Tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Loạt bài này điểm lại những nét chính về chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội từ khi hình thành cho tới nay.
Giai đoạn 2013-2025 đánh dấu bước phát triển mạnh của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 được ban hành, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được đẩy mạnh, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Thời kỳ này (đặc biệt là nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV), công tác lập pháp của Quốc hội đã có những đổi mới mạnh mẽ, chuyển mạnh từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo phát triển”.
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội giai đoạn 2013 đến năm 2025
Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội
Trước yêu cầu phát triển của đất nước, năm 2013 Quốc hội khóa XIII đã thông qua bản Hiến pháp sửa đổi. Đây là bản Hiến pháp thứ 5, Hiến pháp của thời kỳ đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Để thể chế hóa Hiến pháp năm 2013, Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015. Theo đó, các quy định về chế độ bầu cử tiếp tục được kế thừa những quy định tiến bộ, cụ thể:
Về nguyên tắc bầu cử: Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 tiếp tục quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đây là nguyên tắc mấu chốt của cơ chế bầu cử dân chủ.
Công nhân Công ty Than Mạo Khê-TKV bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV tại tổ bầu cử số 18 phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Công nhân Công ty Than Mạo Khê-TKV bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV tại tổ bầu cử số 18 phường Mạo Khê, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Về quyền bầu cử, ứng cử và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội: Việc xác định quyền bầu cử, ứng cử của công dân được quy định cơ bản như trước đây, công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội. Việc xác định quyền ứng cử, ngoài quy định về xác nhận tư cách công dân, độ tuổi, người ứng cử cần đáp ứng tiêu chuẩn về đại biểu Quốc hội được quy định trong Luật tổ chức Quốc hội.
Pháp luật về bầu cử giai đoạn này đã quy định ngay trong luật cụ thể các trường hợp không được tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội như: Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị khởi tố bị can; người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án; người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích; người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đây là những quy định mới về các điều kiện tham gia ứng cử đại biểu dân cử nói chung, đại biểu Quốc hội nói riêng [1].
Cử tri Lai Châu xem thông tin cá nhân của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khóa XV trước khi bỏ phiếu bầu.
Cử tri Lai Châu xem thông tin cá nhân của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khóa XV trước khi bỏ phiếu bầu.
Xác định tỷ lệ đại diện: Trong giai đoạn này, pháp luật về bầu cử đã nâng thêm số lượng đại biểu trong Quốc hội không quá năm trăm đại biểu. Việc xác định tỷ lệ đại diện của cử tri trên một đại biểu không quy định cụ thể. Số lượng đại biểu được bầu trong giai đoạn này vừa được tính theo dân số, vừa căn cứ vào đặc điểm của mỗi địa phương. Tuy nhiên, cần bảo đảm số lượng đại biểu dự kiến bầu trong Quốc hội là năm trăm đại biểu và mỗi tỉnh thành phố trực thuộc trung ương có ít nhất ba đại biểu cư trú và làm việc tại địa phương.
Các quy định về tổ chức bầu cử, khiếu nại tố cáo về bầu cử về cơ bản không có nhiều thay đổi so với trước đây.
Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Việc sửa đổi luật lần này nhằm thể chế hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, quy định mới của Hiến pháp về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (đặc biệt là triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp), thực hiện bầu cử sớm vào ngày 15/3/2026 [2] và sửa đổi để kịp thời khắc phục một số vướng mắc trong công tác bầu cử. Các nội dung sửa đổi, bổ sung bảo đảm đồng bộ, thống nhất với việc sửa đổi Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các luật về tổ chức bộ máy có liên quan [3].
Thực tiễn tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ từ khóa XIV đến khóa XV
Quốc hội khóa XIV (2016-2021) [4]: Ngày 25/11/2015, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 105/2015/QH13 về ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia.
Ngư dân xã đảo Thổ Chu (Kiên Giang) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV.
Ngư dân xã đảo Thổ Chu (Kiên Giang) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV.
Ngày 14/1/2016, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1129/2016/UBTVQH13 công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Theo đó, ngày bầu cử được diễn ra vào Chủ nhật ngày 22/5/2016. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đã thu được kết quả tốt đẹp.
Cử tri đồng bào Ê đê buôn Ako Dhong (Đắk Lắk) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV.
Cử tri đồng bào Ê đê buôn Ako Dhong (Đắk Lắk) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV.
Ngày 29/5/2016, tại thành phố Cần Thơ có 2 đơn vị bầu cử tổ chức bầu thêm 2 đại biểu Quốc hội [5]. Trong cuộc bầu cử lần này, số cử tri tham gia bỏ phiếu là 67.049.091 trên tổng 67.485.482 cử tri cả nước đạt 99,35% [6].
Kết quả cuộc bầu cử đã bầu được 496 đại biểu Quốc hội trong tổng số người trong danh sách ứng cử để bầu đại biểu Quốc hội là 827 người (bầu thiếu 4 đại biểu so với tổng số đại biểu được bầu và không công nhận tư cách 2 đại biểu).
Quốc hội khóa XV (2021-2026) [7]: Ngày 19/6/2020, Hội đồng bầu cử quốc gia được thành lập theo Nghị quyết số 118/2020/QH14 của Quốc hội khóa XIV để tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Ngày 17/11/2020, Quốc hội khóa XIV, Kỳ họp thứ 10 thông qua Nghị quyết số 133/2020/QH14 về Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, theo đó ngày bầu cử là ngày Chủ nhật 23/5/2021.
