Dịch vụ giữ vai trò động lực
Trong hơn 10 năm qua, khu vực dịch vụ với 9 ngành trọng yếu luôn giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng kinh tế Thành phố. Sau hợp nhất, vai trò này càng rõ nét khi không gian phát triển được mở rộng, đồng thời những lợi thế mới được kết nối trong cùng một chỉnh thể.
Nếu Bình Dương (cũ) có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ, thì Bà Rịa-Vũng Tàu (cũ) nổi bật với hệ thống cảng biển, công nghiệp dầu khí, năng lượng và du lịch biển. Khi đặt cạnh nhau, những lợi thế ấy tạo thêm điều kiện để dịch vụ không đứng riêng lẻ mà kết nối sâu hơn với công nghiệp, logistics, thương mại và các ngành kinh tế khác. Đó cũng là sự thay đổi quan trọng trong cách nhìn về kinh tế dịch vụ.
Không gian kinh tế tích hợp liên vùng mở rộng sau hợp nhất, nối liền thế mạnh công nghiệp, cảng biển và dịch vụ cao cấp của siêu đô thị.
Không gian kinh tế tích hợp liên vùng mở rộng sau hợp nhất, nối liền thế mạnh công nghiệp, cảng biển và dịch vụ cao cấp của siêu đô thị.
Một nhà máy công nghiệp cần logistics, tài chính, công nghệ, thương mại và nguồn nhân lực chất lượng cao. Một cảng biển muốn phát huy hết công suất cũng cần dịch vụ hậu cần, hàng hải, tài chính, bảo hiểm và kết nối đa phương thức. Khi các mắt xích ấy được kết nối, dịch vụ không chỉ tạo ra giá trị cho chính mình mà còn hỗ trợ và thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa tại cụm cảng, mắt xích quan trọng đòi hỏi sự chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ số để tối ưu hóa chi phí logistics.
Hoạt động vận chuyển hàng hóa tại cụm cảng, mắt xích quan trọng đòi hỏi sự chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghệ số để tối ưu hóa chi phí logistics.
Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng của khu vực này vẫn còn rất lớn. So với những trung tâm dịch vụ lớn như Singapore hay Hồng Kông (Trung Quốc), nơi dịch vụ đóng góp 70-80% GDP, tỷ trọng dịch vụ của Thành phố cho thấy vẫn còn một khoảng không đáng kể để phát triển.
Vấn đề nằm ở chất lượng tăng trưởng. Cơ cấu dịch vụ hiện vẫn thiên về những lĩnh vực truyền thống, trong khi các dịch vụ cao cấp, có giá trị gia tăng cao chưa phát triển tương xứng. Trong khi đó, nhiều đô thị trong khu vực ASEAN đang đẩy mạnh kinh tế số, dịch vụ tài chính quốc tế và logistics toàn cầu.
Muốn đi nhanh hơn, Thành phố không thể chỉ mở rộng quy mô dịch vụ. Điều quan trọng hơn là phải nâng giá trị của từng mắt xích trong chuỗi.
Dư địa lớn, điểm nghẽn cũng nhiều
Không gian phát triển mở rộng tạo thêm cơ hội, nhưng để biến cơ hội thành tăng trưởng thực tế, Thành phố vẫn phải giải quyết hàng loạt điểm nghẽn. Quá trình chuyển dịch sang các ngành dịch vụ giá trị cao còn chậm. Hạ tầng phục vụ dịch vụ chưa đồng bộ. Nhiều lĩnh vực vẫn vận hành theo phương thức truyền thống, trong khi ứng dụng công nghệ còn hạn chế. Sự khác biệt giữa các khu vực sau hợp nhất cũng đặt ra yêu cầu về một cấu trúc dịch vụ thống nhất hơn.
Hạ tầng cảng biển hiện đại và logistics đóng vai trò động lực chiến lược, thúc đẩy năng lực kết nối thương mại quốc tế của toàn vùng Đông Nam Bộ.
Hạ tầng cảng biển hiện đại và logistics đóng vai trò động lực chiến lược, thúc đẩy năng lực kết nối thương mại quốc tế của toàn vùng Đông Nam Bộ.
Logistics là một thí dụ rõ nét. Thành phố đang có lợi thế lớn về số lượng doanh nghiệp và nguồn nhân lực trong lĩnh vực này, nhưng phần lớn doanh nghiệp vẫn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung vào các dịch vụ truyền thống như vận tải, kho bãi, giao nhận. Trong khi đó, nhân lực được đào tạo bài bản chưa đáp ứng yêu cầu của một ngành đang chuyển nhanh sang vận tải đa phương thức, công nghệ số và quản trị chuỗi cung ứng.
