KINH TẾ NHÀ NƯỚC:
Làm chủ các “cao điểm chiến lược” để dẫn dắt nền kinh tế
Khi khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia, yêu cầu đặt ra đối với khu vực kinh tế nhà nước không chỉ là giữ vai trò chủ đạo, mà còn phải thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt, mở đường và kiến tạo những không gian phát triển mới.
Mới đây, ngày 6/7, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật đã ban hành kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại phiên họp thứ nhất. Theo đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước khẳng định, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, nhưng không phải bằng khẩu hiệu, bao cấp, độc quyền, ưu đãi hành chính hay cơ chế xin - cho. Vai trò này phải được thể hiện bằng năng lực dẫn dắt, điều tiết, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và chi phối những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược. Khu vực kinh tế nhà nước phải tuân thủ kỷ luật thị trường, kỷ luật tài chính, nâng cao chất lượng quản trị và trách nhiệm giải trình.
Tinh thần ấy đang mở ra một giai đoạn phát triển mới cho kinh tế nhà nước: không còn chỉ là "trụ cột" bảo đảm ổn định vĩ mô, mà phải vươn lên làm chủ những "cao điểm chiến lược" của nền kinh tế - từ hạ tầng số, năng lượng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo đến các ngành công nghiệp nền tảng và công nghệ cao.
Loạt bài "Kinh tế nhà nước: Làm chủ các 'cao điểm chiến lược' để dẫn dắt nền kinh tế" sẽ phân tích những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp nhà nước, nhận diện các rào cản cần tháo gỡ, đồng thời phản ánh những nỗ lực chuyển mình để khu vực kinh tế nhà nước thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước nhanh, bền vững và tự chủ trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước đã đặt ra mục tiêu chiến lược nhằm nâng tầm các doanh nghiệp nhà nước thành những "sếu đầu đàn" đủ sức cạnh tranh quốc tế. Không chỉ dừng lại ở việc bứt phá về quy mô vốn, các doanh nghiệp này còn mang sứ mệnh dẫn dắt, tạo lập hệ sinh thái và làm bệ đỡ cho cộng đồng doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây chính là chìa khóa để doanh nghiệp Việt khẳng định vị thế quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.
01. Sứ mệnh vươn tầm quốc tế
Khát vọng xây dựng những 'sếu đầu đàn' mạnh mẽ để dẫn dắt nền kinh tế đã được cụ thể hóa bằng các mục tiêu chiến lược tại Nghị quyết số 79, mở ra lộ trình vươn tầm quốc tế cho các doanh nghiệp và ngân hàng nhà nước.
Nghị quyết số 79 nhấn mạnh: “Xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế”, theo đó, đặt kỳ vọng đến năm 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1-3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới”.
Trong tương lai xa hơn, Việt Nam phấn đấu đến năm 2045 sẽ có khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
LARGEST BANK IN ASIA-PACIFIC 2025
| Largest Bank Rank 2025 | Largest Bank Rank 2024 | Bank | Country/ Territory | Assets ($.million) | Net Profit ($.million) | ROE (%) | ROA (%) | CIR (%) | CAR (%) |
|---|
Hiện nay doanh nghiệp nhà nước chưa góp mặt trong bảng xếp hạng doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Tuy nhiên tại bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Đông Nam Á năm 2025 do Fortune bình chọn (The 2025 Southeast Asia 500), Việt Nam đóng góp 76 doanh nghiệp, trong đó có nhiều cái tên đến từ khu vực doanh nghiệp nhà nước như Petro Việt Nam (xếp thứ 11); Petrolimex (xếp thứ 26); 4 ngân hàng nhà nước gồm BIDV; Agribank; Vietcombank và Vietinbank đều góp mặt trong bảng xếp hạng.
Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội nhận định, những năm gần đây, doanh nghiệp nhà nước lớn mạnh, góp mặt trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Đông Nam Á nhưng con số này còn khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan... đồng thời cũng cần nỗ lực nhiều hơn nữa để có 50 doanh nghiệp nhà nước được xếp hạng.
Những năm gần đây, doanh nghiệp nhà nước lớn mạnh, góp mặt trong bảng xếp hạng 500 doanh nghiệp Đông Nam Á nhưng con số này còn khá khiêm tốn so với các nước trong khu vực như Indonesia, Thái Lan...
Trong số doanh nghiệp nhà nước, Ngân hàng đóng vai trò là một trong những công cụ trọng yếu của Nhà nước trong việc điều tiết và phát triển kinh tế thông qua các nền tảng, công cụ và nguồn lực tài chính. Vì vậy, Nghị quyết số 79 đặt ra mục tiêu lớn dành cho nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước: Đến năm 2030 phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống.
