Kiều bào hướng về quê hương bằng muôn vàn con đường khác nhau, nhưng tất cả những dòng chảy ấy đều là nguồn lực quý giá của quốc gia. Và tất cả đều kỳ vọng tinh thần hòa hợp, cầu thị, trân trọng sẽ được thể hiện ngày càng rõ nét, để bất kỳ người Việt Nam nào dù ở bất kỳ đâu, chỉ cần có mong muốn đóng góp cho quê hương đều tìm thấy một cánh cửa rộng mở. Đây cũng chính là tinh thần nhất quán và xuyên suốt được Đảng và Nhà nước gửi gắm trong Nghị quyết số 23-NQ/TW.
Sau hơn hai thập niên kể từ khi Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được ban hành, năm 2004, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có nhiều thay đổi sâu sắc về quy mô, cơ cấu thế hệ, trình độ, vị thế trong xã hội sở tại cũng như phương thức gắn bó và đóng góp với quê hương. Là một người có nhiều năm sinh sống, nghiên cứu văn hóa và trực tiếp tham gia hoạt động cộng đồng tại Pháp, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà (Việt kiều Pháp) rất đồng cảm và thấu hiểu những cảm xúc của cộng đồng người Việt Nam định cư trên đất Pháp.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, ngày 11/9/2026. (Ảnh: TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Pháp, ngày 11/9/2026. (Ảnh: TTXVN)
Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, thực tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đặc biệt đánh giá cao tinh thần trân trọng, cầu thị và lắng nghe các ý kiến đóng góp, đề cao hòa hợp dân tộc và hướng tới tương lai được đề cập rất rõ trong Nghị quyết số 23-NQ/TW. Chính vì vậy, bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.
Tuy nhiên, đối với bà con người Việt Nam ở nước ngoài, điều được kỳ vọng không chỉ là sự khẳng định về vị trí và tình cảm, mà quan trọng hơn là những quan điểm mới có trong văn kiện chính trị quan trọng đó sẽ được cụ thể hóa thành những chính sách minh bạch, ổn định, thuận tiện, dễ tiếp cận, qua đó giảm bớt những rào cản không cần thiết và tạo ra các đầu mối kết nối rõ ràng để họ thật sự có thể đồng hành, tham gia và đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà (thứ ba, bên trái) được trao tặng danh hiệu “Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài năm 2025”. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà (thứ ba, bên trái) được trao tặng danh hiệu “Sứ giả tiếng Việt ở nước ngoài năm 2025”. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Chính vì sự đa dạng đó, cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài nói chung và ở Pháp nói riêng kỳ vọng: Những định hướng của Nghị quyết này sẽ được cụ thể hóa và sự thay đổi đó không đơn thuần là sự điều chỉnh về cách diễn đạt, mà phản ánh một cách tiếp cận chủ động và toàn diện hơn.
Tương tự, với cộng đồng người Việt Nam hiện đang sinh sống, học tập và lao động tại Hàn Quốc ước vọng trở về cống hiến, góp sức xây dựng quê hương luôn là một khát khao cháy bỏng. Chia sẻ về vấn đề này, Đại sứ Việt Nam tại Hàn Quốc Vũ Hồ cho rằng, hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài là hơn 6,5 triệu cuộc đời, hoàn cảnh và cách thức gắn bó khác nhau với Tổ quốc. Không thể kết nối một cộng đồng đa dạng như vậy chỉ bằng một phương thức. Nhưng có một điểm chung có thể tạo nên sự gắn kết. Đó là để mỗi người Việt Nam, dù ở đâu, đều cảm thấy mình có một vị trí trong hành trình phát triển của đất nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, ngày 10/8/2025. (Ảnh: TTXVN)
Tổng Bí thư Tô Lâm và Phu nhân gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, ngày 10/8/2025. (Ảnh: TTXVN)
Liên hệ với nội dung Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nói “Sức mạnh của hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước phải được gắn với sức mạnh của 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc trên khắp thế giới”, theo Đại sứ Vũ Hồ, sức mạnh quốc gia không dừng lại ở đường biên giới. Nó còn nằm trong tri thức của những nhà khoa học Việt Nam tại các trung tâm nghiên cứu trên thế giới; trong mạng lưới của những doanh nhân trên các thị trường quốc tế; trong kinh nghiệm của hàng triệu người đã sống, học tập và làm việc ở những môi trường khác nhau; và trong tình cảm với quê hương được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
“Nghị quyết số 23-NQ/TW mở ra một cách nhìn rộng hơn về nguồn lực ấy. Phần việc còn lại là biến cách nhìn thành cơ chế, biến cơ chế thành kết nối và biến kết nối thành những đóng góp cụ thể. Khi đó, hơn 6,5 triệu người Việt ở nước ngoài không chỉ là những người Việt sống xa Tổ quốc, họ thực sự trở thành một phần của nguồn lực Việt toàn cầu”, Đại sứ Vũ Hồ nhấn mạnh.