Hạ tầng cũng chịu sức ép khi lưu lượng hàng hóa tăng nhanh, tạo áp lực lên những tuyến huyết mạch và khu vực cảng. Chi phí logistics ở mức cao tiếp tục là một bài toán cần tháo gỡ nếu muốn nâng sức cạnh tranh của logistics, thương mại quốc tế cũng như các ngành sản xuất, dịch vụ tích hợp.
BÀI TOÁN NHÂN LỰC
LOGISTICS
-
Thành phố chiếm hơn 40% tổng số doanh nghiệp logistics cả nước.
-
Khoảng 90% doanh nghiệp logistics là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
-
Ngành logistics có khoảng 600.000 lao động, chiếm gần 50% nhân lực logistics cả nước.
-
Đến năm , Thành phố dự báo cần bổ sung 650.000-
700.000 lao động, nhất là ở vận tải đa phương thức, công nghệ số và quản trị chuỗi cung ứng. -
Chi phí logistics hiện chiếm khoảng 19-20% GRDP
Câu chuyện tương tự cũng xuất hiện ở thương mại điện tử và công nghiệp thời trang. Thị trường còn nhiều dư địa, tốc độ tăng trưởng vẫn đáng kể, nhưng không ít doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn thiếu nhân lực về thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu, sản xuất nội dung số, khai thác dữ liệu khách hàng và ứng dụng công nghệ.
Thị trường bán lẻ và thương mại điện tử duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực kích cầu tiêu dùng và phát triển kinh tế số.
Thị trường bán lẻ và thương mại điện tử duy trì tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực kích cầu tiêu dùng và phát triển kinh tế số.
Những hạn chế này cho thấy dư địa của kinh tế dịch vụ không đơn thuần nằm ở việc mở rộng quy mô. Phía sau đó là một cuộc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, trong đó công nghệ, dữ liệu, thương hiệu, chất lượng nhân lực và khả năng kết nối chuỗi dịch vụ ngày càng quyết định giá trị tạo ra.
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỜI TRANG
Đề án mở đường cho bước chuyển mới
Để tạo khung phát triển cho khu vực dịch vụ trong giai đoạn mới, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng Thành phố trở thành trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và khu vực với các ngành dịch vụ cao cấp, hiện đại, có giá trị gia tăng cao”.
Hạ tầng giao thông nội đô được đầu tư đồng bộ, khơi thông các trục hành lang dịch vụ trọng điểm kết nối trung tâm tài chính.
Hạ tầng giao thông nội đô được đầu tư đồng bộ, khơi thông các trục hành lang dịch vụ trọng điểm kết nối trung tâm tài chính.
Định hướng đặt ra không chỉ là tăng tỷ trọng dịch vụ mà còn thay đổi cấu trúc bên trong khu vực này.
MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
-
Giai đoạn đến năm :
tăng trưởng dịch vụ 12-14%/năm đóng góp 60-65% GRDP
-
Giai đoạn :
tăng trưởng 11-13%/năm đóng góp hơn 70-75% GRDP
Đề án xác định ba nhóm ngành dịch vụ trọng tâm.
Nhóm ưu tiên chiến lược gồm tài chính-ngân hàng-bảo hiểm; thông tin truyền thông; vận tải kho bãi và logistics; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và du lịch.
Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành trụ cột then chốt nhằm nâng cao giá trị thặng dư cho khu vực kinh tế dịch vụ.
Ứng dụng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành trụ cột then chốt nhằm nâng cao giá trị thặng dư cho khu vực kinh tế dịch vụ.
Nhóm ngành tiềm năng gồm giáo dục-đào tạo, y tế và dịch vụ kinh tế số. Nhóm bổ trợ gồm thương mại, bất động sản, nghệ thuật, thể thao và giải trí.
Điểm đáng chú ý là mô hình liên kết “5+1”, lấy Trung tâm Tài chính quốc tế làm hạt nhân, kết nối với 5 trung tâm dịch vụ chiến lược gồm Trung tâm hàng hải và logistics; Trung tâm thông tin truyền thông, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Trung tâm du lịch; Trung tâm y tế; Trung tâm giáo dục và đào tạo.
Trung tâm Tài chính quốc tế được định vị là hạt nhân cốt lõi trong mô hình liên kết "5+1", đưa Thành phố vươn tầm trung tâm dịch vụ toàn cầu.
Trung tâm Tài chính quốc tế được định vị là hạt nhân cốt lõi trong mô hình liên kết "5+1", đưa Thành phố vươn tầm trung tâm dịch vụ toàn cầu.
Nếu được triển khai đồng bộ, cách tiếp cận này tạo ra một cấu trúc dịch vụ đa tầng, trong đó các lĩnh vực không phát triển tách rời mà hỗ trợ lẫn nhau.