Theo số liệu công bố, trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản, Việt Nam chưa có đại diện nào. Theo Hiệp hội Ngân hàng, tính đến ngày 31/12/2025, BIDV tiếp tục giữ vị trí ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam với 3,25 triệu tỷ đồng (≈123 tỷ USD) vào cuối năm 2025, tăng 20% so với năm trước.
Nghị quyết số 79 đặt ra mục tiêu lớn dành cho nhóm các ngân hàng thương mại nhà nước:
Đến năm 2030 phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước đi đầu, tiên phong về công nghệ, năng lực quản trị, chủ lực, chủ đạo về quy mô, thị phần, khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống.
Trang The Asian Banker công bố, thứ hạng ngân hàng Việt Nam tại Châu Á liên tục tăng: BIDV đang ở vị trí 101, VietinBank, Agribank, Vietcombank lần lượt có thứ hạng là 115, 123, 129. So với năm 2024 thứ hạng của các ngân hàng này cũng tăng vượt bậc (107, 124, 125 138).
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính-ngân hàng nhận định, các ngân hàng thương mại nhà nước có tổng tài sản tăng trưởng mạnh mẽ hàng năm và đang có nhiều cơ hội tiến sát vào nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á. Tuy nhiên, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu cũng chỉ ra, mỗi ngân hàng trong Top 100 cũng tăng trưởng đều đặn hàng năm từ 5-8%, vì vậy để các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam được xếp hạng theo mục tiêu đề ra thì mỗi năm các ngân hàng này phải tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng bình quân nêu trên, khoảng trên 10%; và trong điều kiện thuận lợi thì có thể tăng trưởng 15%.
02. Sứ mệnh dẫn dắt và kiến tạo hệ sinh thái
Để có những doanh nghiệp lớn mạnh, ngoài tăng quy mô, Nghị quyết số 79 còn chỉ ra, các doanh nghiệp phải “giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế”.
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 và 80 của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh “Kinh tế nhà nước mạnh không phải để lấn át, mà trở thành “bệ đỡ”, “mở đường” và “tiếp sức” để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa, từ đó hình thành những cụm liên kết ngành với những “đầu tàu” đủ sức cạnh tranh khu vực và toàn cầu”.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, đặc điểm thứ hai của "sếu đầu đàn" là doanh nghiệp nhà nước phải đóng vai trò dẫn dắt trong các lĩnh vực tiên phong, mũi nhọn. Thí dụ như trong các lĩnh vực công nghệ nền tảng, nền tảng số, hay các nguồn năng lượng mới. Khi đã tiên phong, doanh nghiệp sẽ tạo ra một hệ sinh thái hoặc chuỗi cung ứng để thu hút các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân cùng tham gia.
Chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội cho biết, nhìn vào thực tế liên kết hiện chỉ khoảng 18% doanh nghiệp ở Việt Nam có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu và doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi FDI mới trên 20%.
Về phía công nghiệp hỗ trợ và nội địa hóa, Bộ Công thương cho biết Việt Nam hiện có khoảng 5.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Tuy nhiên, tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành vẫn thấp: điện tử chỉ khoảng 5-10%, ô tô khoảng 7-10%, còn dệt may và da giày khoảng 45-50%. Những con số này cho thấy doanh nghiệp nội địa đã tham gia, nhưng chủ yếu ở khâu đơn giản, giá trị gia tăng thấp; còn các khâu thiết kế, vật liệu cốt lõi, linh kiện công nghệ cao, tiêu chuẩn quản trị chuỗi, kiểm định chất lượng và đơn hàng dài hạn vẫn chưa hình thành được hệ sinh thái nội địa đủ mạnh.
Ông Mạc Quốc Anh nhận định, dư địa để doanh nghiệp nhà nước làm tốt hơn vai trò “mở đường” vẫn còn rất lớn. Nếu doanh nghiệp nhà nước trở thành bên đặt hàng chiến lược, bên bảo chứng tiêu chuẩn, bên chia sẻ dữ liệu cung ứng và bên dẫn dắt công nghệ cho doanh nghiệp nội địa, thì sức lan tỏa sẽ rất lớn.
Dư địa để doanh nghiệp nhà nước làm tốt hơn vai trò “mở đường” vẫn còn rất lớn.
03. Đột phá quy mô vốn và nguồn lực cho “sếu đầu đàn”
Mục tiêu đặt ra đối với các “sếu đầu đàn”, trước hết phải đủ lớn, đủ mạnh để sánh ngang tầm vóc quốc tế và khu vực về cả quy mô, chất lượng lẫn năng lực cạnh tranh.