Lãnh đạo Đại sứ quán, quan khách Hàn Quốc và quốc tế cùng bà con Việt kiều dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, Quốc khánh 2/9 và 33 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc, diễn ra tại thủ đô Seoul, ngày 28/8/2025. (Ảnh: TTXVN)
Lãnh đạo Đại sứ quán, quan khách Hàn Quốc và quốc tế cùng bà con Việt kiều dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công, Quốc khánh 2/9 và 33 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc, diễn ra tại thủ đô Seoul, ngày 28/8/2025. (Ảnh: TTXVN)
Đối với lĩnh vực văn hóa, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giữ một vị trí đặc biệt, bởi họ đồng thời hiện diện trong hai không gian văn hóa, vừa có mối liên hệ máu thịt với quê hương, vừa thấu hiểu ngôn ngữ, văn hóa và phương thức tiếp nhận của xã hội nơi mình đang sinh sống. Lợi thế ấy giúp kiều bào không chỉ mang văn hóa Việt Nam ra thế giới, mà còn có khả năng diễn giải văn hóa Việt Nam theo cách mà công chúng sở tại có thể dễ dàng thấu hiểu và đồng cảm.
Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương, nhất là khái niệm “đại sứ văn hóa” hay “đại sứ hữu nghị”. Theo đó, “đại sứ văn hóa” không nhất thiết phải là một danh hiệu chính thức mà trước hết là một vai trò thiết thực trong đời sống. Vì vậy, quảng bá văn hóa không nên chỉ dừng lại ở việc mang một tiết mục nghệ thuật ra nước ngoài, mà quan trọng hơn là phải kể được câu chuyện phía sau văn hóa, cũng như tạo ra được sự đối thoại chân thành giữa con người với con người.
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà giới thiệu về văn hóa Việt Nam đến bạn bè Pháp. (Ảnh do nhân vật cung cấp)
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà giới thiệu về văn hóa Việt Nam đến bạn bè Pháp. (Ảnh do nhân vật cung cấp)
“Đây chính là lĩnh vực mà kiều bào có thể phát huy tốt nhất lợi thế của mình. Bởi, một nghệ nhân có thể mang di sản của cộng đồng giới thiệu với công chúng quốc tế, một nhà nghiên cứu giúp người nước ngoài hiểu sâu hơn về đất nước, một nghệ sĩ sử dụng chất liệu Việt Nam trong sáng tạo đương đại, hay một người trẻ giới thiệu về quê hương với bạn bè quốc tế đều đang góp phần xây dựng hình ảnh đất nước”, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà chia sẻ.
Kiều bào hướng về quê hương bằng muôn vàn con đường khác nhau, nhưng tất cả những dòng chảy ấy đều là nguồn lực quý giá của quốc gia. Cuối cùng, tất cả đều kỳ vọng tinh thần hòa hợp, cầu thị, trân trọng sẽ được thể hiện ngày càng rõ nét, để bất kỳ người Việt Nam nào dù ở bất kỳ đâu, chỉ cần có mong muốn đóng góp cho quê hương đều tìm thấy một cánh cửa rộng mở.
Riêng với Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà, kỳ vọng lớn nhất đặt vào Nghị quyết số 23-NQ/TW không chỉ là củng cố sợi dây gắn bó bền chặt giữa hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc, mà còn tạo ra những cơ chế thực chất để cộng đồng phát huy trọn vẹn vai trò chủ thể, vươn lên thành nguồn lực chiến lược, xây thêm những nhịp cầu vững chắc, nối liền Việt Nam với thế giới.
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà tham gia các dự án nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá văn hóa dân tộc. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà tham gia các dự án nghiên cứu, giới thiệu và quảng bá văn hóa dân tộc. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Nhắc lại tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 23-NQ/TW, Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà cho rằng, lời cam kết và vị thế “đồng hành” có nghĩa là mối quan hệ giữa quê hương đất nước với kiều bào ngày càng cần mang tính hai chiều, trong đó kiều bào không chỉ là đối tượng được vận động hướng về quê hương mà còn là chủ thể có kinh nghiệm, tri thức, mạng lưới và sáng kiến cần được lắng nghe… Điều cộng đồng người Việt Nam tại nước ngoài cần là Nhà nước tạo động lực và điều kiện để họ có thể chủ động làm tốt những việc mà họ có thế mạnh.
