Thành phố Hà Nội đang đứng trước một bước ngoặt lớn khi Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới đặt ra tầm nhìn quy hoạch không chỉ cho vài thập kỷ, mà kéo dài tới 100 năm. Đây không đơn thuần là câu chuyện phát triển đô thị, mà là cách chúng ta kiến tạo tương lai của Thủ đô – một thành phố Hà Nội hiện đại, nhưng vẫn giữ được bản sắc và phát triển bền vững.
Vừa qua, tại trụ sở Báo Nhân Dân đã diễn ra Tọa đàm với chủ đề “Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm – Tư duy mới và những thách thức thực thi”. Tham gia tọa đàm có ông Nguyễn Đức Hùng, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội và chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam. Các chuyên gia, nhà quản lý đã tập trung phân tích những điểm đột phá trong tư duy quy hoạch, đồng thời chỉ ra những yêu cầu đặt ra trong quá trình triển khai nhằm hiện thực hóa định hướng phát triển dài hạn của Thủ đô.
Nhà báo Hữu Việt: Thưa quý vị, tôi xin bắt đầu từ câu chuyện về tư duy trong quy hoạch Hà Nội với tầm nhìn 100 năm. Bởi nếu không thay đổi cách nghĩ, rất khó tạo ra một Hà Nội khác biệt trong tương lai. Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ Chính trị vừa được ban hành, cùng với việc Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội thông qua Quy hoạch Tổng thể Thủ đô với tầm nhìn 100 năm. Theo ông, đâu là thay đổi căn bản nhất về tư duy quy hoạch Hà Nội lần này so với các giai đoạn trước?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Với câu hỏi này, tôi thấy trước hết, khi nói đến thay đổi tư duy, chúng ta phải nói về vai trò, vị thế của Thủ đô. Với lịch sử nghìn năm, cũng như trong thời gian tới, Hà Nội giữ vai trò rất quan trọng trong tổng thể hoạt động chung của cả nước, điều phối các hoạt động trên phạm vi toàn quốc, đồng thời kết nối quốc tế.
Từ khi giải phóng đến nay, Hà Nội đã tám lần lập quy hoạch tổng thể. Tuy nhiên, về cơ bản, các quy hoạch đô thị trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ không gian vật chất thuần túy. Trên cơ sở những không gian và các định hướng chiến lược mới, lần này quy hoạch được xác lập theo một tư duy mới – đó là quy hoạch theo hướng chiến lược, có tính tích hợp và lấy hạnh phúc của người dân làm nền tảng.
Những điểm tư duy cốt lõi được thể hiện ở một số nội dung chính:
Thứ nhất là tầm nhìn 100 năm – một tầm nhìn dài hạn, nhằm khắc phục hạn chế trước đây khi việc lập kế hoạch thường theo chu kỳ 10 năm, dễ phụ thuộc vào nhiệm kỳ và chưa giải quyết được các vấn đề dài hạn về thời gian.
Thứ hai là xác định lấy người dân làm trung tâm, làm chủ thể, hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của người dân – trong đó hạnh phúc không chỉ đơn thuần ở yếu tố vật chất.
Thứ ba là phát triển không gian đô thị theo hướng sinh thái, thông minh, sáng tạo, gắn với công nghệ mới và kỷ nguyên mới. Ví dụ như việc cải tạo các khu chung cư cũ: trước đây có những giá trị nhất định, nhưng đến nay không còn phù hợp; do đó cần được tái thiết trong bối cảnh mới, gắn với công nghệ, với sự phát triển của hệ thống không gian và kết nối cả ngầm lẫn nổi, nhằm tạo ra một đô thị sinh thái và bền vững hơn.
Một điểm nữa là lần này xác định rất rõ vấn đề kết nối vùng, liên kết vùng; đồng thời khẳng định vai trò, vị thế của Hà Nội là trung tâm của vùng đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, và là Thủ đô của cả nước.
Và một vấn đề quan trọng trong quá trình này là tư duy xây dựng cơ chế, cải cách thể chế, nhằm tạo động lực, tạo cơ hội và huy động các nguồn lực để phát triển Thủ đô theo đúng định hướng.
Nhà báo Hữu Việt: Thưa chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Dưới góc độ chuyên môn, ông có đánh giá như thế nào về yêu cầu được đặt ra trong Nghị quyết về tầm nhìn 100 năm cũng như Quy hoạch vừa được HĐND thành phố thông qua?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Trước hết nhìn nhận vai trò vị thế công tác quy hoạch. Việt Nam, đặc biệt là Hà Nội luôn quan tâm đến công tác quy hoạch. Ngay từ thời phong kiến, chúng ta đã có những tư duy quy hoạch tiên tiến. Đến thời Pháp thuộc, quy hoạch đô thị bắt đầu tiếp cận theo hướng hiện đại, có tỷ lệ và kỹ thuật rõ ràng. Trung Quốc, đặc biệt quy hoạch ở Bắc Kinh đã mời chuyên gia Việt Nam sang giúp đỡ. Việt Nam đã hội nhập với thế giới, đưa ra mô hình quy hoạch mới, không phải quy hoạch biểu tượng mà quy hoạch có tỷ lệ, kế hoạch.
Từ hòa bình lập lại, công tác quy hoạch càng được quan tâm, từ Nhà nước, lãnh đạo thành phố. Từ năm 1954 đến nay, Hà Nội đã trải qua 9 lần lập quy hoạch chung, mỗi lần đều gắn với bối cảnh phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Có thể nói, Hà Nội luôn được quan tâm đặc biệt trong công tác quy hoạch qua các thời kỳ. Đặc biệt, những giai đoạn như sau chiến tranh, sau thống nhất đất nước hay trước thời kỳ đổi mới đều ghi nhận những điều chỉnh quy hoạch quan trọng để nâng tầm Thủ đô.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy một số hạn chế, trong đó nổi bật là tầm nhìn chưa đủ dài hạn. Điều này đã được chỉ ra trong nhiều văn kiện của Đảng và thành phố.
Với Nghị quyết 02 ban hành gần đây, có thể khẳng định đây là bước đột phá lớn nhất trong tư duy quy hoạch. Lần đầu tiên Hà Nội đặt ra tầm nhìn 100 năm, thay vì chỉ 30-40 năm như trước.
"Với Nghị quyết 02 ban hành gần đây, có thể khẳng định đây là bước đột phá lớn nhất trong tư duy quy hoạch. Lần đầu tiên Hà Nội đặt ra tầm nhìn 100 năm, thay vì chỉ 30-40 năm như trước".
Nhà báo Hữu Việt: 100 năm là khoảng thời gian rất dài, trong khi đô thị thay đổi từng ngày. Vì sao thành phố Hà Nội cần đặt ra tầm nhìn dài như vậy ngay từ bây giờ, và tầm nhìn này sẽ định hình chiến lược phát triển không gian đô thị ra sao?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Quy hoạch Hà Nội trong tầm nhìn 100 năm không chỉ là câu chuyện về không gian đô thị, mà còn là bài toán tổ chức lại các nguồn lực phát triển, từ con người, hạ tầng đến thể chế.
Hiện nay, Hà Nội đang đứng trước nhiều áp lực, đặc biệt về dân số, giao thông và môi trường. Nếu không có tầm nhìn dài hạn, phát triển dễ rơi vào tình trạng manh mún, thiếu đồng bộ, dẫn đến những hệ lụy khó khắc phục trong tương lai.
Theo các chuyên gia, quy hoạch lần này cần tiếp cận theo hướng tích hợp, tức là không quy hoạch riêng lẻ từng ngành, từng lĩnh vực mà đặt trong tổng thể phát triển chung của vùng Thủ đô và cả nước. Trong đó, liên kết vùng giữ vai trò then chốt, giúp giảm tải cho khu vực nội đô, đồng thời tạo ra các cực tăng trưởng mới.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ, đặc biệt là dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, được xem là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch. Qua đó, các nhà quản lý có thể dự báo tốt hơn các xu hướng phát triển để đưa ra quyết định phù hợp.
Tuy nhiên, để hiện thực hóa tầm nhìn này, vấn đề không chỉ nằm ở bản quy hoạch mà còn ở khâu tổ chức thực hiện. Nếu thiếu cơ chế giám sát, thiếu nguồn lực và thiếu sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, thì quy hoạch dù tốt cũng khó đi vào cuộc sống.
Do đó, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới tư duy quản lý, chuyển từ cách làm truyền thống sang hướng hiện đại, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm phục vụ.
Nhà báo Hữu Việt: 100 năm là quãng thời gian rất dài, xã hội sẽ trải qua nhiều giai đoạn phát triển về chính trị, kinh tế và chính sách. Theo ông, cần có những nguyên tắc hoặc công cụ quy hoạch nào để bảo đảm tầm nhìn này phù hợp và bền vững?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Có thể nói, trong lần lập quy hoạch này, việc đặt ra tầm nhìn 100 năm là một tư duy rất mới. Tuy nhiên, để giải quyết được vấn đề này, cần nhìn nhận đồng bộ các yếu tố nhằm bảo đảm quy hoạch ổn định, không biến đổi tùy tiện.