Để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt thì phải được trao quyền tự chủ thực chất từ huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh đến thu hút nhân lực chất lượng cao…
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhận định, để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt thì phải được trao quyền tự chủ thực chất từ huy động nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh đến thu hút nhân lực chất lượng cao… Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải được hưởng thành quả từ những kết quả tạo ra. Từ phía cơ quan nhà nước đã có những nghiên cứu cơ chế thưởng gắn với lợi nhuận vượt kế hoạch đối với doanh nghiệp nhà nước.
Bà Nguyễn Thu Thủy Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước, Bộ Tài chính cho biết một thay đổi quan trọng là doanh nghiệp hiện đã được tự quyết quỹ lương, theo định hướng nghiên cứu ban đầu, tỷ lệ trích thưởng từ phần lợi nhuận vượt kế hoạch dự kiến đề xuất ở mức khoảng 5-10%. Đồng thời, pháp luật hiện nay đã có điều chỉnh khi các khoản đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hoặc nhiệm vụ chính trị do Nhà nước giao được tách riêng khi đánh giá hiệu quả doanh nghiệp, nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp mạnh dạn hơn trong đầu tư và đổi mới sáng tạo. Đây là cơ chế tạo động lực gắn với kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khẳng định, trong một nền kinh tế tăng trưởng dựa trên lợi thế quy mô, vốn là yếu tố “sống còn”, bởi không thể đòi hỏi hiệu quả bứt phá nếu doanh nghiệp luôn rơi vào tình trạng thiếu hụt nguồn lực đầu tư. Vì vậy, doanh nghiệp nhà nước cần được trao quyền chủ động đầu tư và kinh doanh theo cơ chế "lời ăn lỗ chịu" sau khi hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao.
Nghị quyết 79 đã tạo ra một hành lang pháp lý thông thoáng và mạnh mẽ để phát triển các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Trọng tâm của chính sách này là chiến lược tăng vốn điều lệ thông qua các giải pháp thực chất: cho phép sử dụng nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn; nâng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế được giữ lại tại đơn vị; đồng thời rà soát, đánh giá lại các tài sản đã hết khấu hao nhưng vẫn còn giá trị sử dụng. Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích việc hợp nhất, sáp nhập và chuyển giao doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa lợi thế tổng thể của từng ngành kinh tế.
Nghị quyết số 79
Đặt ra một vấn đề quan trọng để tăng năng lực vốn nhà nước, đó là chuyển đổi mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) thành Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp.
Nghị quyết 79 cũng đã đặt ra một vấn đề quan trọng để tăng năng lực vốn nhà nước, đó là chuyển đổi mô hình Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) thành Quỹ đầu tư quốc gia chuyên nghiệp.
“Quỹ đầu tư quốc gia này cùng với các tài sản doanh nghiệp nhà nước được giao phó một cách minh bạch sẽ được phép tham gia vào các hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A), liên doanh liên kết, chuyển giao công nghệ mới và mua sắm công nghệ hiện đại. Từ đó, doanh nghiệp nhà nước thực hiện tốt vai trò dẫn dắt, tiên phong trong các ngành công nghiệp chủ đạo, công nghiệp nền tảng và các lĩnh vực mới của nền kinh tế; đồng thời phát triển hệ thống hạ tầng chiến lược nhằm đảm bảo mục tiêu lâu dài của đất nước”, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt lý giải về mô hình Quỹ đầu tư quốc gia.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về tầm nhìn chuyển đổi của SCIC, đồng chí Nguyễn Chí Thành, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) cho biết, SCIC hiện đang quản lý hơn 100 doanh nghiệp, tổng giá trị thị trường ước tính khoảng 8 tỷ USD, việc thực hiện cơ cấu lại vốn nhà nước và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước theo Nghị quyết 79 không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà là động lực quan trọng để SCIC nâng cao vai trò, vị thế trong hệ thống các công cụ kinh tế của Nhà nước, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và thúc đẩy tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.
04. Xây dựng hệ sinh thái gắn kết giữa các doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước muốn làm "sếu đầu đàn" thì không thể đơn độc, mà phải đóng vai trò dẫn dắt, mở đường và đồng hành cùng các doanh nghiệp tư nhân.
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cho rằng, phải xây dựng được chuỗi giá trị của chính Việt Nam, trong đó doanh nghiệp nhà nước phải tiên phong và thực sự bắt tay vào làm. Để làm được điều này, doanh nghiệp nhà nước phải thể hiện năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và giữ được vị trí trung tâm trong các chuỗi giá trị. Muốn vậy, doanh nghiệp phải chấp nhận đầu tư lớn vào nghiên cứu, tiếp thu công nghệ, đổi mới sáng tạo và từng bước làm chủ công nghệ lõi.