Và có lẽ cũng vì thế mà Tiến sĩ Hoàng Thị Hồng Hà tin tưởng, giá trị lâu dài của Nghị quyết số 23-NQ/TW là kiến tạo nền tảng để bà con kiều bào - những người con của đất nước Việt Nam ở xa Tổ quốc sẽ vinh dự trở thành những đại sứ rạng ngời của văn hóa, thành những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới, và trên hết xứng đáng là những con người Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Tiết mục biểu diễn của kiều bào tại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam tại Pháp, ngày 12/9/2025. (Ảnh: TTXVN)
Tiết mục biểu diễn của kiều bào tại Lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh Việt Nam tại Pháp, ngày 12/9/2025. (Ảnh: TTXVN)
“Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là gìn giữ, là xây chắc một con đường trở về quê hương”, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Nhật Bản Nguyễn Duy Anh, bắt đầu chia sẻ quan niệm của riêng mình về công tác người Việt Nam ở nước ngoài bằng những lời tâm gan như thế.
Là một người Việt Nam đã nhiều năm sinh sống, làm việc và tham gia các hoạt động cộng đồng tại Nhật Bản, Nguyễn Duy Anh rất mừng và tự hào khi biết những thông tin về việc Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành.
Nguyễn Duy Anh chia sẻ, sự ra đời của văn kiện chính trị quan trọng này tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc, nhất quán của Đảng, Nhà nước đối với chúng tôi - những người Việt Nam ở nước ngoài đang trực tiếp hằng ngày đảm trách công tác cộng đồng; đồng thời mở ra những định hướng mới để phát huy mạnh mẽ hơn nguồn lực, vai trò và trách nhiệm của kiều bào trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đó không chỉ là một chủ trương lớn mà còn đem lại một cảm nhận rất rõ ràng: Dù sinh sống ở đâu, mỗi người Việt Nam vẫn luôn có một vị trí trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đều có cơ hội đóng góp cho quê hương.
Trong nhiều nội dung quan trọng của Nghị quyết số 23-NQ/TW, Nguyễn Duy Anh đặc biệt quan tâm đến những định hướng về gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đối với thế hệ trẻ. Từ thực tiễn nhiều năm sinh sống ở Nhật Bản và quá trình kết nối với các cộng đồng người Việt tại nhiều quốc gia, theo Nguyễn Duy Anh, đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và lâu dài. Thế hệ người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài thường mang theo tiếng Việt, ký ức về quê hương và những phong tục được hình thành từ nhỏ. Nhưng sang thế hệ thứ hai, thứ ba, hoàn cảnh đã khác.
Là một người Việt Nam đã nhiều năm sinh sống, làm việc và tham gia các hoạt động cộng đồng tại Nhật Bản, Nguyễn Duy Anh rất mừng và tự hào khi biết những thông tin về việc Nghị quyết số 23-NQ/TW được ban hành.
Nguyễn Duy Anh chia sẻ, sự ra đời của văn kiện chính trị quan trọng này tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc, nhất quán của Đảng, Nhà nước đối với chúng tôi - những người Việt Nam ở nước ngoài đang trực tiếp hằng ngày đảm trách công tác cộng đồng; đồng thời mở ra những định hướng mới để phát huy mạnh mẽ hơn nguồn lực, vai trò và trách nhiệm của kiều bào trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đó không chỉ là một chủ trương lớn mà còn đem lại một cảm nhận rất rõ ràng: Dù sinh sống ở đâu, mỗi người Việt Nam vẫn luôn có một vị trí trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đều có cơ hội đóng góp cho quê hương.
Trong nhiều nội dung quan trọng của Nghị quyết số 23-NQ/TW, Nguyễn Duy Anh đặc biệt quan tâm đến những định hướng về gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đối với thế hệ trẻ. Từ thực tiễn nhiều năm sinh sống ở Nhật Bản và quá trình kết nối với các cộng đồng người Việt tại nhiều quốc gia, theo Nguyễn Duy Anh, đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và lâu dài. Thế hệ người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài thường mang theo tiếng Việt, ký ức về quê hương và những phong tục được hình thành từ nhỏ. Nhưng sang thế hệ thứ hai, thứ ba, hoàn cảnh đã khác.
