩy nhanh việc xử lý các dự án, công trình tồn đọng kéo dài nhằm khơi thông và phát huy tối đa hiệu quả các nguồn lực.
***
Nghị quyết số 79-NQ/TW còn được xem như một nỗ lực thiết kế lại “luật chơi” cho khu vực kinh tế nhà nước của cấp có thẩm quyền.
Ngày xuất bản: 7/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật, Thảo Lê, Quỳnh Trang, Minh Phương, Ngọc Diệp
(Bài có sử dụng hỗ trợ của AI trong thiết kế)