“Thậm chí, cần có cơ chế đặt hàng để doanh nghiệp tư nhân tham gia vào chuỗi cung ứng. Ngay cả trong các lĩnh vực nền tảng mũi nhọn hay hạ tầng chiến lược cũng nên cho phép tư nhân tham gia. Ví dụ như trong lĩnh vực dịch vụ công-một mảng thể hiện rõ vai trò kinh tế của Nhà nước-chúng ta cũng nên quy hoạch lại và thực hiện đặt hàng để cả khu vực kinh tế nhà nước lẫn tư nhân cùng tham gia”, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt khuyến nghị.
Doanh nghiệp nhà nước muốn làm "sếu đầu đàn" thì không thể đơn độc, mà phải đóng vai trò dẫn dắt, mở đường và đồng hành cùng các doanh nghiệp tư nhân.
Đồng tình với quan điểm trên, Giáo sư Mạc Quốc Anh khuyến nghị, cần có chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa do doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt theo từng ngành. Mỗi tập đoàn, tổng công ty nhà nước nên có danh mục sản phẩm, linh kiện, dịch vụ có thể nội địa hóa; công bố lộ trình thay thế nhập khẩu; tổ chức đánh giá, lựa chọn và “ươm tạo” nhà cung cấp nội địa theo chuẩn chất lượng-chi phí-giao hàng.
Đồng thời, phải cải cách cơ chế mua sắm, đấu thầu và đặt hàng của doanh nghiệp nhà nước theo hướng khuyến khích nhà cung ứng trong nước đủ chuẩn. Doanh nghiệp nhà nước cần có cơ chế chia nhỏ gói thầu phù hợp, có hợp đồng khung trung hạn, có tiêu chí cộng điểm cho nội địa hóa, có cơ chế thử nghiệm sản phẩm mới và có thời gian “nâng chuẩn” cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiềm năng.
Ông Mạc Quốc Anh lưu ý đến việc chuẩn hóa dữ liệu và tiêu chuẩn nhà cung ứng, đó là một nền tảng số quốc gia hoặc theo ngành, công khai danh mục nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu QCD (quality-cost-delivery), tiêu chí ESG, tiêu chí truy xuất nguồn gốc, cùng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng Việt Nam bằng tiếng Việt và tiếng Anh để các doanh nghiệp có thể chủ động tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, kết nối trực tiếp với các đối tác quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững thông qua việc minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa quy trình vận hành.
Một sự liên kết trọng yếu khác mà Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt nêu ra, đó là sự phối hợp giữa vai trò kinh tế nhà nước với các chương trình tạo ra các cực tăng trưởng và các địa phương có cơ chế đặc thù.
"Ở góc nhìn tổng thể, không thể để doanh nghiệp nhà nước hoạt động tách rời với sự phát triển của các địa phương. Bởi lẽ, địa phương chính là không gian sinh tồn, là địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng, nơi tập trung các hạ tầng chiến lược đã được giao cho doanh nghiệp nhà nước quản lý”.
Khi có sự phối hợp đồng bộ, các nguồn lực sẽ không bị xé lẻ, manh mún mà tạo ra hiệu quả chung. Do đó, khi thiết kế các cực tăng trưởng hay cơ chế phân cấp, phân quyền đặc thù cho địa phương, cần phải tính đến việc phát huy vai trò "sếu đầu đàn" của doanh nghiệp nhà nước tại đó, bất kể đó là doanh nghiệp do Trung ương hay địa phương quản lý.
Hành trình đưa doanh nghiệp nhà nước vươn tầm quốc tế không thể tách rời vai trò "mở đường" và kết nối nội địa. Với hành lang pháp lý từ Nghị quyết 79 cùng sự chuyển đổi mạnh mẽ của các công cụ điều tiết như mô hình Quỹ đầu tư quốc gia, Việt Nam đang kỳ vọng tạo ra những cực tăng trưởng mới. Sự phối hợp giữa vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước và sức sáng tạo của khu vực tư nhân được thực thi nhuần nhuyễn sẽ tạo ra động lực then chốt để nền kinh tế Việt Nam bứt phá và phát triển bền vững trên bản đồ kinh tế thế giới.
***
"Trong một nền kinh tế tăng trưởng dựa trên lợi thế quy mô, vốn là yếu tố “sống còn”".
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt
***
"Cần có chương trình phát triển nhà cung ứng nội địa do doanh nghiệp nhà nước dẫn dắt theo từng ngành".
Giáo sư Mạc Quốc Anh
Ngày xuất bản: 7/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật, Thảo Lê, Quỳnh Trang, Minh Phương, Ngọc Diệp
(Bài có sử dụng hỗ trợ của AI trong thiết kế)