“Một em bé sinh ra tại Nhật Bản sẽ học tập bằng tiếng Nhật, giao tiếp với bạn bè bằng tiếng Nhật và tiếp nhận phần lớn đời sống xã hội bằng tiếng Nhật. Điều tương tự diễn ra với trẻ em Việt Nam sinh ra tại Pháp, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Australia hay nhiều quốc gia khác. Các em có thể biết mình là người gốc Việt, nhưng nếu không còn ngôn ngữ để trò chuyện sâu sắc với ông bà, không hiểu những câu chuyện của gia đình, không biết nhiều về lịch sử, phong tục và văn hóa Việt Nam, sự kết nối với quê hương có thể dần trở nên xa hơn. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ”, Nguyễn Duy Anh nhấn mạnh.
Một đứa trẻ còn nói được tiếng Việt sẽ còn có thể trò chuyện với ông bà. Còn hiểu lời ru, câu ca dao, ngày Tết, Giỗ Tổ Hùng Vương, áo dài, món ăn Việt và những câu chuyện lịch sử của dân tộc thì trong tâm thức của em vẫn có một không gian dành cho Việt Nam. Khi một người trẻ hiểu và tự hào về nguồn gốc của mình, họ có thể trở thành một cầu nối rất tự nhiên giữa Việt Nam và xã hội sở tại. Theo Nguyễn Duy Anh, đây cũng chính là một trong những giá trị sâu sắc của việc đặt văn hóa và tiếng Việt trong tổng thể công tác người Việt Nam ở nước ngoài: văn hóa không chỉ giúp cộng đồng hướng về quê hương mà còn tạo nên sức mạnh mềm để Việt Nam kết nối với thế giới.
Chủ tịch danh dự Hội người Việt tại Fukuoka (Nhật Bản), Tổng Thư ký mạng lưới giảng dạy tiếng Việt và Văn hóa Việt toàn cầu Nguyễn Duy Anh tại Đại hội đại biểu Hội người Việt Nam tại Fukuoka lần thứ 4 nhiệm kỳ 2025-2027. (Ảnh: TTXVN)
Chủ tịch danh dự Hội người Việt tại Fukuoka (Nhật Bản), Tổng Thư ký mạng lưới giảng dạy tiếng Việt và Văn hóa Việt toàn cầu Nguyễn Duy Anh tại Đại hội đại biểu Hội người Việt Nam tại Fukuoka lần thứ 4 nhiệm kỳ 2025-2027. (Ảnh: TTXVN)
Từ những trải nghiệm thực tế, Nguyễn Duy Anh càng tin rằng: Muốn một đứa trẻ giữ được tiếng Việt, trước hết phải giúp em yêu tiếng Việt. Muốn một người trẻ giữ văn hóa Việt Nam, trước hết phải giúp em cảm thấy tự hào khi mình thuộc về văn hóa Việt Nam. Mà điều kết nối mọi người tự nhiên nhất chính là văn hóa. Một tà áo dài, một món ăn quê hương, một bài hát tiếng Việt, một trò chơi dân gian hay tiếng trẻ em gọi nhau bằng tiếng Việt đôi khi có sức mạnh gắn kết hơn rất nhiều lời kêu gọi.
Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ sở tại, việc giúp các thế hệ thứ hai và thứ ba học và sử dụng tiếng Việt - tiếng mẹ đẻ và hiểu về văn hóa Việt Nam là một việc làm rất cần thiết và quan trọng.
Theo Đại sứ Vũ Hồ, tiếng Việt không chỉ là vấn đề ngôn ngữ. Giữ tiếng Việt là giữ một con đường trở về với cội nguồn. Xa hơn, đó là duy trì một mạng lưới kết nối lâu dài giữa Việt Nam với thế giới. Một thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài vừa hội nhập sâu vào xã hội sở tại, vừa hiểu Việt Nam, nói tiếng Việt và có tình cảm với quê hương chính là một nguồn sức mạnh mềm đặc biệt của đất nước.
Tiếp nối thành công của các Chương trình Gala tiếng Việt thân thương được tổ chức từ năm 2023, ngày 26/8/2026, tại Hà Nội, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp Ban Truyền hình Đối ngoại, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Gala tiếng Việt thân thương năm 2026 với chủ đề “Cánh diều bay cao từ tiếng Mẹ”. Chương trình được tổ chức nhằm hưởng ứng Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (ngày 8/9 hằng năm). (Ảnh: TTXVN)
Tiếp nối thành công của các Chương trình Gala tiếng Việt thân thương được tổ chức từ năm 2023, ngày 26/8/2026, tại Hà Nội, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp Ban Truyền hình Đối ngoại, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức Gala tiếng Việt thân thương năm 2026 với chủ đề “Cánh diều bay cao từ tiếng Mẹ”. Chương trình được tổ chức nhằm hưởng ứng Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (ngày 8/9 hằng năm). (Ảnh: TTXVN)
Đại sứ Vũ Hồ cho rằng, Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài đặt ra những nhiệm vụ lớn về nhận thức, cơ chế, chính sách, xây dựng cộng đồng, phát huy nguồn lực, giữ gìn tiếng Việt và tổ chức bộ máy. Nhưng nghị quyết chỉ thật sự đi vào cuộc sống khi những chủ trương ấy được chuyển thành những thay đổi mà người dân có thể cảm nhận được.