Để bảo đảm tính ổn định, cần xem xét bối cảnh. Trước hết là xác định mối quan hệ của cả nước đối với Hà Nội và vai trò dẫn dắt của Hà Nội đối với các vùng, trong đó có vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thủ đô.
Đặc biệt, cần làm rõ vai trò, vị thế của Hà Nội so với các thủ đô trong khu vực và trên thế giới.
Chúng ta mạnh dạn đặt ra mục tiêu Hà Nội sẽ là Thủ đô xứng tầm với các thủ đô trong khu vực và trên thế giới; là nơi hấp dẫn, điểm đến, và là biểu trưng cho một Việt Nam phát triển mới. Tôi cho rằng đây là tầm nhìn mới, trong đó có những khu vực đặc biệt cần được quan tâm.
Một vấn đề nữa là không gian trong quy hoạch với tầm nhìn 100 năm phải là không gian động và mở, chứ không tĩnh như trước đây. Qua tám lần lập quy hoạch trước, chúng ta đã xác định được 5 khu vực đặc thù của Thủ đô Hà Nội, được trong nước và quốc tế công nhận, và hiện nay được nâng tầm thành các khu vực cần bảo tồn và phát triển.
Tôi nói ví dụ như khu vực Hồ Gươm, khu Ba Đình hay khu phố cổ. Khu phố cổ trước đây chúng ta đã làm việc với UNESCO để bảo vệ và được công nhận có những giá trị đặc thù riêng của Hà Nội.
Vì vậy, bên cạnh việc xác định phát triển, chúng ta phải đặc biệt chú trọng đến các khu vực, không gian cần bảo tồn và phát huy giá trị.
Tôi cho rằng Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị vừa ban hành có một chỉ đạo rất quan trọng, không chỉ đối với cơ quan quản lý, người dân mà đặc biệt là các nhà chuyên môn cần quan tâm. Đó là phải quán triệt trục “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” xuyên suốt trong toàn bộ quá trình quy hoạch.
Sáng tạo là cần để chúng ta vươn lên, nhưng phải nhận diện được bản sắc. Việc nhận diện bản sắc phải dựa trên nền tảng văn hiến. Tôi cho rằng đây là một chỉ đạo rất đột phá, xuyên suốt. Những người làm chuyên môn hiện nay cần quán triệt tư tưởng này và nhìn nhận xem quy hoạch lần này đã thực hiện được ba trụ cột đó hay chưa, hay chỉ dừng lại ở yếu tố sáng tạo.
Đây là vấn đề rất đặc biệt. Muốn làm được điều này, muốn bảo đảm tính ổn định, không phải hôm nay làm, ngày mai lại thay đổi… Ngay từ năm 1959, Bác đã dạy như vậy. Vì thế, chúng ta cần tiếp tục quán triệt tư tưởng đó, đồng thời gắn với tinh thần mới của Nghị quyết 15 là “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”.
Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị vừa ban hành có một chỉ đạo rất quan trọng, không chỉ đối với cơ quan quản lý, người dân mà đặc biệt là các nhà chuyên môn cần quan tâm. Đó là phải quán triệt trục “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại” xuyên suốt trong toàn bộ quá trình quy hoạch.
Ba yếu tố này phải xuyên suốt, không thể chỉ giữ bản sắc mà thiếu sáng tạo, hay chỉ sáng tạo mà bỏ đi nền tảng. Với cách tiếp cận đó, tôi cho rằng tầm nhìn 100 năm của quy hoạch lần này mới có thể đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.
Đặc biệt, theo quan điểm cá nhân, cần khẳng định rõ hơn vai trò của Hà Nội và vai trò Thủ đô đối với cả nước. Đây là vấn đề mà không chỉ người dân Hà Nội mà người dân cả nước cần quan tâm.
Có thời điểm chúng ta nêu “Thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đặt tại Hà Nội”, nhưng trong các bản Hiến pháp, luật sau này đều khẳng định rõ: “Hà Nội là Thủ đô”.
Bên cạnh đó, với tầm nhìn tương lai, cần có sự sáng tạo nhưng phải đi cùng kế thừa. Ví dụ, trong quy hoạch lần này đặt ra các định hướng như đa cực, đa trung tâm, đa tầng… hay chuyển trục không gian gắn với sông Hồng. Đây là những vấn đề cần đặc biệt quan tâm.
Bởi sông Hồng trong quy hoạch lần này được đặt ra với một cách tiếp cận mới: không chỉ là trục không gian cảnh quan trung tâm, mà còn là biểu tượng phát triển của thành phố.
Nhà báo Hữu Việt: Một điểm đáng chú ý trong Nghị quyết là mô hình phát triển “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm” – một khái niệm khá mới, không dễ hình dung với người dân. Nếu giải thích đơn giản, ông sẽ mô tả mô hình đô thị tương lai của Hà Nội như thế nào? Đặc biệt, việc tổ chức không gian ngầm, mặt đất và trên cao sẽ thay đổi ra sao?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Để dễ hình dung, có thể xem đô thị Hà Nội như một cơ thể sống, tồn tại trong không gian 3-4 chiều.
Trước hết là tầng ngầm – không gian ngầm, nơi kết nối các hệ thống hạ tầng và dịch vụ, có thể hiểu là “thành phố dịch vụ ẩn”.
Thứ hai là tầng mặt đất, tầng thấp – không gian đang được khai thác phổ biến hiện nay. Với tầm nhìn mới, không gian này sẽ được tổ chức theo hướng phát triển hài hòa, đồng thời chú trọng bảo tồn di sản và không gian xanh.
Thứ ba là tầng cao – không gian trên cao, mang tính kết nối hiện đại hơn. Ở mỗi tầng như vậy sẽ hình thành các lớp không gian khác nhau, gắn với chức năng riêng.
Ví dụ như không gian ngầm, đây là nơi kết nối hạ tầng kỹ thuật, giao thông, hệ thống chống ngập cũng như phục vụ an ninh, quốc phòng. Trong đó được chia thành các lớp: lớp nông (khoảng 10m), lớp trung (khoảng 30m) và lớp sâu (dưới 30m), nhằm khai thác hiệu quả từng tầng, từng lớp theo mục tiêu đề ra.
Tầng mặt đất, như đã nói, ưu tiên phát triển cho con người, văn hóa và thiên nhiên. Không gian đô thị sẽ được tổ chức theo hướng nén nhưng xanh, tiết kiệm đất, đồng thời khai thác hiệu quả kinh tế, đặc biệt là kinh tế văn hóa ở tầng thấp.
Tầng cao trên 3000m mang tính kết nối hiện đại. Có thể ứng dụng các phương tiện hàng không, hệ thống kiểm soát không lưu để tăng cường kết nối, đồng thời phục vụ quản lý không gian, trắc địa, khí tượng, góp phần bảo đảm môi trường sống.
Còn một yếu tố mang tính “chiều thứ tư”, đó là các lớp không gian. Trước hết là lớp di sản – bảo tồn các không gian di sản vật thể và phi vật thể. Tiếp đến là lớp sinh thái và tự nhiên – gồm các không gian xanh, mặt nước.
Một lớp quan trọng gắn với phát triển hiện đại là kinh tế và số hóa. Đó là phát triển các nền kinh tế gắn với sản xuất, thương mại, kinh tế tri thức, kết hợp với không gian mặt nước, không gian ngầm và nền tảng công nghệ số. Việc ứng dụng công nghệ thông minh sẽ kết nối các hoạt động kinh tế-xã hội và đóng vai trò cốt lõi trong phát triển kinh tế giai đoạn tới.
Nhà báo Hữu Việt: Dưới góc độ chuyên gia, ông có thể làm rõ các khái niệm này? Theo ông, mô hình này tiềm ẩn những rủi ro nào? Cần những điều kiện gì để tránh rủi ro, đặc biệt là tình trạng dàn trải nguồn lực, thiếu phát triển đồng đều?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Tôi cho rằng cần nhìn lại cả quá trình Đảng và Nhà nước quan tâm đến Hà Nội. Qua các thời kỳ, đều có các nghị quyết của Bộ Chính trị. Khi có Pháp lệnh Thủ đô đã có Nghị quyết 15; sau đó là Nghị quyết 11, tiếp tục là Nghị quyết 15 và gần đây là Nghị quyết 02.
Chính trong các nghị quyết này đã đặt ra tư duy mới và bước đột phá về vị thế của Hà Nội. Với các khái niệm như “đa tầng, đa cực, đa trung tâm, đa mục tiêu”, theo tôi cần có cách tiếp cận rộng và toàn diện thì mới hiểu đúng và có giải pháp thực hiện.