Cử tri xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Cử tri xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Cuộc bầu cử diễn ra trong khó khăn, thử thách, khi mà cùng lúc vừa phải tổ chức cuộc bầu cử thành công, đúng pháp luật, vừa phải bảo đảm an toàn trong điều kiện phòng, chống đại dịch Covid-19 và thực hiện tốt nhiệm vụ phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống và an toàn cho người dân. Vào thời điểm gần sát ngày bầu cử, đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại lần thứ 4 với diễn biến nhanh hơn, biến thể virus mới mạnh hơn và nguy hiểm hơn.
Cử tri bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 tại Tổ bầu cử số 062, phường 7, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cử tri bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 tại Tổ bầu cử số 062, phường 7, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến ngày bầu cử, đại dịch Covid-19 đã lây lan nhanh trên địa bàn ở 30 tỉnh, thành phố, gây tác động rất nặng nề về mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội, nhiều nơi phải thực hiện yêu cầu nghiêm ngặt về giãn cách xã hội, cách ly, phong tỏa xã hội. Mặc dù vậy, với nỗ lực của các cơ quan chức năng, tinh thần trách nhiệm của cử tri cả nước, cuộc bầu cử lần này đã có 69.243.939 cử tri đã tham gia bỏ phiếu trên tổng cử tri cả nước là 69.523.277 cử tri đạt 99,60%. Kết quả đã bầu cử được 499 đại biểu Quốc hội.
Để chuẩn bị tốt cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 vào ngày 15/3/2026, tại kỳ họp thứ 9 (tháng 6/2025) Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 199/2025/QH15 của Quốc hội về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026; Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; ban hành các Nghị quyết của Quốc hội về thành lập Hội đồng bầu cử quốc gia[8] ; bầu Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia [9] và phê chuẩn danh sách Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia và Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia [10].
Ngay sau đó, Hội đồng bầu cử Quốc gia đã tổ chức Phiên họp thứ nhất (ngày 9/7/2025) và phân công nhiệm vụ các thành viên, ban hành Quy chế làm việc và thành lập 4 tiểu ban: Tiểu ban nhân sự[11] ; Tiểu ban văn bản pháp luật và khiếu nại tố cáo[12] ; Tiểu ban Thông tin tuyên truyền [13], Tiểu ban bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội [14] ; thành lập bộ máy giúp việc.
Cơ cấu tổ chức Quốc hội giai đoạn 2013 đến năm 2025
Về thành lập Đảng bộ Quốc hội
Trong giai đoạn từ 2013 đến 2024, mô hình tổ chức Đảng đoàn Quốc hội và các tổ đảng tại Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội cơ bản không có nhiều thay đổi so với trước. Tuy nhiên, kể từ đầu năm 2025, thực hiện cách mạng tinh gọn bộ máy nhà nước nói riêng, bộ máy của các cơ quan trong hệ thống chính trị nói chung, mô hình tổ chức cơ quan Đảng trong khối các cơ quan của Quốc hội có những cải cách mạnh mẽ. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV ghi dấu ấn quan trọng về việc thành lập Đảng bộ Quốc hội trực thuộc Trung ương, thay thế Đảng đoàn Quốc hội tại các nhiệm kỳ trước.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV ghi dấu ấn quan trọng về việc thành lập Đảng bộ Quốc hội trực thuộc Trung ương, thay thế Đảng đoàn Quốc hội tại các nhiệm kỳ trước.
Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị về việc tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, Đảng đoàn Quốc hội đã tích cực, chủ động quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết tới các tổ chức đảng trực thuộc và toàn thể đảng viên. Triển khai Kết luận 121-KL/TW, ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Đảng đoàn Quốc hội đã chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội nhanh chóng, kịp thời xây dựng Đề án xây dựng mô hình Đảng bộ Quốc hội số 3183-ĐA/ĐĐQH15 ngày 25/12/2024 của Đảng đoàn Quốc hội báo cáo Bộ Chính trị.
Khai mạc phiên chính thức Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Khai mạc phiên chính thức Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Trên cơ sở đó, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã ban hành các văn bản về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy của Đảng ủy Quốc hội; chỉ định tham gia Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025[15]. Theo đó, Ban Chấp hành Đảng bộ Quốc hội gồm 41 đồng chí; Ban Thường vụ Đảng ủy gồm 23 đồng chí. Trong đó, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội giữ chức Bí thư Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025; đồng chí Nguyễn Khắc Định, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội giữ chức Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Quốc hội nhiệm kỳ 2020-2025. Đảng bộ Quốc hội có 11 đảng bộ trực thuộc (trong đó có 2 đảng bộ cấp trên cơ sở, 09 đảng bộ cấp cơ sở) với 2852 đảng viên; có 4 cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng ủy.
Ngay sau khi thành lập, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội đã sớm ban hành Quy chế làm việc, ổn định tổ chức, quyết định nhân sự các đảng ủy trực thuộc; chủ động lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Kiểm toán nhà nước thực hiện các nhiệm vụ chính trị đạt được kết quả trên tất cả các lĩnh vực lập hiến, lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và công tác kiểm toán nhà nước; lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ, có kết quả các mặt công tác xây dựng đảng, như:
(i) Lãnh đạo tổ chức thành công các kỳ họp Quốc hội, phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách với tinh thần đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật, thực hiện tốt công tác lập hiến, lập pháp. Đặc biệt, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã hoàn thành khối lượng nhiệm vụ lập pháp rất lớn: Quốc hội thông qua 34 luật (chiếm 52,3% tổng số luật được ban hành từ đầu nhiệm kỳ) và 34 nghị quyết; cho ý kiến đối với 6 dự án luật.