Một thủ tục thuận lợi hơn. Một trường hợp cần bảo hộ được xử lý nhanh hơn. Một lớp tiếng Việt có thêm trẻ em theo học. Một chuyên gia ở nước ngoài tìm được đúng cơ quan trong nước đang cần mình. Một sáng kiến của kiều bào được lắng nghe và có nơi tiếp nhận. Một người trẻ sinh ra ở nước ngoài vẫn thấy Việt Nam là một phần tự nhiên trong căn tính của mình… Đó có lẽ là thước đo gần gũi nhất đối với hiệu quả triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW. Đó cũng là lý do mà văn hóa phải được nhìn nhận như một trong những nền tảng quan trọng của công tác đại đoàn kết đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Thông qua các hoạt động cộng đồng, văn hóa giúp người Việt tìm thấy nhau; qua tiếng Việt, các thế hệ có thể hiểu nhau; và từ sự gắn kết đó, chúng ta hình thành một cộng đồng đoàn kết, có trách nhiệm với xã hội sở tại nhưng vẫn luôn hướng về quê hương.
“Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là gìn giữ, là xây chắc một con đường trở về quê hương”.
- Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Nhật Bản NGUYỄN DUY ANH -
Một điểm Nguyễn Duy Anh đặc biệt kỳ vọng từ tinh thần của Nghị quyết số 23-NQ/TW là chúng ta có thể tiến thêm một bước: Không chỉ gìn giữ văn hóa Việt Nam trong cộng đồng mà còn đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Người Việt Nam ở nước ngoài có một lợi thế rất đặc biệt. Chúng ta hiểu văn hóa Việt Nam, đồng thời sống trong môi trường văn hóa của nước sở tại. Vì vậy, mỗi kiều bào có thể trở thành một “đại sứ văn hóa” theo cách của riêng mình. Một doanh nhân có thể giới thiệu sản phẩm Việt Nam. Một giáo viên có thể dạy tiếng Việt và kể câu chuyện Việt Nam. Một đầu bếp có thể giới thiệu ẩm thực. Một người trẻ có thể làm một video bằng ngôn ngữ sở tại để kể cho bạn bè về quê hương của cha mẹ mình...
Những việc tưởng như nhỏ ấy, khi được hàng triệu người Việt Nam trên thế giới cùng thực hiện, sẽ tạo nên một nguồn lực rất lớn cho hình ảnh quốc gia. Đó là quá trình chuyển từ “giữ văn hóa cho mình” sang “chia sẻ văn hóa với thế giới”. Nghị quyết số 23-NQ/TW đã mở ra một tầm nhìn và cũng đặt lên mỗi người trẻ ở xa Tổ quốc như chúng tôi một trách nhiệm to lớn. Nhà nước tạo chủ trương và cơ chế; các cơ quan đại diện là cầu nối; và thế hệ trẻ sẽ quyết định tiếng Việt, văn hóa Việt Nam được tiếp nối như thế nào trong tương lai.
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, bà Ngô Phương Ly, Phu nhân của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới thăm lớp tiếng Việt Lạc Hồng, ngày 30/5/2026. (Ảnh: TTXVN)
Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore, bà Ngô Phương Ly, Phu nhân của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới thăm lớp tiếng Việt Lạc Hồng, ngày 30/5/2026. (Ảnh: TTXVN)
Chính vì thế, Nguyễn Duy Anh tin tưởng rằng, với những định hướng mới của Nghị quyết số 23-NQ/TW, cùng sự đồng hành của Đảng, Nhà nước và sự chủ động của cộng đồng, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ được gìn giữ trong mỗi gia đình người Việt ở nước ngoài mà còn được lan tỏa ngày càng mạnh mẽ, trở thành một nguồn lực kết nối Việt Nam với thế giới. Còn tiếng Việt là còn một con đường trở về với cội nguồn. Còn văn hóa Việt là còn “căn cước” Việt Nam, còn sự gắn kết giữa những người Việt Nam ở khắp năm châu, và còn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày xuất bản: 29/10/2026
Thực hiện: Hồng Vân, Thu Thủy, Phương Nguyễn, Lan Đào, Hòa An