Ví dụ về “đa chức năng, đa mục tiêu”: trong các bản Hiến pháp và đặc biệt là Nghị quyết 02, vị trí của Hà Nội đã được xác định rõ. Hà Nội không chỉ là trung tâm chính trị, hành chính mà còn có tới 7 chức năng. Có chức năng là trung tâm của Thủ đô, có chức năng là trung tâm lớn của cả nước.
Nếu so sánh với các thủ đô khác, có thể thấy hiếm nơi nào có nhiều chức năng như Hà Nội. Ví dụ như Bắc Kinh chỉ có khoảng 5 chức năng; nhiều thủ đô khác chỉ là trung tâm chính trị – hành chính, hoặc trung tâm kinh tế, hoặc trung tâm văn hóa. Trong khi đó, Hà Nội hội tụ đầy đủ các chức năng: văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, hành chính, chính trị, an ninh – quốc phòng…
Phải nói rằng với chức năng của Hà Nội như vậy, việc quy hoạch không gian và cách tiếp cận đa mục tiêu là rất cần thiết. Không thể coi nhẹ mục tiêu nào, mà phải bảo đảm hài hòa giữa các mục tiêu – đó chính là “đa mục tiêu”.
Còn về “đa cực”: trước đây chúng ta đã đưa ra nhiều mô hình, thế giới cũng có nhiều mô hình như đô thị nén, đô thị bọt biển, đô thị vệ tinh… Tuy nhiên, lần này đặt ra khái niệm “đa cực”, có kế thừa từ trước. Năm đô thị vệ tinh trước đây chưa đạt như kỳ vọng, nhưng “đa cực” lần này nhằm phát huy vai trò của người dân trong bối cảnh mới.
Thế giới hiện nay có nhiều xu hướng: đô thị nén không phải nén toàn bộ mà nén theo từng điểm; TOD cũng không áp dụng ở mọi nơi mà tùy theo tuyến, vùng, khu vực cụ thể. Vì vậy, “đa cực” là cách tiếp cận vừa kế thừa, vừa sáng tạo, phù hợp với thực tiễn phát triển của Hà Nội.
Còn “đa tầng” là khái niệm mang tính kỹ thuật, tương đối dễ hiểu. Hiện nay được xác định gồm không gian ngầm, mặt đất và trên cao. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khai thác không gian ngầm đến đâu. Trong 63 tỉnh, thành, Hà Nội là địa phương đầu tiên đặt ra quy hoạch không gian ngầm, nhưng hiện mới giới hạn ở độ sâu khoảng 15m. Trong khi đó, nhiều nước không chỉ quy hoạch mà còn có luật riêng về không gian ngầm, như Nhật Bản, với quy định rất cụ thể.
Trong quá trình phát triển không gian ngầm, có thể nói chúng ta đã tiếp cận từ khá sớm. Thời Pháp đã xuất hiện các công trình có tầng hầm, nhưng chưa có quy định quản lý cụ thể.
Từ năm 1954 đến nay, bước phát triển rõ nét là các công trình có hai tầng hầm, như khu khách sạn trên phố Trần Hưng Đạo. Sau đó, có những công trình đi xa hơn, tiêu biểu như khách sạn trên phố Lý Thường Kiệt – lần đầu tiên xây dựng tới 4 tầng hầm.
Đến nay, không gian ngầm đã được nâng tầm: không chỉ để xe hay hạ tầng kỹ thuật, mà còn là giao thông ngầm, trung tâm dịch vụ – thương mại, và đặc biệt là không gian công cộng, góp phần giải quyết các tồn tại đô thị.
Như vậy, có thể thấy “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa mục tiêu” là cách tiếp cận vừa kế thừa, vừa định hướng sáng tạo để triển khai trong thực tế. Đồng thời, đây cũng là thách thức lớn của quy hoạch tầm nhìn 100 năm: muốn ổn định lâu dài, phải tuân thủ và phát huy những giá trị truyền thống đó.
Tôi nói ví dụ, với tầm nhìn 100 năm thì khu vực Hồ Gươm sẽ như thế nào, khu Ba Đình ra sao, khu phố cổ ra sao? Tôi vẫn nhớ khi chúng tôi cùng một số chuyên gia bảo vệ giá trị khu phố cổ trước UNESCO, họ đặt ra rất nhiều câu hỏi và chúng tôi phải giải thích. Tại các hội nghị Pháp ngữ cũng vậy, chúng tôi đã phải trình bày rất nhiều.
Đến nay, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong bảo tồn phố cổ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức, như bảo tồn về quy hoạch ra sao, bảo tồn công trình kiến trúc như thế nào.
Chúng ta nói “hài hòa” thì dễ, nhưng làm thế nào để kết hợp truyền thống Việt Nam, ảnh hưởng kiến trúc Trung Hoa và yếu tố hiện đại để tạo nên bản sắc riêng cho khu phố cổ là một thách thức lớn.
Vì vậy, những vấn đề đặt ra cần có nội hàm khoa học và cách tiếp cận đa dạng. Hy vọng các quyết sách không chỉ dừng ở quy hoạch mà trong quản lý cũng phải cụ thể hóa được. Và quan trọng nhất, người dân phải là trung tâm, thì mới giữ được bản sắc, phát huy văn minh và tạo ra sự sáng tạo mới.
Nhà báo Hữu Việt: Một nội dung nhận được nhiều sự quan tâm là định hướng lấy sông Hồng làm trục cảnh quan sinh thái – văn hóa chủ đạo. Đây không phải là câu chuyện mới, nhưng cách tiếp cận lần này được kỳ vọng sẽ khác. Theo ông, cách tiếp cận quy hoạch sông Hồng lần này khác gì so với trước đây? Và làm thế nào để phát triển dọc sông Hồng mà vẫn giữ được bản sắc, không biến hai bờ sông thành những dải bất động sản giống nhau?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Trước đây cũng đã có những ý tưởng liên quan đến khai thác sông Hồng. Nhưng lần này, tư duy tiếp cận hoàn toàn khác. Điểm khác biệt cốt lõi là loại bỏ tư duy “đê chắn lũ”, chuyển sang hình thành một trục cảnh quan.
Ở đây có một số điểm khác biệt: thứ nhất là đột phá về định vị; thứ hai là chuyển từ tiếp cận trị thủy mang tính ngăn chặn sang thích ứng; và thứ ba là kiểm soát kiến trúc thông qua thiết kế không gian đô thị.
Cụ thể ở đây là gì? Đó là việc định vị sông Hồng như một trục cảnh quan, một không gian mở quan trọng của Thủ đô. Nó là trung tâm, là biểu tượng, là “mặt tiền”, nhằm khắc phục tình trạng “quay lưng” với dòng sông. Đó là điểm thứ nhất về định vị.
Thứ hai là chuyển từ cách tiếp cận ngăn chặn sang thích ứng. Tức là không còn cứng hóa dòng sông, mà tiếp cận theo hướng không gian thoáng, mở; khi có lũ thì cho phép ngập, và khi nước rút sẽ hình thành các không gian công viên cây xanh phục vụ thành phố.
Và cuối cùng, để bảo đảm bộ mặt và cảnh quan của dòng sông, cần chú trọng công tác kiểm soát thiết kế đô thị, tạo sự định hướng tổng thể, đồng bộ không chỉ trong phạm vi khoảng 40km của Hà Nội mà kéo dài tới 120km, từ thượng nguồn đến tận biển.
Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện, cần tăng cường công tác thẩm định và kiểm soát không gian, nhằm hình thành một “mặt tiền”, một bộ mặt, một “phòng khách” của Thủ đô. Đây là một trọng tâm trong việc xây dựng quy định quản lý quy hoạch lần này.
Nhà báo Hữu Việt: Theo ông, làm thế nào để hài hòa giữa phát triển đô thị ven sông với bảo tồn hệ sinh thái, phòng chống lũ lụt và gìn giữ giá trị văn hóa-lịch sử?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Nhắc đến Hà Nội, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn đến sông Hồng, bởi đây không chỉ gắn với truyền thuyết Thăng Long-Hà Nội mà còn là yếu tố cảnh quan rất lớn.
Nhìn lại quá trình phát triển, có thể thấy sông Hồng đã được quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Tuy nhiên, phía trước vẫn còn nhiều thách thức và tồn tại.
Đặc biệt, lần đầu tiên trong Nghị quyết 02 của Bộ Chính trị và quy hoạch tầm nhìn 100 năm, chúng ta đặt ra yêu cầu rất quan trọng: sông Hồng phải trở thành biểu tượng phát triển mới của Thủ đô.
Trước đây, quá trình phát triển của Hà Nội chủ yếu diễn ra ở phía nam sông Hồng. Phải đến năm 2003, trước khi mở rộng địa giới, chúng ta mới thành lập quận Long Biên – có thể coi là lần đầu tiên nội đô Hà Nội vượt qua sông Hồng sang phía đông. Vì vậy, câu chuyện phát triển sông Hồng không phải là mới mà đã được nghiên cứu từ lâu. Từ những năm 1990 đã có các nghiên cứu về quy hoạch thủy lợi; năm 1994 đã có quy hoạch hai bên sông Hồng nhưng chưa được thông qua.