Các luật, nghị quyết có nội dung bao trùm hầu hết các lĩnh vực trọng yếu của đời sống kinh tế-xã hội như: tổ chức bộ máy nhà nước, chuyển đổi số, công nghệ, kinh tế-tài chính-đầu tư công, tư pháp và bảo vệ quyền con người. Với tư duy lập pháp đột phá, kiến tạo, thúc đẩy đổi mới sáng tạo đã góp phần hết sức quan trọng hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc thể chế hóa các quan điểm của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp 2013, tháo gỡ “điểm nghẽn”, sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhà nước, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp, khơi thông nguồn lực, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.
Tổng Bí thư Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Bí thư Đảng ủy Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.
Đặc biệt, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 203/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; thông qua Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp tỉnh (giảm từ 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xuống còn 34 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua 34 Nghị quyết về sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; hiến định mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; tái cấu trúc tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và định vị sát hơn vai trò của Công đoàn Việt Nam.
Quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 được triển khai đúng trình tự, thủ tục theo quy định, bảo đảm yêu cầu về tiến độ, phát huy dân chủ thực chất. Nghị quyết số 203/2025/QH15 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, phản ánh sâu sắc ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
(ii) Lãnh đạo hoạt động giám sát: Ban Thường vụ Đảng ủy đã lãnh đạo, chỉ đạo triển khai có hiệu quả hoạt động giám sát. Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV: (1) Tổ chức thành công phiên chất vấn và trả lời chất vấn, thông qua nghị quyết về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đối với các nhóm vấn đề thuộc 2 lĩnh vực: tài chính, giáo dục và đào tạo; (2) Trình Quốc hội thông qua Chương trình giám sát của Quốc hội năm 2026 và việc thành lập Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội năm 2026; (3) Nghe và thảo luận về Báo cáo kết quả giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri gửi đến Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV.
Lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội tham mưu, phục vụ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai 2 chuyên đề giám sát theo chương trình, kế hoạch giám sát năm 2025 [16]; lãnh đạo, chỉ đạo việc chuẩn bị và tổ chức thành công Diễn đàn của Quốc hội về hoạt động giám sát (vào ngày 6/8/2025) với chủ đề “Giám sát của Quốc hội để kiến tạo và phát triển”.
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước với các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I.
Tổng Bí thư Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước với các đại biểu dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I.
(4) Lãnh đạo việc xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng: Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội đã lãnh đạo, chỉ đạo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triển khai kịp thời, đồng bộ, tạo sự thống nhất và đồng thuận cao trong việc thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước về công tác tổ chức bộ máy, nhân sự, kinh tế-xã hội, ngân sách nhà nước. Trong đó, có nhiều nội dung có ý nghĩa chiến lược, tạo cơ chế, chính sách để triển khai các chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, như: lãnh đạo triển khai các nghị quyết, kết luận của Trung ương về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp; quyết định tổ chức bộ máy, công tác nhân sự theo thẩm quyền; lãnh đạo, chỉ đạo quyết định kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thực hiện Kết luận số 123-KL/TW về Đề án bổ sung phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên;triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; triển khai tích cực công tác chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031; tổ chức Đại hội các đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Quốc hội...
Có thể khẳng định, những kết quả đạt được từ khi thành lập Đảng bộ Quốc hội trên tất cả các mặt công tác là toàn diện, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với những quyết sách mang tính lịch sử, thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là lãnh đạo, chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 2013, rà soát hoàn thiện thể chế tạo khung khổ pháp lý triển khai chủ trương lớn của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thể chế, khơi thông nguồn lực, tranh thủ cơ hội, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, “dư địa” để phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Có thể khẳng định, những kết quả đạt được từ khi thành lập Đảng bộ Quốc hội trên tất cả các mặt công tác là toàn diện, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, với những quyết sách mang tính lịch sử, thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Về đại biểu Quốc hội
Quốc hội khóa XIV [17]: Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV dự kiến bầu 500 đại biểu nhưng tổng số đại biểu trúng cử trong ngày bầu cử 22/5/2016 và bầu cử thêm ngày 29/5/2016 (ở thành phố Cần Thơ) là 496 đại biểu, bầu thiếu 4 đại biểu so với tổng số đại biểu được bầu, không công nhận tư cách 2 đại biểu.
Đại biểu là người dân tộc thiểu số có 86 người (tỷ lệ 17,41%); đại biểu là phụ nữ có 132 người (tỷ lệ 26,72%); đại biểu là người ngoài Đảng có 20 người (tỷ lệ 4,05%); đại biểu trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) có 71 người (tỷ lệ 14,37%); đại biểu Quốc hội khóa XIII tái cử khóa XIV có 159 người (tỷ lệ 32,19%); đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu có 316 người (tỷ lệ 63,97%); tỷ lệ đại biểu Quốc hội tái cử bảo đảm cơ cấu khoảng 1/3 tổng số đại biểu Quốc hội để có tính kế thừa, đổi mới. Đại biểu tự ứng cử: 2 người (tỷ lệ 0,4%).
Quốc hội khóa XV [18](2021-2026): có 499 người trúng cử đại biểu Quốc hội khóa XV (đạt 99, 8%). Cụ thể: Về cơ cấu thành phần: đại biểu là phụ nữ: 151 người (tỷ lệ 30,26%); đại biểu là người dân tộc thiểu số: 89 người (tỷ lệ 17,84%); đại biểu trẻ dưới 40 tuổi: 47 người (tỷ lệ 9,42%); đại biểu là người ngoài Đảng: 14 người (tỷ lệ 2,81%); đại biểu khóa XIV tái cử hoặc đã từng là đại biểu Quốc hội các khóa trước: 203 người (tỷ lệ 40,68%); đại biểu lần đầu tham gia Quốc hội: 296 người (tỷ lệ 59,32%).
Về trình độ chuyên môn: trên đại học: 392 người, tỷ lệ 78, 56%, (trong đó: Tiến sĩ: 144 người, Thạc sĩ: 248 người); đại học: 106 người (tỷ lệ 21,24%); dưới đại học: 1 người (tỷ lệ 0,20%). Về học hàm: Giáo sư: 12 người (tỷ lệ 2, 40%), Phó Giáo sư: 20 người (tỷ lệ 4%).
Về Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội. Vị trí pháp lý, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phương thức hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa XIV, XV được tiếp tục củng cố và hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và phát triển những giá trị, thành tựu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội các khóa trước, đồng thời có những đổi mới quan trọng để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động.
Cơ cấu Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV và khóa XV ổn định như các khóa trước, gồm 18 thành viên: Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch, 1 Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, 9 Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Tổng Thư ký Quốc hội-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, 2 Trưởng Ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9 (2/2025) Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 179/2025/QH15, theo đó số lượng thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV là 19 người, gồm: Chủ tịch Quốc hội, 6 Phó Chủ tịch Quốc hội và 12 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XV (6/2025), Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 213/2025/QH15 của Quốc hội bầu Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV. Tính đến năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV là 21 đồng chí. Trong đó, đồng chí Trần Thanh Mẫn, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội. Có 6 đồng chí Ủy viên Trung ương đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội, gồm có: đồng chí Nguyễn Khắc Định, đồng chí Trần Quang Phương, đồng chí Nguyễn Đức Hải, đồng chí Nguyễn Thị Thanh, đồng chí Vũ Hồng Thanh, đồng chí Lê Minh Hoan và 14 đồng chí Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Từ đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, Hội đồng Dân tộc và 9 Ủy ban của Quốc hội đã hình thành cơ cấu tổ chức theo luật định[19]. Khóa XIV có 9 Ủy ban gồm: Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính-Ngân sách, Ủy ban Đối ngoại, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Ủy ban về Các vấn đề xã hội; Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường.
Sang nhiệm kỳ khóa XV, từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 2/2025, Quốc hội vẫn duy trì cơ cấu Hội đồng Dân tộc và 9 Ủy ban. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 đã thay đổi tên gọi của một số Ủy ban, trong đó, Ủy ban về Các vấn đề xã hội đổi tên thành Ủy ban Xã hội; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đổi tên thành Ủy ban Văn hóa, Giáo dục.
Đến tháng 2/2025, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức Quốc hội (Luật số 62/2025/QH15). Theo đó, Luật đã bỏ quy định mang tính liệt kê tên các cơ quan của Quốc hội (Điều 66), bỏ các điều quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, bổ sung 1 điều (Điều 68a) quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan.
Cụ thể hóa các quy định trên, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết 178/2025/QH15 về việc tổ chức các cơ quan Quốc hội. Theo đó, Quốc hội khóa XV có 8 cơ quan, gồm: Hội đồng Dân tộc; Ủy ban Pháp luật và Tư pháp; Ủy ban Kinh tế và Tài chính; Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại; Ủy ban Văn hoá và Xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Ủy ban Công tác đại biểu; Ủy ban Dân nguyện và Giám sát.
Về thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội: Đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, trên cơ sở nguyện vọng của đại biểu Quốc hội và đề xuất của Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn 435 đại biểu tham gia thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, chiếm tỷ lệ 88,01% tổng số đại biểu Quốc hội.
Như vậy, trừ một số đại biểu Quốc hội công tác trong cơ quan Chính phủ và là lãnh đạo cao cấp trong cơ quan Đảng, lãnh đạo Quốc hội thì hầu hết đại biểu Quốc hội tham gia thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban. Trong đó, Ủy ban nhiều nhất là 52 đại biểu (Ủy ban về các vấn đề Xã hội), Ủy ban ít nhất là 33 đại biểu (Ủy ban Đối ngoại), Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác có số lượng thành viên từ 41-46 đại biểu.
So với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, số lượng thành viên của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban nhiệm kỳ khóa XIV tăng lên[20]. Bên cạnh đó, cơ cấu thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội luôn bảo đảm tỷ lệ Thường trực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban khoảng 20-25%; 67 đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các địa phương được phân bổ tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Điều này góp phần tăng cường chất lượng, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội khóa XIV.
Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực các Ủy bancó 92 đại biểu chuyên trách, gồm: 10 đại biểu là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban; 37 đại biểu là Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban; 45 đại biểu là Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban. Trong đó, 52 đại biểu Quốc hội chuyên trách khóa XIII tái cử, chiếm tỷ lệ 56,52%; 3 đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm khóa XIII, chiếm tỷ lệ 3,26%; 35 đại biểu Quốc hội khóa XIV mới, chiếm tỷ lệ 38,04%[21] . Cơ cấu này đã phản ánh tính kế thừa và đổi mới về tổ chức của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực các Ủy ban qua các khóa Quốc hội.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, mặc dù có sự điều động, luân chuyển, bổ nhiệm mới cán bộ [22] nhưng về cơ bản, cơ cấu Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội tương đối ổn định. Cuối nhiệm kỳ, tổng số đại biểu chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban là 89 người, gồm: 10 đại biểu là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội; 42 đại biểu là Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban; 37 đại biểu là Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.
Đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, số lượng thành viên các Ủy ban cơ bản giữ ổn định như khóa XIV. Theo đó, số lượng thành viên các Ủy ban không có sự chênh lệch nhiều về số lượng cấp phó: Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường có 3 cấp phó. Các Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Xã hội, Ủy ban Tư pháp và Hội đồng Dân tộc có 5 cấp phó. Các Ủy ban Đối ngoại; Văn hóa, Giáo dục; Quốc phòng và An ninh; Tài chính- Ngân sách; Kinh tế có 4 cấp phó.
Đến tháng 2/2025, thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2025, số lượng thành viên Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có sự thay đổi do sáp nhập các Ủy ban [23]. Theo đó, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội khóa XV có 10 Phó Chủ nhiệm; 9 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; 54 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm[24]; Ủy ban Kinh tế-Tài chính XV có 9 Phó Chủ nhiệm; 11 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế-Tài chính; 53 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm là [25];
Ủy ban Dân nguyện và Giám sát XV có 4 Phó Chủ nhiệm; 1 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; 18 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm[26] ; Ủy ban Công tác đại biểu khóa XV có 3 Phó Chủ nhiệm; 2 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; 12 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm[27];
Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khóa XV có 10 Phó Chủ nhiệm; 11 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; 69 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm[28]; Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội khóa XV có 5 Phó Chủ nhiệm; 9 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban; 43 Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm[29].
Việc thành lập các Tiểu ban chuyên môn thuộc Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội đã được luật định và liên tục kế thừa qua các lần sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Quốc hội.
Khoản 4, Điều 67 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định: Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các Tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban. Trưởng Tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban, các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội.
Theo đó, tại nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban đã thành lập Tiểu ban với cơ cấu gồm Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban, Ủy viên Thường trực Ủy viên chuyên trách và thành viên của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban. Trưởng Tiểu ban và Phó Trưởng Tiểu ban là lãnh đạo Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 có quy định thành viên Tiểu ban có thể không phải đại biểu Quốc hội nhưng trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, các thành viên Tiểu ban của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban đều là đại biểu Quốc hội.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban thành lập các Tiểu ban theo từng lĩnh vực công tác; 2 Ủy ban chia theo nhóm lĩnh vực, nhiều hơn so với nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII 2 Ủy ban.
Về số lượng các Tiểu ban: Hội đồng Dân tộc thành lập 3 Tiểu ban; Ủy ban Tài chính, Ngân sách; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban Quốc phòng và An ninh thành lập 4 Tiểu ban; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban về các vấn đề Xã hội; Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành lập 5 Tiểu ban. Các cơ quan không thành lập Tiểu ban mà chia thành lĩnh vực là: Ủy ban Pháp luật; Ủy ban Tư pháp chia 5 nhóm lĩnh vực, tương tự như nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII; Ủy ban Đối ngoại tổ chức theo lĩnh vực công tác và khu vực.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban cũng thành lập các Tiểu ban tương tự như nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.
Về Đoàn đại biểu Quốc hội
Trong nhiệm kỳ khóa XIV, XV các Đoàn đại biểu Quốc hội được bố trí Trưởng Đoàn hoặc Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách là điều kiện thuận lợi để chỉ đạo triển khai các hoạt động của Đoàn tại địa phương, tập trung chỉ đạo triển khai tốt các hoạt động cũng như giải quyết tốt khối lượng công việc của Đoàn đại biểu Quốc hội. Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn được bầu trong số đại biểu Quốc hội sinh hoạt tại Đoàn và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Cả nước có 63 Đoàn đại biểu Quốc hội tương ứng với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Quang cảnh Hội nghị tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng.
Quang cảnh Hội nghị tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng.
Về Tổng Thư ký Quốc hội và Ban Thư ký
Chức danh Tổng Thư ký Quốc hội đã được luật định trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (Luật có hiệu lực từ ngày 1/1/2016): “Tổng Thư ký Quốc hội do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm. Tổng Thư ký Quốc hội có trách nhiệm tham mưu, phục vụ hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội”. Tổng Thư ký Quốc hội đồng thời là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động của Văn phòng Quốc hội. Giúp việc cho Tổng Thư ký Quốc hội có Ban Thư ký.
Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thư ký, Ban Thư ký gồm: 2 Phó Tổng Thư ký Quốc hội, trong đó 1 Phó Tổng Thư ký Quốc hội đồng thời là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, 1 Phó Tổng Thư ký Quốc hội đồng thời là Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và 15 Ủy viên, trong đó 10 Ủy viên là Vụ trưởng Vụ Phục vụ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, 5 Ủy viên là Vụ trưởng Vụ Phục vụ hoạt động giám sát, Vụ trưởng Vụ Tổng hợp. Vụ trưởng Vụ Thông tin, Giám đốc Thư viện Quốc hội, Giám đốc Trung tâm tin học.
Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày báo cáo tại cuộc họp giao ban của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với các cơ quan của Quốc hội, ngày 16/12/2025.
Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày báo cáo tại cuộc họp giao ban của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn với các cơ quan của Quốc hội, ngày 16/12/2025.
Từ đầu nhiệm kỳ khóa XIV, Quốc hội đã bầu Tổng Thư ký Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn 2 Phó Tổng Thư ký Quốc hội và 13 Ủy viên Ban Thư ký theo đề nghị của Tổng Thư ký Quốc hội. Tuy nhiên, trong nhiệm kỳ, số lượng và chức danh Phó Tổng Thư ký Quốc hội, số lượng Ban Thư ký có sự biến động. Đến tháng 4/2020, Ban Thư ký đã được kiện toàn đầy đủ gồm 2 Phó Tổng Thư ký Quốc hội và 15 Ủy viên.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Quốc hội đã bầu Tổng Thư ký Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã phê chuẩn 02 Phó Tổng Thư ký Quốc hội và 1 Ủy viên Thường trực Ban Thư ký và 19 Ủy viên Ban Thư ký[30].
Đầu năm 2025, thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy, ngày 7/1/2025, Bộ Chính trị có Kết luận số 111-KL/TW về việc sáp nhập, kết thúc hoạt động, chuyển chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan của Quốc hội, cơ quan thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội. Theo Kết luận 111-KL/TW thì Tổng Thư ký Quốc hội đồng thời là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội. Do đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội (Luật số 62/2025/QH15) đã tiếp tục sử dụng chức danh “Tổng Thư ký Quốc hội-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội” và xác định rõ là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội về hoạt động của Văn phòng Quốc hội. Tổng Thư ký Quốc hội-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người phát ngôn của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó, Luật không quy định về Phó Tổng Thư ký, Ban thư ký trong Luật.
Phương thức hoạt động của Quốc hội giai đoạn 2013 đến năm 2025
Kỳ họp của Quốc hội
Thời gian này, Quốc hội hoạt động theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025), những quy định về Kỳ họp của Quốc hội có nhiều đổi mới mạnh mẽ, qua đó, hiệu quả, chất lượng Kỳ họp được nâng cao đáng kể.
Cụ thể: công tác chuẩn bị cho Kỳ họp Quốc hội đã có nhiều đổi mới. Trong đó, vai trò của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách được nâng cao. Công tác chuẩn bị và tiến hành Kỳ họp được các chủ thể tích cực tham gia với tinh thần làm việc tận tụy, khẩn trương, trách nhiệm.
Công tác xây dựng, điều chỉnh chương trình Kỳ họp tiếp tục được đổi mới, cải tiến theo hướng sắp xếp thời gian, nội dung các phiên họp hợp lý, khoa học hơn để các đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội có thêm thời gian thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian diễn ra Kỳ họp. Giảm dần thời gian trình bày tờ trình, báo cáo [31]; bố trí thời gian phát biểu hợp lý[32], tăng thời gian thảo luận tại Hội trường, nhất là đối với các dự án luật quan trọng có phạm vi điều chỉnh rộng, nội dung khó, phức tạp, được nhiều đại biểu quan tâm.
Cuối nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV và nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Kỳ họp được chia thành 2 đợt họp, kết hợp phiên họp trực tuyến với trực tiếp, góp phần tháo gỡ khó khăn của đại biểu Quốc hội, cơ quan thẩm tra, tiếp thu, chỉnh lý ở các nhiệm kỳ trước đó, đáp ứng tình hình mới (dịch bệnh Covid-19).
Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, lần đầu tiên Quốc hội ban hành Nghị quyết kỳ họp (Nghị quyết số 74/2018/QH14 ngày 20/11/2018 về Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV). Việc ban hành nghị quyết kỳ họp có ý nghĩa quan trọng, nghị quyết không chỉ đánh giá, khái quát toàn bộ quá trình làm việc của kỳ họp Quốc hội, mà còn là văn bản pháp lý xác định những quyết sách, nhiệm vụ chưa được quy định trong các luật, nghị quyết khác đã được Quốc hội thông qua và yêu cầu các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện những chủ trương, quyết sách đã được Quốc hội biểu quyết thông qua.
Công tác tổ chức, điều hành các phiên họp toàn thể, các phiên thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội, Tổ đại biểu Quốc hội tiếp tục được cải tiến, đổi mới theo hướng khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, dứt khoát, tạo điều kiện để nhiều đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến và tăng cường tính phản biện, tranh luận. Với phương thức “hỏi nhanh-đáp gọn”[33] và tùy tình hình điều chỉnh giảm thời gian phát biểu của đại biểu Quốc hội, từ 7 phút/lần xuống 5 phút/lần, Quốc hội khóa XIV đã tạo điều kiện tốt hơn để gia tăng số lượng đại biểu Quốc hội phát biểu trực tiếp tại nghị trường.
