Tổng kết 40 năm Đổi mới không chỉ là nhìn lại một chặng đường phát triển, mà quan trọng hơn, là chắt lọc những bài học thực tiễn và lý luận có giá trị bền vững, để định hướng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Điều này được nhấn mạnh trong cuộc trao đổi giữa ông Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương với phóng viên Báo Nhân Dân.
----------------------------------
Phóng viên: Thưa ông, trong các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, vì sao Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam được xác định là một nội dung đặc biệt quan trọng, và báo cáo này khác gì về ý nghĩa so các báo cáo tổng kết theo từng nhiệm kỳ trước đây?
Ông Nguyễn Đức Hà: Trong các văn kiện lớn trình Đại hội XIV của Đảng lần này có ba báo cáo lớn. Thứ nhất là Báo cáo chính trị. Thứ hai là Báo cáo tổng kết 40 năm Đổi mới. Thứ ba là Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng và đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng. Ngoài ra còn một số báo cáo khác.
Trong ba báo cáo lớn trình Đại hội, có một báo cáo rất quan trọng là Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 40 năm đổi mới. Báo cáo này có ý nghĩa quan trọng bởi vì 40 năm so với lịch sử thế giới hay lịch sử dân tộc thì rất ngắn, nhưng so với thời gian từ khi thành lập nước đến nay thì đó là một khoảng thời gian khá dài, đủ “độ chín” để chúng ta nhìn nhận, đánh giá và đúc kết ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn quý báu.
Ý nghĩa quan trọng nhất là, trên cơ sở nhìn nhận lại, đánh giá lại thực tiễn công cuộc Đổi mới, chúng ta tổng kết thực tiễn để nâng lên thành lý luận. Tổng kết một năm đã cần rút kinh nghiệm, tổng kết một nhiệm kỳ càng cần rút kinh nghiệm, nhưng đây là tổng kết 40 năm, tương đương với 8 nhiệm kỳ Đại hội, nên giá trị tổng kết và những bài học kinh nghiệm rút ra khác hẳn và có giá trị hơn nhiều. Thực tiễn cho thấy, việc tổng kết 5 năm, 10 năm chưa chắc đã được đúc kết thành lý luận, nhưng việc tổng kết thực tiễn xuyên suốt 40 năm thì những bài học kinh nghiệm rút ra thì rất có giá trị để nâng lên thành lý luận, rồi chính lý luận đó lại quay lại soi đường, chỉ lối cho hành động thực tiễn, định hướng chỉ đạo hoạt động trong những năm tới.
Vì vậy, Đảng ta rất quan tâm tổng kết thực tiễn. Tôi lấy ví dụ: Từ Đại hội XI trở về trước, văn kiện Đại hội ghi: “Chú trọng nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn”. Nhưng từ Văn kiện Đại hội XII, Đảng ta nhấn mạnh tổng kết thực tiễn và đổi thực tiễn lên trước lý luận là: “Chú trọng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu, phát triển lý luận”.
Chỉ đổi vị trí trong câu thôi đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng ta là: Phải đặc biệt coi trọng thực tiễn, mọi chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý và phải giải đáp, làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn đặt ra. Chính thông qua hoạt động thực tiễn, mới bộc lộ cả ưu, khuyết, vướng mắc, bất cập, khó khăn chưa lường hết. Do đó, nhiều vấn đề mới, khó, chưa có trong tiền lệ, Đảng ta phải chỉ đạo thực hiện thí điểm để thực tiễn kiểm nghiệm, sau đó, mới tổng kết rút kinh nghiệm và nếu tốt thì sẽ nhân ra diện rộng.
Phóng viên: Dự thảo văn kiện Đại hội Đảng XIV đã đúc kết 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm Đổi mới. Theo ông, điều gì làm nên chiều sâu và giá trị bền vững của những đúc kết này so việc tổng kết theo từng nhiệm kỳ hay giai đoạn ngắn hơn?