Sau đó, tiếp tục có các nghiên cứu về giao thông thủy, quy hoạch du lịch hai bên sông; các đề tài khoa học cấp quốc gia đã xác định hàng chục di tích quan trọng dọc hai bờ, gắn với yếu tố phong thủy và văn hóa.
Nhìn xa hơn, ngay từ thời Pháp, các nhà khoa học đã nghiên cứu và nhận thấy sông Hồng có đặc điểm rất riêng: “nay lở, mai bồi”, biến đổi theo chu kỳ. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay, đặc điểm này càng cần được quan tâm.
Đến khoảng năm 2000, Hà Nội đã có quy hoạch hai bên sông Hồng được thành phố nghiệm thu. Thậm chí, Thủ tướng Phan Văn Khải khi đó đã trực tiếp khảo sát thực địa, quan sát từ trên cao. Tuy nhiên, quy hoạch mới dừng ở mức thí điểm do còn vướng các vấn đề như hành lang thoát lũ, an toàn dòng chảy và đặc thù riêng của sông Hồng.
Cần thấy rằng, sông Hồng là một hệ thống rất lớn: tổng chiều dài khoảng 1.200km, trong đó hơn 600km nằm ở Trung Quốc, với hàng chục công trình thủy điện ở thượng nguồn. Đoạn chảy qua Việt Nam dài hơn 500km, riêng Hà Nội khoảng 128km. Tuy nhiên, đoạn qua khu vực trung tâm – nơi chứa nhiều giá trị văn hóa nhất – chỉ khoảng hơn 40km.
Phát triển sông Hồng không chỉ là câu chuyện của Hà Nội mà còn là vấn đề liên vùng, thậm chí liên quốc gia. Chúng ta phải tính toán cả thượng nguồn và hạ lưu, không thể chỉ bảo đảm an toàn cho một khu vực mà ảnh hưởng đến khu vực khác.
Một vấn đề rất quan trọng nữa là ứng dụng khoa học-công nghệ. Hiện nay, nhiều quốc gia như Hà Lan đã có kinh nghiệm “sống chung với nước”. Ngay tại Việt Nam, vùng Đồng bằng sông Cửu Long cũng đã có những mô hình thích ứng hiệu quả. Như vậy có thể thấy, sông Hồng là vấn đề được quan tâm từ lâu, nhưng phía trước vẫn còn nhiều thách thức.
Để sông Hồng trở thành biểu tượng phát triển mới của Hà Nội, cần tổng hòa nguồn lực, phát huy trí tuệ, kế thừa kinh nghiệm và đặc biệt là sự đồng thuận của người dân. Bởi sông Hồng không chỉ là một dòng sông, mà gắn với lịch sử, văn hóa và tâm thức của người Việt.
Làm thế nào để biến những giá trị văn hóa-lịch sử đó thành động lực cho một đô thị hiện đại? Đó chính là bài toán lớn đặt ra cho quy hoạch lần này.
Nhà báo Hữu Việt: Vừa qua, nhiều bạn đọc gửi về tòa soạn những câu hỏi, bày tỏ tâm tư về quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Chúng tôi xin khái quát nội dung được quan tâm nhiều nhất hiện nay. Nhiều người lo ngại việc phát triển đô thị ven sông có thể dẫn tới bê tông hóa, biến hai bờ sông thành những dải bất động sản giống nhau. Từ góc độ quy hoạch, theo ông, làm thế nào để phát triển mà vẫn giữ được bản sắc cảnh quan và hệ sinh thái?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Về câu hỏi này thì thực ra đây cũng là trăn trở của chính những người làm quy hoạch và các chuyên gia. Thực trạng hiện nay là nó đang bị biến hóa rồi. Và cũng không còn không gian mở, hầu như đóng kín, dòng sông bị quây kín lại. Chính vì thế ảnh hưởng khá nhiều đến công tác thoát lũ cũng như cảnh quan khu vực.
Chính vì vậy, với tư duy lần này, để xây dựng một trục cảnh quan thì tập trung đầu tiên là vấn đề tái cấu trúc và tái thiết lại khu vực đó. Và cách tiếp cận mang tính rất cốt lõi trong đồ án.
Thứ nhất là xác định không gian mở, hình thành các bờ sông của cộng đồng, cho cộng đồng.
Thứ hai, trên dọc 40 cây số của khu vực lõi trung tâm và các khu vực kế cận sẽ khoanh ra các vùng mang tính đặc trưng để khai thác hiệu quả, đảm bảo giá trị văn hóa cũng như tính bảo tồn của các di tích trong khu vực dọc sông.
Thứ ba là cách tư duy mang tính thuận thiên, phù hợp với các yếu tố tự nhiên và có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
Cụ thể ở đây là việc dành các bãi sông làm không gian mở cho cộng đồng; tạo những khoảng lùi bắt buộc và hình thành các không gian xanh liên tục như công viên, bãi bồi, các đường dạo, đường cho người dân để khu vực trung tâm có thể tiếp cận được với nó.
Việc khai thác phát triển các dự án, kể cả bất động sản nếu có, sẽ theo hướng lùi sâu vào bên trong và tạo ra khoảng trống để giải quyết khả năng tiếp cận của đô thị trung tâm với dòng sông, cũng như tạo ra tái định cư cho người dân trong khu vực, đồng thời tạo ra điểm nhấn trên trục và tầm nhìn của khu vực trung tâm đối với dòng sông.
Còn về phân vùng theo các khu trên cơ sở giá trị văn hóa, lịch sử thì hình thành các không gian mang tính lưu giữ giá trị di sản để bảo tồn, cũng như xây dựng các công trình bảo tàng thấp; hình thành các không gian kiến trúc hiện đại gắn với hoạt động đô thị, đồng thời bảo tồn các làng nghề truyền thống. Và một không gian nữa là không gian chủ yếu ở khu vực hạ lưu, đó là phát triển các không gian sinh thái có tính tự nhiên, đa dạng sinh học để làm phong phú hơn không gian của dòng sông.
Và “thuận thiên” ở đây là việc xác định tần suất lũ, các nguy cơ rủi ro của biến đổi khí hậu cũng như áp lực của hệ thống sông Hồng trong lòng Hà Nội để xây dựng các không gian, các chế độ điều tiết, điều tiết mực nước, vừa tạo cảnh quan, vừa có thể trị thủy trong giai đoạn tới.
Và đặc biệt, trong giai đoạn tới, công tác xây dựng sẽ không cho phép xây dựng các loại nhà chia lô liền kề tạo chắn dòng chảy. Đó là những vấn đề căn bản mà nhà quy hoạch cũng như đồ án lần này xác định.
Nhà báo Hữu Việt: Từ góc độ chuyên gia, theo ông, làm thế nào để tránh kịch bản này?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Thực ra là thế này, sông Hồng nếu chỉ tiếp cận dưới góc độ 2D thì đây là khu vực có quy mô rất lớn, đa dạng về văn hóa và chịu áp lực dân cư rất lớn. Hiện nay có hơn 21 vạn dân, với cảnh quan phong phú.
Nhưng có lẽ chúng ta cũng phải ghi nhận, trong suốt gần 30 năm qua, không chỉ riêng lần quy hoạch này, trục sông Hồng luôn được nghiên cứu theo hướng không phải là một trục “kín” mà kết hợp cả “mở” và “kín”. Chúng ta đã đề xuất được nhiều không gian kết nối. Tôi lấy ví dụ như:
-Khu vực chỗ bệnh viện Việt Xô kết nối sông Hồng bởi cái khu đó.
-Rồi Chương Dương, Phúc Xá, Thanh Trì.
-Bên kia Gia Lâm là khu vực Bát Tràng.
Nhưng có lẽ chúng ta cũng phải ghi nhận, trong suốt gần 30 năm qua, không chỉ riêng lần quy hoạch này, trục sông Hồng luôn được nghiên cứu theo hướng không phải là một trục “kín” mà kết hợp cả “mở” và “kín”.
Như vậy, việc kết nối không gian mở và kín đối với sông Hồng đã được nghiên cứu từ trước, đã thực hiện nhưng chưa trọn vẹn. Tôi hy vọng lần này, với tư tưởng đúng, chúng ta phải rà soát lại để xác định rõ những gì cần tiếp tục mở và những gì phải giữ gìn.
Với hơn 11.000 héc-ta đất, trong đó có 3.600 héc-ta là khu dân cư và gần 5.000 héc-ta đất bãi, chúng ta phải làm gì để kết hợp ở đây? Nếu nhìn lại, sẽ thấy trong 20 quốc gia nghiên cứu về sông Hồng Hà Nội, có nhiều đề xuất khai thác bãi sông:
-Bãi văn hóa, thể thao cho thanh niên.
-Bãi thể thao cảm giác mạnh.
-Bãi bảo tồn di sản ở gầm cầu Long Biên.
-Những công viên đa chức năng.
Và đặc biệt là họ rất chú trọng đến việc đáp ứng nhu cầu của thanh thiếu niên đang là thách thức rất lớn trong nội đô, thì các bãi này sẽ đáp ứng được chỗ này.
Nhà báo Hữu Việt: Từ tư duy đến thực tế luôn có khoảng cách. Nhiều quy hoạch tốt trên giấy nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc, thậm chí chậm hơn thực tế phát triển. Theo ông, thành phố Hà Nội cần làm gì để quy hoạch lần này thực sự đi trước một bước và dẫn dắt phát triển đô thị? Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là gì: giải phóng mặt bằng, cơ chế đầu tư hay phối hợp liên ngành?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Về câu chuyện làm thế nào để quản lý đi trước, đó là hiệu quả của khung pháp lý. Nhưng để làm được điều đó, trước hết phải công khai quy hoạch. Quy hoạch được duyệt phải công khai để toàn dân biết. Trong giai đoạn tới, với chỉ đạo của thành phố, việc công khai chắc chắn sẽ được thực hiện qua hệ thống mạng, công nghệ số và các hình thức tuyên truyền, để người dân nắm bắt, tham gia triển khai cũng như giám sát quy hoạch. Trước hết là phải công khai.
Việc thứ hai là ưu tiên phát triển hạ tầng, đặc biệt là hệ thống hạ tầng khung, để làm cơ sở hình thành không gian đô thị và kết nối các khu vực.
Việc thứ ba là kiểm soát, quản lý không gian thông qua nghiên cứu, khai thác đồng bộ hệ thống quy hoạch và triển khai thiết kế đô thị, bảo đảm tính liên tục và đồng bộ từ đầu tư các công trình lớn đến xây dựng các khu dân cư.
Còn về “điểm nghẽn”, thực tế đã được nói đến nhiều, với nhiều ý kiến và nhiều vấn đề. Nhưng mấu chốt ở đây chính là sự phối hợp.
Giữa giải phóng mặt bằng có “nút thắt” của nó.
-Rồi các vấn đề về cơ chế đầu tư còn thiếu linh hoạt.
-Hoặc sự phối hợp liên ngành còn có những lực cản, không khớp với nhau.
Thì đấy, cái lớn nhất ở đây chính là sự lệch pha, sự kết nối và sự thiếu đồng bộ.
Vì vậy, với lần này, “chìa khóa” chính là việc xây dựng một quy định pháp luật mới dành riêng cho Thủ đô, đó là Luật Thủ đô. Và Luật Thủ đô đang được xây dựng, điều chỉnh song song, đồng thời trong quá trình làm quy hoạch. Và chính đây là một công cụ tạo ra cơ chế kiểm soát cũng như các cơ chế hỗ trợ trong công tác phối hợp, điều hành chung cho sự phát triển.
Nhà báo Hữu Việt: Trong quá trình triển khai Nghị quyết, Hội Quy hoạch Phát triển Đô thị Việt Nam sẽ tham gia như thế nào trong việc tư vấn, phản biện xã hội và giám sát chất lượng quy hoạch để bảo đảm các định hướng đi đúng và phù hợp thực tiễn?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Tôi nói rằng Hội Quy hoạch và Phát triển Đô thị Việt Nam, cũng như Hội Hà Nội, là tổ chức có hệ thống trong cả nước và là thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Có thể nói, nhiệm vụ trọng tâm thời gian qua Hội đã thực hiện và sẽ tiếp tục là công tác tư vấn, phản biện, giám định xã hội, và đặc biệt là tham gia tuyên truyền để người dân được biết.
Và một lần nữa, Hội cũng đã tự nhận là sẵn sàng huy động tiềm năng trí tuệ của toàn bộ hội viên và những người làm cùng nghề để thực hiện được cái nhiệm vụ mà nếu như chính quyền và Đảng giao cho. Tôi cho là thế.
Thế nhưng ở đây tôi cho thế này, để thực hiện được quy hoạch lần này thì tôi nói rằng chúng ta rất mừng là Hà Nội đã có Luật Thủ đô 2012, hiệu lực tháng 7 năm 2013, sau đó là 2024, và bây giờ thì chúng ta lại đang dự thảo Luật Thủ đô mới.
Và tôi cho là để thực hiện được lần này, Luật Thủ đô 2024 thì có tới gần 80 chính sách đặc thù cho Hà Nội. Nhưng Luật Thủ đô lần này sửa đổi thì có tới 130 chính sách đặc thù, thì rất mong rằng sau khi được Quốc hội đồng ý, nhất trí thông qua, chúng ta phải cụ thể hóa. Vừa rồi mới cụ thể hóa được 7, 8 nghị định thôi, thì như vậy còn nhiệm vụ rất nặng nề.
Và chúng tôi cho rằng cái quan trọng nhất để thực hiện được quy hoạch lần này, để thực hiện được Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị, thì vấn đề quan trọng là chúng ta phải quán triệt được 9 nhiệm vụ trọng tâm hiện nay đang đề ra trong Luật Thủ đô. Thí dụ như là nâng cao vai trò nhận thức lên, huy động nhân dân, tập trung nguồn lực, rồi là phát huy vai trò của sáng tạo, sự đồng thuận, và đã thể hiện rất đầy đủ trong Luật Thủ đô lần này rồi là 9 nhiệm vụ trọng tâm đó.
Thế nếu như 9 nhiệm vụ trọng tâm này chúng ta cụ thể hóa ra, thí dụ như là “sáng tạo” thì phải sáng tạo ở lĩnh vực nào để nó không làm mất bản sắc. Hay là “nguồn lực” là thế nào? Ngân sách thì tập trung bao nhiêu, nguồn huy động người dân là như thế nào, và đặc biệt là khai phá được trí tuệ – 60% trí thức của cả nước tập trung ở Hà Nội, ở các viện nghiên cứu. Làm thế nào để họ cùng đến được với chúng ta. Họ đến không phải chỉ để nghe, mà họ phải có quyền tham gia.
Tôi cho rằng định hướng chung của Đảng, của Chính phủ, của Nhà nước và đặc biệt là cả nước trông chờ vào Luật Thủ đô sửa đổi lần này, thì hy vọng sau khi thông qua, chúng ta phải có tuyên truyền mạnh mẽ thì chúng ta sẽ thực hiện được quy hoạch lần này.
Và đây là vấn đề tôi cho là thách thức lớn nhất, tức là giữa định hướng và tổ chức thực hiện. Hai cái đó còn có khoảng cách. Muốn tránh khoảng cách này thì phải có người dân cùng tham gia, nhưng lãnh đạo phải nâng cao năng lực lên, nguồn lực phải dồi dào, phong phú, phải làm sao có sức hút để cho cả thế giới họ tham gia vào thì chúng ta sẽ thành công được.
Làm sao để chúng ta hấp dẫn để người ta đến. Đã từng có thời kỳ người nước ngoài họ đến ta rất nhiều, bây giờ không phải chỉ đến du lịch, mà họ phải đến để họ tìm hiểu và họ đóng góp cho Hà Nội. Thì đấy mới là cái chúng ta cần.
Nhà báo Hữu Việt: Chúng tôi xin chuyển tới ông Nguyễn Đức Hùng một câu hỏi từ bạn đọc: Quy hoạch Thủ đô dự báo dân số có thể đạt 17-19 triệu người sau năm 2065. Với quy mô đô thị lớn như vậy, đâu sẽ là những cực phát triển mới giúp giảm tải cho khu vực trung tâm hiện nay?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Với tốc độ phát triển cũng như dự báo của các chuyên gia quy hoạch, trong giai đoạn tới, dân số dự báo lên đến 17-19 triệu dân.
Với dự báo như vậy, trên một đô thị hiện hữu với mô hình “đơn trung tâm”, chắc chắn Hà Nội không đáp ứng được. Chính vì vậy, quy hoạch lần này xác định một cấu trúc và mô hình phát triển đô thị với 9 nội dung:
1. Chín cực tăng trưởng.
2. Chín trung tâm mới (trong đó có các trung tâm và trung tâm động lực).
3. Chín trục động lực.
Với các cực tăng trưởng, mỗi cực sẽ là một động cơ, một bộ vận hành để giảm tải cho khu vực trung tâm. Các trung tâm lớn tập trung dịch vụ cấp vùng, phục vụ người dân và tạo việc làm. Những trục động lực sẽ là các huyết mạch để kết nối các cực và các trung tâm với nhau.
Cụ thể, trong 9 cực mang tính trọng tâm, có những cực phát triển mới một cách mạnh mẽ:
-Cực phía Bắc (khu vực phía Bắc sông Hồng-Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn): Đây là trục động lực, một cực tạo động lực và hội nhập quốc tế, cũng như phát triển các kết nối với sân bay.
-Cực phía Nam: Hình thành các không gian đô thị công nghệ cao gắn với sân bay thứ hai cũng như không gian thể thao mới.
-Cực phía Tây (khu vực Hòa Lạc): Phát triển các khu khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và các hạt nhân phát triển kinh tế tri thức.
Ngoài ba cực quan trọng như vậy, tiếp tục củng cố, phát triển và bảo tồn các giá trị di sản của Thăng Long, tái cấu trúc hoặc tái thiết đô thị ở khu vực nội giới (nội đô lịch sử).
Rồi các khu vực phát triển mới tập trung theo hướng biển, hướng Hải Phòng, Quảng Ninh. Và các khu vực gián tiếp hỗ trợ phát triển các trung tâm giáo dục, y tế ở phía Tây, Tây Nam.
Và đặc biệt, cái tạo lập nên một sự biến đổi lớn, đó là – vẫn nhắc đi nhắc lại – cực sông Hồng. Nó chính là trục cảnh quan trung tâm, cũng như tạo nên một diện mạo, một “mặt tiền” và một biểu tượng mới cho Thủ đô.
Nhà báo Hữu Việt: Một nội dung được dư luận quan tâm là đề xuất sân bay thứ hai của Vùng Thủ đô, có thể gắn với mô hình “đô thị sân bay”. Theo ông, nếu hình thành cực phát triển này thì nó sẽ tác động như thế nào đến cấu trúc đô thị thành phố Hà Nội trong dài hạn?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Trước hết, thành phố Hà Nội hiện giờ chỉ có duy nhất sân bay Nội Bài là sân bay quốc tế.
Vừa rồi, ở phía Đông, khu vực Gia Lâm có sân bay Gia Lâm đang được xây dựng.
Các sân bay khác chủ yếu phục vụ mục đích quân sự, trong tương lai sẽ được chuyển đổi sang dân dụng, tuy nhiên số lượng này vẫn chưa đủ.
Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, hầu hết các thủ đô đều có ít nhất hai sân bay; có những thủ đô có từ ba đến bốn sân bay.
Việc có nhiều sân bay nhằm giải quyết hai vấn đề cốt lõi: đảm bảo an toàn giao thông và đặc biệt là đảm bảo an ninh hàng không.
Ngay trong quy hoạch hệ thống hàng không toàn quốc cũng đã định hướng hình thành sân bay thứ hai tại khu vực phía Nam Hà Nội để giải quyết các hoạt động hàng không cho khu vực này.
Trong các quy hoạch từ năm 2008 đến năm 2009 cũng đã có dự báo dành cho sân bay thứ hai tại khu vực Ứng Hòa.
Lần này, khi điều chỉnh ranh giới, các cơ quan chức năng sẽ xác lập lại quy mô, tính toán lại các chỉ số hàng không cũng như cân đối giữa khu vực phía Bắc và phía Nam.
Sự kết nối của các không gian mới và sân bay mới ở khu vực phía Bắc sẽ biến nơi đây thành một cửa ngõ phía Nam để đi vào khu vực trung tâm.
Thông qua đó, một hệ thống logistics đô thị hàng không sẽ được hình thành, gắn kết với các hoạt động thể thao quốc tế (Olympic) dự kiến sẽ tổ chức trong thời gian tới.
Nhà báo Hữu Việt: Một câu chuyện rất thực tế trong quy hoạch lần này là người dân sẽ là những người chịu tác động trực tiếp từ quy hoạch. Thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân về Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm từ ngày 13/3 và dự kiến kết thúc vào ngày 2/4. Các ý kiến đóng góp đã được tiếp thu như thế nào để hoàn thiện trước khi thông qua quy hoạch Thủ đô? Và sau khi thông qua, thành phố Hà Nội dự định sẽ tiếp tục hoàn thiện đồ án quy hoạch Thủ đô như thế nào?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Cụ thể, thời gian vừa qua, chúng ta đã tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Trong đó, đã lấy ý kiến của các cơ quan, các Bộ, các sở ngành, và đặc biệt là lấy ý kiến cộng đồng của 126 xã, phường, cũng như các cơ quan và những người dân quan tâm.
Với số lượng thống kê trong giai đoạn hiện nay, có khoảng trên 14.000 ý kiến đóng góp của người dân. Trong đó, cũng có những đóng góp của các tổ chức quốc tế đối với quy hoạch lần này.
Tất cả các ý kiến tiếp nhận này đều được cơ quan tư vấn cũng như các chuyên gia nghiên cứu, tổng hợp và đưa ra các nhóm vấn đề, những vấn đề cần giải quyết, cần giải trình và cần có những phản hồi.
Trên cơ sở các ý kiến góp ý đó, đơn vị đã tổng hợp, tiếp thu và báo cáo Hội đồng Thẩm định. Trên cơ sở kết quả của Hội đồng Thẩm định, nội dung này cũng đã được Hội đồng Nhân dân thông qua, như đã đặt vấn đề ngay từ đầu vào ngày 29 tháng 3 vừa qua.
Sau giai đoạn tiếp thu này sẽ đến giai đoạn hoàn thiện hồ sơ. Trong giai đoạn này, đơn vị tư vấn cùng với các chuyên gia, cũng như bên tổ chức (Sở Quy hoạch-Kiến trúc), sẽ hoàn thiện hồ sơ theo đúng Nghị quyết tháng 4 của Hội đồng Nhân dân Thành phố.
Sau giai đoạn tiếp thu này sẽ đến giai đoạn hoàn thiện hồ sơ. Trong giai đoạn này, đơn vị tư vấn cùng với các chuyên gia, cũng như bên tổ chức (Sở Quy hoạch-Kiến trúc), sẽ hoàn thiện hồ sơ theo đúng Nghị quyết tháng 4 của Hội đồng Nhân dân Thành phố.
Trên cơ sở Nghị quyết đó, với đầy đủ các vấn đề về tài liệu, bản vẽ, thuyết minh, đơn vị sẽ báo cáo Bộ Chính trị. Theo lộ trình hiện nay, ở cấp độ thông qua Hội đồng Nhân dân và báo cáo các cấp là đã xong.
Về phía Bộ Chính trị, đơn vị cũng đã báo cáo hai lần. Hiện tại đang báo cáo Thủ tướng để xin ý kiến thêm về thẩm quyền phê duyệt của Chính phủ.
Dự kiến trong giai đoạn tới, khoảng cuối tháng 4 này, chúng ta sẽ hoàn thành hồ sơ để đưa vào trình duyệt. Việc này cũng có khả năng sẽ đồng bộ với giai đoạn Quốc hội xem xét thông qua Luật Thủ đô.
Nhà báo Hữu Việt: Ông nhận định như thế nào về việc thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến công khai về quy hoạch Thủ đô để tạo sự đồng thuận của người dân?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Có thể nói rằng quy hoạch tầm nhìn 100 năm lần này đã có một quy trình rất bài bản và nghiêm túc, đặc biệt là lấy ý kiến của dân, và cũng đã kế thừa những kinh nghiệm những lần trước. Tôi nói ví dụ như có rất nhiều quy hoạch của Hà Nội, như quy hoạch được duyệt năm 1998, chúng ta tổ chức hai lần triển lãm ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để lấy ý kiến của dân.
Thế thì lần này, chúng ta phải nói là quy trình thực hiện đã bài bản, nhưng thêm vào đó là các đơn vị tư vấn nghiên cứu cũng rất nghiêm túc, khoa học và đặc biệt là có sự chỉ đạo rất sát sao. Nhưng tôi cho rằng để hoàn thiện quy hoạch này, chúng ta vẫn cần chú trọng tới một yếu tố nữa: đó là phải tự tiếp cận đồng bộ để nâng tầm nhận thức và tự chỉnh sửa trong quy hoạch.
Bởi vì có rất nhiều vấn đề trong quy hoạch lần này là ý kiến đã cơ bản tán thành, nhưng vẫn còn những khoảng trống cần xem xét. Tôi lấy ví dụ như vấn đề dân cư. Dân cư của Hà Nội như thế nào? Cả nước thì đang tăng lên, nhưng bối cảnh mới hiện nay là giảm tỷ lệ sinh và già hóa dân số rất nhiều. Và đặc biệt là Gen Z thì họ không thích cưới, họ không thích có con nữa, vân vân.
Thế thì ở đây dự kiến dân số của Hà Nội như thế nào? Có phải 15 triệu, 17 triệu như đã nói không? Phải có một nghiên cứu rất khoa học. Và qua tìm hiểu các ý kiến đóng góp của truyền thông và của nhân dân, tôi thấy có nhiều ý kiến khác nhau về dân số. Và đây là một bài học kinh nghiệm lớn trong quy hoạch Việt Nam.
Tôi nói ví dụ như quy hoạch gần đây, quy hoạch 2011, chúng ta tạo điều kiện để Hà Nội phấn đấu và dự báo lớn nhất đến 2030 là dân số 9 triệu 2. Nhưng đến 2025 vừa rồi dân số đã là 9 triệu 05 rồi. Tức là dự báo không chính xác sẽ dẫn đến một loạt vấn đề phải xử lý. Và cái này phải học kinh nghiệm của nhiều nước, ví dụ như Tokyo (Nhật Bản), họ làm rất tốt.