Công tác tổ chức, điều hành các phiên họp toàn thể, các phiên thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội, Tổ đại biểu Quốc hội tiếp tục được cải tiến, đổi mới theo hướng khoa học, chủ động, linh hoạt, sáng tạo, dứt khoát, tạo điều kiện để nhiều đại biểu Quốc hội tham gia ý kiến và tăng cường tính phản biện, tranh luận.
Quy trình, thủ tục làm việc của Quốc hội tại Kỳ họp được cải tiến, đổi mới theo hướng ngày càng đi vào thực chất, góp phần chuyển dần từ “Quốc hội tham luận” sang “Quốc hội tranh luận”. Công tác thông tin, phục vụ Kỳ họp Quốc hội được cải tiến, đổi mới theo hướng đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ.
Tại Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, lần đầu tiên, phần mềm hỗ trợ hoạt động của đại biểu Quốc hội được cài đặt, sử dụng trên các thiết bị điện tử thông minh; tổ chức họp Quốc hội trực tuyến (đợt 1) từ Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIV. Công tác thông tin, tuyên truyền về hoạt động của Quốc hội có nhiều đổi mới, sáng tạo cả về nội dung và hình thức; góp phần nâng cao nhận thức và sự ủng hộ đối với các quyết sách của Quốc hội, đưa chính sách pháp luật mau chóng đi vào cuộc sống, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa cử tri, nhân dân với Quốc hội.
Đặc biệt là nhiệm kỳ khóa XV, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 71/2022/QH15 ban hành Nội quy Kỳ họp Quốc hội (sửa đổi, bổ sung năm 2025) với nhiều nội dung đổi mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cụ thể: Cách thức thảo luận, tranh luận, chất vấn được đổi mới theo hướng mở rộng dân chủ, tăng cường tranh luận nhằm giải quyết vấn đề hiệu quả hơn.
Tại các Kỳ họp Quốc hội, không khí thảo luận của các đại biểu đã thực sự sôi nổi, thu hút được sự chú ý của dư luận và trong nhân dân.
Tại các Kỳ họp Quốc hội, không khí thảo luận của các đại biểu đã thực sự sôi nổi, thu hút được sự chú ý của dư luận và trong nhân dân. Những vấn đề được đưa ra thảo luận, xem xét và quyết định tại Kỳ họp Quốc hội đã được lựa chọn trong chương trình nghị sự; việc tổ chức một số Kỳ họp theo hình thức trực tuyến nhằm thích ứng với tình hình thực tế; việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong tổ chức Kỳ họp như tài liệu điện tử, thư viện số, biểu quyết trên thiết bị di động, lấy phiếu xin ý kiến điện tử, các phần mềm phục vụ điều hành cuộc họp, đăng ký tranh luận, phát biểu; tăng cường công khai, minh bạch các hoạt động của Quốc hội thông qua việc tăng cường số phiên họp được phát thanh, truyền hình trực tiếp, việc thông tin về các hoạt động của Quốc hội trên các phương tiện truyền thông đại chúng…
Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Giai đoạn này, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ yếu được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025 (từ Điều 60 đến Điều 63) với những quy định rất cụ thể về nội dung phiên họp, thành phần tham dự phiên họp, số lượng tham dự phiên họp, thời gian tiến hành phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự kiến chương trình và quyết định triệu tập phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tài liệu phục vụ phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thực hiện các quy định này, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được tổ chức thường xuyên, định kỳ hàng tháng [34] để cho ý kiến về công tác chuẩn bị Kỳ họp Quốc hội, cho ý kiến về các nội dung dự kiến trong Kỳ họp Quốc hội, thực hiện hoạt động giám sát (chất vấn, cho ý kiến các báo cáo giám sát)….
Việc ban hành Thông báo kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp được tiến hành bài bản, đúng quy định, kịp thời, đầy đủ, chính xác các vấn đề được Chủ tọa kết luận tại phiên họp, làm căn cứ để các cơ quan hữu quan kịp thời triển khai. Việc tổ chức Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách được thực hiện đúng quy định, đạt kết quả tốt, có nhiều ý kiến thảo luận sâu sắc giúp cho việc tiếp thu, chỉnh lý các dự án, báo cáo bảo đảm chất lượng.
Phiên họp thứ 51 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Phiên họp thứ 51 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Toàn cảnh phiên họp toàn thể lần thứ 12 của Hội đồng Dân tộc ngày 21/8/2025.
Toàn cảnh phiên họp toàn thể lần thứ 12 của Hội đồng Dân tộc ngày 21/8/2025.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn chủ trì phiên họp toàn thể lần thứ 12 của Hội đồng Dân tộc, ngày 21/8/2025.
Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn chủ trì phiên họp toàn thể lần thứ 12 của Hội đồng Dân tộc, ngày 21/8/2025.
Cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Từ năm 2013 đến nay, các quy định về cuộc họp của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được chú trọng ban hành đã tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả của các cuộc họp. Hội đồng Dân tộc và Ủy ban của Quốc hội đã tổ chức các phiên họp thường xuyên trong năm, nội dung họp gắn với nhiệm vụ thẩm tra của cơ quan được giao trong các Kỳ họp Quốc hội, thực hiện công tác giám sát và các hoạt động khác.
Việc chuẩn bị tài liệu cho các phiên họp ngày càng được chú trọng, nâng cao. Các thành viên của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban tham gia tích cực, đóng góp nhiều ý kiến sâu sắc, đa chiều cả về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn hoạt động tại các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Nhờ đó, các cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban ngày càng phát huy trí tuệ tập thể của các thành viên, các báo cáo của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban được các đại biểu Quốc hội, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá cao về chất lượng chuyên môn, tính khách quan, toàn diện.
Đến Quốc hội khóa XV, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Quy chế làm việc mẫu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, trong đó khẳng định rõ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số. Phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phải có quá nửa tổng số thành viên tham dự. Quyết định của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Các phiên họp toàn thể có thể họp trực tiếp tập trung hoặc họp trực tuyến trong trường hợp cần thiết. Trường hợp phát sinh những vấn đề đột xuất, cấp bách, hoặc trường hợp bất khả kháng (do thiên tai, dịch bệnh) mà không thể triệu tập phiên họp toàn thể để xử lý các vấn đề thuộc thẩm quyền thì Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội tổ chức họp tập thể Thường trực và quyết định việc lấy ý kiến của thành viên Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội bằng văn bản hoặc biểu quyết bằng các hình thức phù hợp khác.
Bên cạnh đó, Quy chế cũng định rõ nội dung phiên họp toàn thể của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, căn cứ để quyết định tổ chức phiên họp, Chủ tọa, thành phần, hồ sơ tài liệu, biên bản phiên họp toàn thể… Đây là cơ sở để bảo đảm cho việc tổ chức các phiên họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khoa học, bảo đảm chất lượng.
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025) quy định về Đoàn đại biểu Quốc hội như sau:
Đoàn đại biểu Quốc hội là tổ chức của các đại biểu Quốc hội được bầu tại một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc được chuyển đến công tác tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội của Đoàn và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn.
Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của các đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương.
Các đại biểu Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng ghi nhận các kiến nghị của cử tri phường Điện Bàn Bắc, ngày 6/10/2025.
Các đại biểu Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng ghi nhận các kiến nghị của cử tri phường Điện Bàn Bắc, ngày 6/10/2025.
Luật Tổ chức Quốc hội cũng quy định rõ các nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn đại biểu Quốc hội trong việc tổ chức để đại biểu Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình như tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, thảo luận dự án luật, pháp lệnh và các nội dung theo dự kiến chương trình Kỳ họp của Quốc hội, thực hiện hoạt động giám sát…
Nhờ có quy định rõ ràng, cụ thể hơn về vai trò, trách nhiệm cũng như cơ cấu bộ phận giúp việc hợp lý, hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội giai đoạn này có nhiều nội dung phong phú hơn, chất lượng hơn. Đoàn đại biểu Quốc hội đã phát huy được vai trò của mình trong việc giúp đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ (tiếp công dân, tiếp xúc cử tri, giám sát, tổ chức để các đại biểu Quốc hội thảo luận về dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác…). Đoàn đại biểu Quốc hội nhiều địa phương đã phối hợp tốt với Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong hoạt động giám sát, giúp cung cấp thêm nhiều thông tin, dữ liệu cho hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, ngày 17/2/2025.
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, ngày 17/2/2025.
Đối với đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020, 2025) cũng quy định cụ thể hơn về vị trí, vai trò và tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định cụ thể về trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của đại biểu, thời gian dành cho hoạt động của đại biểu, trách nhiệm tham gia các Kỳ họp, phiên họp, tham gia hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, tham gia Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội khi là thành viên của các cơ quan đó.
Giai đoạn này, Quốc hội chú trọng việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách. Nếu ở Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định “Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là ba mươi lăm phần trăm (35%) tổng số đại biểu Quốc hội” thì Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định “Số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là bốn mươi phần trăm (40%) tổng số đại biểu Quốc hội”. Nhờ đó, đại biểu Quốc hội ngày càng xác định được vị trí, vai trò, trách nhiệm trước cử tri, có nhiều hoạt động gắn bó với cử tri, ghi nhận và phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri, tích cực tham gia thảo luận tại Kỳ họp Quốc hội với nhiều ý kiến phát biểu, tranh luận rất chất lượng.
Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 8 thảo luận một số nội dung trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ 8 thảo luận một số nội dung trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.
Về phương pháp hoạt động
Về phương pháp hoạt động ngày càng xác định được vị trí, vai trò, trách nhiệm trước cử tri, có nhiều hoạt động gắn bó với cử tri, ghi nhận; các phương pháp hoạt động ngày càng được thực hiện một cách toàn diện, mang lại hiệu quả đáng ghi nhận hoạt động của Quốc hội nói chung, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban và cá nhân đại biểu nói riêng.
Thời kỳ này, việc thảo luận tại các Kỳ họp, phiên họp ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng và mang tính tranh luận nhiều hơn; các ý kiến của đại biểu Quốc hội phản ánh sâu sắc nguyện vọng của cử tri và nhân dân; công tác thông tin, truyền thông công khai các Kỳ họp được thực hiện hợp lý cho các Kỳ họp, phiên họp, các phương pháp hoạt động ngày càng được thực hiện một cách toàn diện, mang lại hiệu quả đáng ghi nhận hoạt động của Quốc hội nói chung, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, và các Ủy ban của Quốc hội.
Ngày xuất bản: 31/1/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: HẢO THI - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh: Báo Nhân Dân, TTXVN, Cổng thông tin điện tử Quốc hội