Ông Nguyễn Đức Hà: Quan điểm nhất quán của Đảng ta là “bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý”. Trong Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Đảng ta đã rút ra 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm Đổi mới. Đây là những đúc kết thực tiễn quan trọng. Điểm cốt lõi xuyên suốt các bài học ấy chính là tinh thần yêu nước, sức mạnh đoàn kết dân tộc và quan điểm “dân là gốc” của Đảng ta. Đó chính là nền tảng, tạo nên những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới và cũng là bản lĩnh, niềm tin, động lực phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nhìn lại 40 năm trước, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) là Đại hội khởi xướng sự nghiệp đổi mới, Đảng ta xác định phải đổi mới toàn diện nhưng trước hết phải đổi mới tư duy và mở đầu quan trọng nhất là đổi mới tư duy kinh tế. Suốt 40 năm qua, tinh thần đó luôn xuyên suốt.
Cũng tại Đại hội VI, Đảng đặt ra yêu cầu phải quán triệt và thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân vi bản” - “dân là gốc” - một truyền thống mang tư tưởng lớn và tính nhân văn sâu sắc được kế thừa từ các bậc hiền nhân. Đến nay, sau 40 năm, những kinh nghiệm, đúc rút từ thực tế đã minh chứng và khẳng định quan điểm này là hoàn toàn đúng đắn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986).
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986).
Chúng ta biết rằng, trong giai đoạn 1986-1990, khi xuất hiện “mầm mống” và tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế ở Liên Xô và một số nước Đông Âu. Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhận thức rất rõ về việc “phải kiên định và không được phép xa rời chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Chính vì thế, Đảng ta đã chủ động chuẩn bị để đến Đại hội VII (năm 1991), Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta (Cương lĩnh 1991). Trong đó, nhấn mạnh phải kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc về xây dựng Đảng. Đến nay, trong Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh quan điểm này và đây cũng là bài học kinh nghiệm thứ nhất được rút ra qua 40 năm đổi mới.
Như vậy, việc tổng kết sâu sắc, có hệ thống 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới sẽ cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh và càng khẳng định quan điểm nhất quán trên của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn. Vì thế, những bài học này không chỉ là “hành trang”, mà còn là kim chỉ nam để chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong kỷ nguyên mới.
Việc tổng kết sâu sắc, có hệ thống 5 bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh, khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng ta là bám sát thực tiễn, lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý; những bài học ấy không chỉ là ‘hành trang’ được đúc rút từ lịch sử, mà còn là kim chỉ nam để soi đường, chỉ đạo hoạt động thực tiễn trong kỷ nguyên mới.
Ông Nguyễn Đức Hà
Nguyên Vụ trưởng Vụ Cơ sở Đảng, Ban Tổ chức Trung ương
Phóng viên: Về những yếu tố nền tảng xuyên suốt 40 năm Đổi mới, theo ông đâu là giá trị cốt lõi nhất đã tạo nên sức bền và bản lĩnh Việt Nam trên con đường phát triển đã lựa chọn?
Ông Nguyễn Đức Hà: Từ những góc nhìn khác nhau, mỗi người có thể có cách lý giải cho riêng mình. Nhưng theo tôi, giá trị xuyên suốt và cốt lõi, được coi như trụ cột, bệ đỡ của tất cả những bài học kinh nghiệm được tổng kết trong Báo cáo tổng kết 40 năm đổi mới chính là tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, lòng tự tôn, tự lực, tự hào của dân tộc Việt Nam.
Bởi nếu không có tinh thần dân tộc, sự đoàn kết và lòng yêu nước thì không có quan điểm “dân là gốc”, và cũng chẳng có đổi mới tư duy hay sự kiên định nào cả. Thực tế minh chứng, dân tộc Việt Nam là dân tộc có truyền thống văn hiến hàng nghìn năm lịch sử, có nền tảng văn hóa cốt lõi rất riêng. Chính truyền thống và bản sắc văn hóa, tinh thần yêu nước và sự đoàn kết đã tạo thành sức mạnh của dân tộc Việt Nam trong quá trình phát triển.
Phóng viên: Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, quan điểm “lấy dân làm gốc” cần được hiểu và cụ thể hóa như thế nào để vừa giữ vững sự ổn định chung, vừa khơi thông tối đa nguồn lực phát triển từ xã hội, thưa ông?
Ông Nguyễn Đức Hà: Trước hết, có thể khẳng định, chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để minh chứng về sự đúng đắn của quan điểm “lấy dân làm gốc” mà Đảng ta đã xác định từ Đại hội VI.
Chúng ta biết rằng, sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ sức mạnh của nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Lịch sử đã minh chứng rất rõ điều này. Khi tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám, Đảng ta chỉ có khoảng 5.000 đảng viên. Nếu chỉ dựa vào lực lượng này thì không thể làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám “long trời lở đất” như vậy được, mà đó là sức mạnh của cả dân tộc, của hàng chục triệu đồng bào, và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cũng vậy. Hoặc ngày nay, dù Đảng ta có hơn 5 triệu đảng viên, song nếu chỉ dựa vào lực lượng đảng viên thì không thể làm nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới mà Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu to lớn đó là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, của 100 triệu người dân.
Còn việc cụ thể hóa quan điểm “dân là gốc” như thế nào? Tôi cho rằng vấn đề căn cốt là mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước phải thể hiện được ý chí, nguyện vọng chính đáng của nhân dân; nhằm tới mục tiêu phục vụ lợi ích của nhân dân và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bởi nhân dân là chủ thể, là trung tâm, là động lực của sự phát triển. Ngược lại, khi Đảng, Nhà nước thật sự quan tâm đời sống của nhân dân, chăm lo người dân, thì nhân dân sẽ tin tưởng Đảng và tích cực đi theo Đảng, mang hết sức mình thực hiện các nhiệm vụ được Đảng giao, từ đó sức mạnh của Đảng lại càng được nhân lên gấp bội. Vì thế, một trong 5 nguyên tắc tổ chức của Đảng quy định trong Điều lệ Đảng là: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân”.
Sinh thời, Bác Hồ kính yêu luôn căn dặn chúng ta: “Việc gì có lợi cho dân thì cố gắng làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh”, bởi “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Bác còn nói, “trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân”. Thấm nhuần những lời dạy của Người, Đảng ta luôn quán triệt và thực hiện quan điểm: “Dựa vào dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và xây dựng đội ngũ cán bộ”.
Điều thể hiện rõ nhất là, Dự thảo văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã được công bố công khai để lấy ý kiến tham gia, đóng góp của nhân dân. Điều đó vừa thể hiện tinh thần phát huy dân chủ thật sự, vừa làm cho Văn kiện Đại hội là sản phẩm trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và phản ánh được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.
Phóng viên: Bài học “bám sát thực tiễn, phản ứng chính sách kịp thời, coi trọng tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát” đang đặt ra đòi hỏi gì mới đối với năng lực lãnh đạo, điều hành hiện nay, thưa ông?
Ông Nguyễn Đức Hà: Như tôi đã nói ở trên, từ Đại hội XII, Đảng ta đặc biệt chú trọng việc tổng kết thực tiễn và đã cụm từ “tổng kết thực tiễn” lên trước cụm từ “nghiên cứu lý luận”. Vì vậy, trong thực tiễn, khi có những vấn đề mới, khó, chưa có trong tiền lệ và cũng chưa có sự thống nhất cao, thì tiến hành chỉ đạo “thực hiện thí điểm” để thực tiễn bộc lộ cả ưu điểm, khuyết điểm, thuận lợi, khó khăn, vướng mắc, bất cập, kể cả những điều chúng ta chưa bao giờ nghĩ đến. Từ đó chúng ta tổng kết, rút kinh nghiệm và quyết định “có làm hay không? Và làm như thế nảo?
Qua tổng kết hoạt động thực tiễn, chúng ta sẽ đúc kết, rút ra những bài học kinh nghiệm, từ những bài học kinh nghiệm đó được nâng lên thành lý luận và lý luận đó lại trở lại chỉ đạo thực tiễn. Như vậy, lý luận và thực tiễn luôn gắn bó với nhau.
So sánh quy mô GDP các quốc gia Đông Nam Á trong giai đoạn từ 1985 đến 2022 (Nguồn: IMF)
Vì thế, Đảng ta cũng luôn quán triệt quan điểm “bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn của chân lý”. Đặc biệt, khi có những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, chúng ta không được phép trốn chạy, chối bỏ thực tiễn, mà phải nghiêm túc xem xét, nghiên cứu, tìm lời giải đáp cả về lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, khi ban hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chúng ta phải dự báo những khó khăn, vướng mắc và những rủi do, bất cập tiềm ẩn có thể xảy ra để chủ động giải quyết. Tất nhiên, việc dự báo cũng không bao giờ bao trùm hết được, vì thực tiễn cuộc sống luôn thay đổi và có những yếu tố bất ngờ, khó đoán định.
Một khuyết điểm tồn tại khá lâu mà Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra là khâu “tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu”. Câu hỏi thường được đặt ra là: Tại sao chủ trương đúng, nghị quyết đúng nhưng lại chậm đi vào cuộc sống? Theo tôi, nguyên nhân chính là do khâu tổ chức thực hiện chưa quyết liệt, mạnh mẽ, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào cuộc. Việc tổ chức thực hiện phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, huy động nguồn lực, phân công trách nhiệm…
Để khắc phục điểm yếu đó, trong thời gian gần đây, Đảng ta đã đề ra nhiều giải pháp và đang rất quyết liệt thực hiện. Đó là chủ trương phân cấp, phân quyền rõ ràng, như: “địa phương quyết - địa phương làm - địa phương chịu trách nhiệm”, hay thực hiện theo phương châm “sáu rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả. Như vậy, sẽ khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm, “cha chung không ai khóc. Thực tế chỉ đạo các công trình lớn, công trình trọng điểm quốc gia thời gian qua cho thấy, tinh thần “sáu rõ” đã được quán triệt và áp dụng triệt để nên nhiều dự án lớn đã hoàn thành vượt thời gian với chất lượng tốt.
Tại Trung tâm Hội nghị quốc gia - nơi dự kiến diễn ra Đại hội XIV của Đảng từ ngày 19 đến 25/1, công tác trang trí, khánh tiết đã dần hoàn tất. (Ảnh: DUY LINH)
Tại Trung tâm Hội nghị quốc gia - nơi dự kiến diễn ra Đại hội XIV của Đảng từ ngày 19 đến 25/1, công tác trang trí, khánh tiết đã dần hoàn tất. (Ảnh: DUY LINH)
Đại hội XIV lần này cũng có điểm mới rất đặc biệt, đó là lần đầu tiên Ban Chấp hành Trung ương xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội và coi đó là một bộ phận cấu thành của Báo cáo chính trị.
Cùng với việc thảo luận Báo cáo chính trị, các đại biểu tham dự Đại hội sẽ thảo luận cả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Chương trình hành động nói rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, nguồn lực, thẩm quyền, tiến độ triển khai, thời gian thực hiện và cả những khó khăn, vướng mắc tiềm ẩn có thể xảy ra để các cấp, các ngành chủ động triển khai thực hiện. Tôi cho rằng, đây là một giải pháp thiết thực, một cách làm hay để khắc phục điểm yếu lâu nay và sớm đưa nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Ngày xuất bản: 1/2026
Tổ chức thực hiện: HOÀNG NHẬT
Nội dung: QUỲNH LAN - MINH PHƯƠNG
Trình bày: PHAN THẠCH - HÀO NGUYỄN