Chú trọng đến cơ cấu già hóa Hà Nội trong thời gian tới để dự báo được dân số với các cơ cấu thành phần, kể cả dân số quy đổi nữa: từ khách du lịch, từ khách vãng lai, vân vân. Nhưng quan trọng nhất là cơ cấu độ tuổi để chúng ta có chính sách phân bố hợp lý khi thực hiện đa cực, đa trung tâm. Đây là bài học các nước đã làm rất thành công và vươn lên nằm trong top hàng đầu thế giới.
Chúng ta bây giờ muốn đến năm 2045 trở thành một trong những Thủ đô đáng đến của thế giới, có sức cạnh tranh cao, thì phải giải quyết vấn đề này. Tôi nói ví dụ như vậy. Hay là vấn đề không gian chẳng hạn, không gian đa cực như thế nào? Còn về không gian kiến trúc thì cũng đã có nhiều nghiên cứu. Nhưng bây giờ còn những vấn đề không gian khác như không gian cảnh quan nên như thế nào. Và nhất là vấn đề đa tầng: tầng ngầm như thế nào cần nghiên cứu thêm, còn tầng cao đến đâu phải gắn với yếu tố an ninh quốc phòng.
Thế thì tóm lại, theo tôi, đã có kết quả tốt nhưng vẫn cần nâng cao năng lực để tiếp tục hoàn thiện, chỉnh sửa. Và ở đây không chỉ các nhà khoa học, chuyên gia, nhân dân mà các cơ quan truyền thông, báo chí phải có vai trò lấy ý kiến và chuyển tải, thì chúng ta mới có thể sớm trở thành hiện thực.
Tôi cho rằng các cơ quan truyền thông báo chí rất quan trọng: truyền hình, báo chí, báo giấy, báo điện tử, báo hình… phải tuyên truyền rộng rãi để người dân có ý kiến. Và chính báo chí là người thu nhận, sàng lọc để chuyển giao cho các cơ quan quản lý. Có như thế thì chất lượng mới cao được.
Nhà báo Hữu Việt: Quy hoạch dài hạn thường khiến người dân lo ngại về di dời, thay đổi sinh kế. Ông muốn gửi thông điệp gì để người dân hiểu rằng quy hoạch lần này hướng tới nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc đô thị, chứ không chỉ là sắp xếp lại không gian?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Việc đầu tiên và quan trọng nhất trong quy hoạch lần này là tập trung giải quyết triệt để các điểm nghẽn của thành phố, trước hết là tình trạng ùn tắc giao thông. Giải pháp trọng tâm là mở rộng hệ thống hạ tầng, tăng cường mạng lưới giao thông công cộng và bảo đảm tính kết nối đồng bộ.
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng được đặt lên hàng đầu, không chỉ dừng lại ở xử lý các vấn đề nội tại về nước, tiếng ồn hay khói bụi trong khu vực nội đô, mà còn mở rộng ra quy mô vùng. Điểm mới đáng chú ý là sự phối hợp kiểm soát ô nhiễm không khí liên vùng giữa Hà Nội và các tỉnh lân cận, xác định Hà Nội là trung tâm điều phối chung.
Đối với tình trạng ngập úng do biến đổi khí hậu và những trận mưa lớn bất thường, quy hoạch đề xuất các giải pháp cải thiện hệ thống tiêu thoát nước tại các dòng sông chính, cũng như xử lý cục bộ tại các khu vực dân cư.
Việc đầu tiên và quan trọng nhất trong quy hoạch lần này là tập trung giải quyết triệt để các điểm nghẽn của thành phố, trước hết là tình trạng ùn tắc giao thông. Giải pháp trọng tâm là mở rộng hệ thống hạ tầng, tăng cường mạng lưới giao thông công cộng và bảo đảm tính kết nối đồng bộ.
Song song với việc giải quyết hạ tầng, quy hoạch lần này không nhằm mục đích “chia lại” bất động sản, mà tập trung tổ chức lại không gian trên cơ sở tái thiết và tái cấu trúc đô thị. Việc di dời và tái định cư được thực hiện nhằm nâng tầm giá trị cuộc sống, đặc biệt ưu tiên phương án tái định cư tại chỗ để cải thiện những khu vực có tiện nghi thấp, chưa đáp ứng tiêu chuẩn sống thông minh.
Qua đó, mật độ cây xanh sẽ được tăng lên, không gian sống trở nên thông thoáng hơn. Một định hướng xuyên suốt khác là bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua mô hình “làng trong phố, phố trong làng”, giúp giữ gìn nét đặc trưng của Thủ đô trong quá trình hiện đại hóa.
Về mặt kinh tế và an sinh, quy hoạch gắn chặt việc tái thiết đô thị với sinh kế của người dân, bao gồm cả kinh tế vỉa hè và kinh tế đêm. Những không gian thương mại, dịch vụ và phố đi bộ sẽ được hình thành, sắp xếp quy củ và có sự kiểm soát chặt chẽ để vừa duy trì hoạt động kinh tế, vừa bảo đảm mỹ quan.
Đặc biệt, thành phố hướng tới mục tiêu tối ưu hóa thời gian di chuyển, phấn đấu để người dân chỉ mất khoảng 15 phút đi lại bằng phương tiện cá nhân hoặc 30 phút bằng phương tiện công cộng để tiếp cận các khu vực cần thiết.
Cuối cùng, yếu tố an toàn đô thị được đặt lên hàng đầu, từ việc bảo đảm hạ tầng điện, nước, chiếu sáng đến an ninh trật tự, nhằm tạo ra một môi trường sống ổn định và bền vững cho mọi cư dân.
Nhà báo Hữu Việt: Liệu có cơ chế nào để người dân được tham gia vào quá trình quy hoạch, thay vì chỉ là đối tượng chịu tác động?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Tôi nghĩ rằng ý kiến của người dân là vấn đề rất quan trọng, bởi định hướng đã xác định phát triển đô thị, đặc biệt là Hà Nội, phải đặt ra vấn đề phát triển như thế nào là của dân, do dân và vì dân.
Hiện nay, trong khung pháp lý của Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị và các hướng dẫn của Bộ Xây dựng đã nêu rất rõ quy trình về vai trò lấy ý kiến người dân. Vấn đề là ở khâu tổ chức thực hiện của chúng ta.
Trong đó, các quy định đã nêu rất đầy đủ về việc cần lấy ý kiến của nhóm dân cư nào, ở đâu, loại dân nào cần lấy ý kiến và loại nào để tham khảo, cũng như lấy ý kiến về vấn đề gì. Theo tôi, chúng ta nên phổ biến rộng rãi khung pháp lý này để khẳng định rõ định hướng của mình, từ đó để người dân cùng thực hiện.
Nếu các bên không thực hiện đúng, chúng ta cần tiến hành kiểm tra và nhắc nhở; thậm chí nếu chính quyền không thực hiện thì người dân có quyền kiểm tra, vì đó đã là quy định của pháp luật.
Đây là một yêu cầu rất cần thiết và có lẽ là câu chuyện xuyên suốt về quy hoạch, nhất là với tầm nhìn một trăm năm tới đây dành cho những người dân có liên quan đến Hà Nội. Mọi việc làm phải quán triệt tư tưởng “của dân, do dân và vì dân” thì mới có thể thành công.
Thực tế, tại một số chính quyền cơ sở cấp phường, xã đã thực hiện thành công mô hình này, vì vậy tôi rất mong Hà Nội sẽ sớm áp dụng rộng rãi để đạt được những thành quả tương tự.
Nhà báo Hữu Việt: Trong bối cảnh hội nhập, việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế là cần thiết, nhưng giữ được bản sắc riêng lại là điều không dễ. Thành phố Hà Nội có thể học gì từ các đô thị lớn trên thế giới, đặc biệt trong khai thác không gian ngầm?
Ông Nguyễn Đức Hùng: Khi mà nghiên cứu quy hoạch trong các thời kỳ cũng như lần này ấy, mỗi lần nghiên cứu chúng ta đều có đặt vấn đề là nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là những nước đang phát triển, hoặc là các quốc gia có văn hóa tương đồng, hoặc thể chế tương đồng.
Thế thì với lần này cũng vậy, việc nghiên cứu của quy hoạch lần này đã tập trung vào những định hướng ban đầu là hình thành đa tầng, đa lớp. Việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế ở đây cũng đã được đặt ra ở rất nhiều thành phố trên thế giới. Có nhóm thành phố là thủ đô, có nhóm thành phố là khu vực phát triển về công nghệ, công nghiệp, có khu vực có kinh nghiệm về phát triển phòng chống lũ lụt, biến đổi khí hậu, có khu vực phát triển về công viên cây xanh chẳng hạn.
Thì với các kinh nghiệm của các thành phố đó, ngoài việc học tập trực tiếp từ chuyên gia, cũng đã mời các nhóm tư vấn đến từ Mỹ, Đan Mạch, Singapore, Trung Quốc, Pháp để có thể giúp và có thêm kinh nghiệm sâu hơn trong công tác quy hoạch.
Ở đây tập trung vào công tác về không gian ngầm, đặc biệt nghiên cứu Tokyo, Nhật Bản - là điển hình của một thành phố đa tầng và kết nối khá bài bản. Rồi thành phố Montreal, Canada, hệ thống khai thác không gian ngầm cũng được coi như một thành phố trong lòng đất. Việc nghiên cứu Singapore cũng vậy, là một thành phố, một thủ đô, một đất nước rất nhỏ nhưng họ khai thác rất hiệu quả không gian hạ tầng ngầm, đặc biệt là hạ tầng ngầm.
Và với kinh nghiệm này, như Singapore chẳng hạn, đã khai thác không gian ngầm rất hiệu quả, tối đa hiệu quả, dành toàn bộ không gian mặt đất chủ yếu cho không gian xanh và tạo ra môi trường sống.
Với tất cả những kinh nghiệm của các nước trên thế giới như vậy, đặc biệt là các chuyên gia đến từ các quốc gia hỗ trợ cho thành phố, thì Hà Nội sẽ tập trung, sau khi quy hoạch triển khai, đồng thời sẽ làm bản đồ quy hoạch gọi là không gian ngầm tổng thể của Thủ đô.
Và trên cơ sở đó để có thể đầu tư các hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng kết nối, thương mại dịch vụ và tính cho dài hạn ở tầm nhìn như chúng ta đã ban đầu xác định là tầm nhìn trăm năm.
Nhà báo Hữu Việt: Đâu là “giới hạn” trong việc học hỏi, tức là làm thế nào để không đánh mất bản sắc của một đô thị nghìn năm văn hiến?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Đối với Hà Nội, vấn đề học tập kinh nghiệm nước ngoài là vấn đề rất được quan tâm trong lĩnh vực quy hoạch. Và chúng ta đã có một quá trình làm việc này.
Ví dụ như vừa rồi, tiến sĩ cũng đã nêu ra về vấn đề học tập, có nêu cụ thể. Thế nhưng vấn đề đặt ra ở đây là, tôi cho rằng cần phải quan tâm là học tập nhưng có chọn lọc.
Tôi nói trong quá trình làm việc, tôi đã tiếp cận rất nhiều chuyên gia, kể từ như bên sông Hồng, Mỹ, Hà Lan, Seoul (Hàn Quốc), có rất nhiều. Nhưng vấn đề cuối cùng phải nói là lãnh đạo đủ tầm và nghe ý kiến những chuyên gia phù hợp để chúng ta lựa chọn.
Ví dụ như có những chuyên gia khi làm quy hoạch đề nghị chúng ta giãn hết dân phố cổ đi để làm cảnh quan cho đẹp. Có những chuyên gia lại đề nghị phố cổ mở rộng đường ra để ô tô đi lại thoải mái. Chúng ta không nghe!
Thế thì ở đây, vấn đề là học giới hạn đến đâu, tôi cho là tùy thuộc vào mục tiêu của từng phân kỳ mà chúng ta làm, và đặc biệt là tầm nhìn của lãnh đạo và của đội ngũ cán bộ, biên chức.
Tôi nói thế bởi vì hiện nay chính quyền hai cấp, chúng ta thấy cấp thành phố không thay đổi nhiều nhưng riêng cấp phường hiện nay quyền lực rất lớn. Hơn 150 quyền họ đã có quyền làm. Vậy thì lực lượng đã đồng bộ chưa? Nhất là các quyết sách về vấn đề này thì phải có đủ tầm đồng bộ.
Tôi nói rằng học kinh nghiệm là rất lớn, nhưng cái này đã chỉ đạo rồi: văn minh, bản sắc là quan trọng rồi mới đến sáng tạo. Thì đây là vấn đề cần quan tâm.
Và hy vọng rằng quy hoạch lần này chúng ta phải làm tốt được. Và chúng tôi hy vọng rằng những nhà lãnh đạo mới, những người mà vừa rồi dân vừa bầu cử xong thành công, sẽ làm tốt những lời hứa cam kết đối với nhân dân.
Nhà báo Hữu Việt: Xin được hỏi cả hai vị khách mời: Để hiện thực hóa tầm nhìn 100 năm, theo ông, thành phố Hà Nội đang cần nhất điều gì: thể chế đặc thù, nguồn lực đầu tư, dữ liệu quy hoạch hiện đại hay sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành?
Chuyên gia Đào Ngọc Nghiêm: Thứ nhất, rất mừng là chúng ta có đột phá về quy hoạch tầm nhìn 100 năm. Hơn nữa là chúng ta có Nghị quyết 02 thay thế cho Nghị quyết 15. Như vậy, tuyệt vời hơn nữa là chúng ta lại có Luật Thủ đô đang sửa đổi.
Là một trong những người tham gia xây dựng Luật Thủ đô 2011, chúng tôi biết điều này thể hiện sự quan tâm của cả nước đối với Hà Nội. Và chúng ta có Luật Thủ đô có hiệu lực từ 01/07/2013, nhưng sau đó chúng ta lại có điều chỉnh. 78 nghị định đặc thù, còn lần này là 130 đặc thù của Luật Thủ đô.
Và phải nói rằng luật chỉ quy định khung thôi. Còn vấn đề ở đây là cụ thể hóa và thực hiện các chính sách cụ thể như thế nào.
Tôi lấy thí dụ sông Hồng, khối nông dân đã có chính sách về bãi sông rồi. Về khoa học công nghệ, đã có những ưu đãi cho các chuyên gia, các nhà khoa học công nghệ, nhưng đã thực hiện được chưa? So với văn hóa thì như thế nào?
Thế thì tôi cho rằng vấn đề là thế này: có được Luật Thủ đô thông qua lần này là điều rất mong muốn, đó là công cụ để chúng ta thực hiện quy hoạch và Nghị quyết 02.
Thế muốn thực hiện được cái này thì tốt nhất là chúng ta cũng lại nói cách khác nữa, tức là vẫn trở lại vấn đề: phải nâng tầm vai trò của người dân lên để chúng ta giám sát.
Ở đây, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, Mặt trận Tổ quốc vào cuộc để giám sát xem có thực hiện được hay không, thì chúng ta sẽ thực hiện thành công.
Ông Nguyễn Đức Hùng: Thực sự là riêng Hà Nội có luật, và Luật Thủ đô sẽ điều chỉnh. Một trong 10 nước trên thế giới có luật Thủ đô. Thế giới chỉ có 10 nước có luật này.
Và đây chính là vấn đề quan trọng nhất, như chúng ta nói, đó là vấn đề thể chế. Luật Thủ đô chính là một công cụ quan trọng để xây dựng thể chế, một hệ thống đồng bộ để tổ chức thực hiện.
Ví dụ như cơ chế thể chế có thể là một chìa khóa để huy động nguồn lực. Nếu không có nó, như thông thường thì rất khó, nhưng có một thể chế cụ thể sẽ mở nguồn lực, huy động nguồn lực người dân, nguồn lực xã hội, cũng như phát huy các nguồn lực của doanh nghiệp, rồi tập trung phát triển các doanh nghiệp nhà nước.
Hoặc là thể chế liên quan đến giải quyết xung đột, rồi sự phối hợp trong quá trình triển khai. Chắc các bạn cũng biết, nếu không có công cụ, không có cách thức phối hợp giữa Hà Nội với các bộ, ngành; Hà Nội với các địa phương; Hà Nội với Trung ương hoặc ngược lại; hoặc giữa các sở, ngành với nhau; hoặc đơn giản như trong các khu phố với nhau thôi, nếu không có một cơ chế phối hợp chặt chẽ, một thể chế vượt trội thì cũng rất khó triển khai.
Và vấn đề quan trọng cuối cùng trong thể chế là tư duy và cách thức dài hạn, kiểm soát phát triển theo quy hoạch, định hướng theo quy hoạch, nhưng phải mang tính dài hạn và duy trì liên tục, lâu dài.
Có thể mọi người tưởng tượng việc phát triển này giống như một con tàu: các dữ liệu chỉ là nguyên liệu thôi, còn những định hướng, định vị, quyết sách của Trung ương mang tính dẫn hướng. Còn các nguồn lực hiện nay như dữ liệu...
Nhà báo Hữu Việt: Xin cảm ơn ông Nguyễn Đức Hùng, Phó Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội và ông Đào Ngọc Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam!
Chỉ đạo: Nguyễn Ngọc Thanh
Tổ chức sản xuất: Hoàng Nhật-Hồng Vân-Kiều Hương
Thực hiện: Trương Ngọc-Thuỳ Linh- Lê Đức