TẦM NHÌN CÁC MỐC
2030-2045
-
hướng tới trở thành trung tâm dịch vụ hàng đầu Đông Nam Á.
-
hướng tới vị thế trung tâm dịch vụ hàng đầu châu Á.
-
hướng tới trở thành trung tâm dịch vụ toàn cầu.
Nguồn: Đề án phát triển dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các trung tâm chiến lược, hàng hải và logistics được xem là một trong những lĩnh vực có dư địa lớn sau hợp nhất. Thành phố đặt mục tiêu đưa vận tải, kho bãi và logistics trở thành ngành có vị thế quan trọng trong khu vực vào năm 2030; đến năm 2035 trở thành trung tâm hàng hải và logistics tầm cỡ Đông Nam Á; đến năm 2045 hình thành Trung tâm hàng hải quốc tế có khả năng cạnh tranh với các trung tâm lớn của châu Á.
Biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh
Mục tiêu đã rõ, nhưng để biến lợi thế thành năng lực cạnh tranh thực tế, những điểm nghẽn về quy hoạch, hạ tầng, cơ chế và nguồn nhân lực cần được tháo gỡ cùng lúc.
Về quy hoạch, Thành phố đang thực hiện tích hợp quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội với quy hoạch đô thị thành một chỉnh thể thống nhất. Khi đó, các trung tâm dịch vụ có thể được xác định không gian phát triển rõ hơn, gắn với hạ tầng giao thông, logistics và đô thị.
Mạng lưới vận tải đa phương thức kết nối liên thông hệ thống cảng biển, đường thủy nội địa và các trung tâm logistics quy mô lớn.
Mạng lưới vận tải đa phương thức kết nối liên thông hệ thống cảng biển, đường thủy nội địa và các trung tâm logistics quy mô lớn.
Với hạ tầng, trọng tâm không chỉ là đầu tư giao thông kết nối và hạ tầng công nghệ thông tin mà còn là tổ chức lại các phương thức kết nối. Riêng logistics, lợi thế cảng biển chỉ có thể phát huy đầy đủ khi cảng, khu hậu cần sau cảng và hệ thống đường bộ, đường thủy, hàng không được kết nối thông suốt.
Thành phố cần đầu tư cảng biển hiện đại, chú trọng phát triển giao thông thủy nội địa để giảm tải cho đường bộ; đồng thời hình thành hệ thống ICD phân bổ dọc sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và mở rộng tới Củ Chi, Dầu Tiếng.
Cơ chế cũng là một mắt xích quan trọng. Thành phố cần tận dụng các cơ chế từ Luật Phát triển đô thị và các nghị quyết của Quốc hội về cơ chế đặc thù, tạo môi trường đầu tư thông thoáng hơn, nhất là trong tài chính, viễn thông, kinh tế số, start-up và đổi mới sáng tạo. Đây là điều kiện để thu hút các tập đoàn dịch vụ lớn và những dòng vốn chiến lược.
Nhưng sau cùng, mọi chiến lược vẫn cần một nguồn lực đủ mạnh để thực hiện. Đó là nhân lực, là khả năng liên kết giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp, đồng thời là năng lực xây dựng thương hiệu dịch vụ của chính Thành phố.
Đề án phát triển dịch vụ giá trị gia tăng cao có cơ sở khoa học khi gắn với kinh tế xanh, kinh tế số và đào tạo nhân lực. Thành phố cần tập trung vào ba trụ cột: thể chế, hạ tầng và thương hiệu; đồng thời thành lập hội đồng phát triển dịch vụ để bảo đảm liên kết giữa cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp.
Sở sẽ tiếp tục phát huy vai trò cầu nối, tham mưu, điều phối, tạo môi trường thuận lợi để các ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ, bền vững và mang lại giá trị gia tăng cao cho Thành phố.
Sau hợp nhất, Thành phố Hồ Chí Minh có trong tay một không gian kinh tế rộng hơn và những lợi thế bổ trợ rõ hơn giữa công nghiệp, cảng biển, logistics, thương mại, du lịch, tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực.
Nhưng không gian lớn tự thân chưa tạo nên một trung tâm dịch vụ lớn, điều quyết định nằm ở khả năng kết nối những lợi thế ấy thành một hệ sinh thái, chuyển những dịch vụ truyền thống sang các mô hình có hàm lượng công nghệ, dữ liệu, thương hiệu và tri thức cao hơn. Khi đó, dịch vụ không chỉ là một khu vực đóng góp vào GRDP, mà có thể trở thành mắt xích kết nối và nâng giá trị cho toàn bộ nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh.