Giai đoạn 1992-2013 đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam, gắn với việc ban hành Hiến pháp năm 1992 và quá trình đẩy mạnh đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ này, chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội tiếp tục được hoàn thiện theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả hơn.

Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội giai đoạn 1992-2013
Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội

Về nguyên tắc bầu cử: Kế thừa nguyên tắc bầu cử hiện đại dân chủ, Hiến pháp năm 1992 và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1992 tiếp tục quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Đây là nguyên tắc được hình thành và áp dụng xuyên suốt các giai đoạn bầu cử của Quốc hội Việt Nam[1] .

Cử tri tại Khu vực bỏ phiếu số 1, phường Điện Biên (Ba Đình, Hà Nội) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX.

Cử tri tại Khu vực bỏ phiếu số 1, phường Điện Biên (Ba Đình, Hà Nội) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX.

Về quyền bầu cử, ứng cử và bãi nhiệm đại biểu Quốc hội: Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” [2]. Mặc dù việc thực hiện các quyền này đã được Nhà nước ta bảo đảm ngay từ khi được hình thành, nhưng đây là lần đầu tiên được khẳng định trong Hiến pháp. Quyền bầu cử, ứng cử và miễn nhiệm đại biểu Quốc hội là một trong những quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân. Pháp luật về bầu cử trong giai đoạn này tiếp tục kế thừa những quy định tiến bộ của giai đoạn trước về tiêu chí tham gia bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội.

Bên cạnh đó, nhằm mở rộng khả năng tham gia quản lý nhà nước của công dân, pháp luật về bầu cử cũng cho phép cá nhân khi bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn, điều kiện của người ứng cử đại biểu có thể nộp đơn ứng cử dưới hình thức tự ứng cử. Đây là quy định mới nhằm tăng cường chất lượng của đại biểu Quốc hội, cũng như mở rộng khả năng tham gia quản lý nhà nước của người dân, bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, rộng rãi trong chế độ bầu cử dân chủ.

Cử tri dân tộc Mường (Hòa Bình) tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, tháng 7/1997.

Cử tri dân tộc Mường (Hòa Bình) tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, tháng 7/1997.

Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội: Để nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội lần đầu tiên ban hành quy định về tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội. Theo đó, đại biểu Quốc hội phải là người trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới làm cho dân giàu, nước mạnh, có trình độ hiểu biết và năng lực thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, có phẩm chất và đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành pháp luật, được nhân dân tín nhiệm[3].

Xác định tỷ lệ đại diện: Pháp luật về bầu cử trong giai đoạn này không quy định cụ thể tỷ lệ cử tri trên một đại biểu Quốc hội nhưng vẫn quy định nguyên tắc xác định giá trị lá phiếu căn cứ theo dân số. Việc xác định tổng số lượng đại biểu Quốc hội cũng không quy định cụ thể, nhưng yêu cầu không vượt quá 400 (bốn trăm) đại biểu. Đối với mỗi đơn vị bầu cử số lượng đại biểu Quốc hội được bầu không quá 3 (ba) đại biểu. Mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được bầu ít nhất 3 (ba) đại biểu. Riêng đối với Thủ đô Hà Nội được phân bổ số đại biểu thích đáng. Số đại biểu Quốc hội người dân tộc thiểu số trong mỗi khóa Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ấn định, bảo đảm để thành phần dân tộc thiểu số có số đại biểu thích đáng[4].

Cán bộ chiến si huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XI tại khu vực bỏ phiếu số 1.

Cán bộ chiến si huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XI tại khu vực bỏ phiếu số 1.

Tổ chức bầu cử: Trong giai đoạn này, việc công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội được giao lại cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội bảo đảm cho việc bầu cử tiến hành dân chủ, đúng pháp luật[5]. Chính phủ chỉ đạo Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện công tác bầu cử theo pháp luật[6]. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội[7].

Ngày bầu cử sẽ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ấn định và công bố. Để phục vụ công tác bầu cử, các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo bốn cấp độ, tăng một cấp so với các giai đoạn trước, cụ thể: Ở Trung ương, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử, ở địa phương thành lập Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử[8].

Để bảo đảm chất lượng đại biểu Quốc hội, pháp luật giai đoạn này tiếp tục quy định về việc thẩm tra tư cách đại biểu, theo đó, Quốc hội bầu ra Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu. Trên cơ sở Báo cáo thẩm tra của Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu, quyết định xác nhận tư cách đại biểu [9].

Khiếu nại tố cáo về bầu cử: Luật tiếp tục quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của người dân về danh sách cử tri, danh sách người ứng cử, kết quả bầu cử và các hành động vi phạm pháp luật về bầu cử.

.

Toàn cảnh phiên Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI.

Toàn cảnh phiên Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XI.

Thực tiễn tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ từ khóa IX đến khóa XIII [10]
Quốc hội khóa IX (1992-1997): Theo quy định tại Điều 36 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành trong cả nước đã tổ chức cho những người ứng cử đại biểu Quốc hội thực hiện quyền vận động bầu cử thông qua việc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri và báo cáo với cử tri dự kiến việc thực hiện trách nhiệm của người đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội. Đây là điểm mới trong công tác tổ chức bầu cử, lôi cuốn đông đảo cử tri tham gia với tinh thần dân chủ, cởi mở và xây dựng[11].
Ngày 19/7/1992[12], trong không khí của ngày hội lớn, cử tri cả nước đã đến các điểm bầu cử để chọn lựa 395 đại biểu trong số 601 người được đề cử thay mặt mình ở cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Có 37.195.592/ 37.524.435 cử tri đã tham gia bầu cử, chiếm tỷ lệ 99,12% (bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII là 98,75%).

Bộ đội Bộ Tư lệnh quân khu Thủ đô bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa IX (1992).

Bộ đội Bộ Tư lệnh quân khu Thủ đô bỏ phiếu bầu Quốc hội khóa IX (1992).

Trong phiên họp toàn thể ngày 12/8/1992, Hội đồng bầu cử đã kiểm điểm tình hình bầu cử ở tất cả các địa phương và nhất trí đánh giá: Cuộc bầu cử ngày 19/7/1992 và cuộc bầu cử bổ sung ngày 9/8/1992 ở hai đơn vị bầu cử (Hòa Bình và Thanh Hóa) được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Hội đồng Nhà nước, Hội đồng bầu cử Trung ương đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên do “thời gian để tiến hành cuộc bầu cử có hạn, việc hướng dẫn cơ cấu, thành phần đại biểu ở một số nơi còn biểu hiện gò ép; việc phân bố người ứng cử ở một số đơn vị bầu cử chưa thật hợp lý gây ấn tượng áp đặt, thiếu dân chủ; việc công dân tự ứng cử là việc mới nhưng làm chưa chu đáo từ trên xuống, nên chưa đạt được kết quả như mong muốn[13].
Quốc hội khóa X (1997-2002): Ngày 19/4/1997, Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố ngày bầu cử và đã thành lập Hội đồng bầu cử Trung ương để phụ trách việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X trong cả nước. Tại các địa phương, các tổ chức phụ trách bầu cử nhanh chóng được thành lập. Các công việc chuẩn bị cho cuộc bầu cử như: lập, niêm yết danh sách cử tri; hiệp thương; tổ chức, lấy ý kiến cử tri ở nơi công tác và nơi cư trú đối với những người ứng cử đại biểu Quốc hội... đã được tiến hành khẩn trương, bảo đảm đúng quy trình, quy định, công khai và dân chủ.

Cử tri Trường Sa (Khánh Hòa) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, ngày 20/7/1997.

Cử tri Trường Sa (Khánh Hòa) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa X, ngày 20/7/1997.

Trước ngày bầu cử, các hoạt động tuyên truyền, vận động bầu cử... được triển khai rầm rộ tạo nên không khí phấn khởi của ngày hội lớn. Ngày 20/7/1997 (Chủ nhật), trong không khí sôi nổi của ngày hội lớn, nhân dân khắp mọi miền đất nước đã tích cực hưởng ứng, tham gia cuộc bầu cử, nhiều đơn vị bầu cử số cử tri đi bầu đạt 100%. Cả nước có 43.493.661/43.672.683 cử tri đi bầu, chiếm tỷ lệ 99,59%. Cuộc bầu cử bầu ra được 450 đại biểu trong tổng số người ứng cử là 663 người.
Quốc hội khóa XI (2002-2007):Ngày 26/1/2002, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 284/2002/NQ-UBTVQH10 công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI và thành lập Hội đồng bầu cử đại biểu Quốc hội. Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI được chính thức ấn định là Chủ nhật ngày 19/5/2002. Quy trình triển khai công tác bầu cử được thực hiện đúng quy định pháp luật, đã bầu ra được 498 đại biểu.

Đồng bào các dân tộc xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, Hòa Bình bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XI.

Đồng bào các dân tộc xã Toàn Sơn, huyện Đà Bắc, Hòa Bình bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XI.

Cuộc bầu cử đã bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm; cả nước đã có 49.768.515 cử tri hăng hái tham gia bỏ phiếu, thực hiện trách nhiệm của công dân, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI (đạt 99,73%). Điều đó thể hiện ý thức chính trị, trách nhiệm công dân, trình độ dân trí và sinh hoạt dân chủ của các tầng lớp nhân dân đã được nâng lên một bước. Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử đã nhận định về kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI như sau: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XI đã đạt được thắng lợi to lớn và thành công tốt đẹp; bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm”.
Quốc hội khóa XII (2007-2011): Ngày 29/1/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1077/2007/NQ/UBTVQH11, công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII và thành lập Hội đồng bầu cử ở Trung ương. Ngày 9/02/2007, Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp tổ chức Hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

Đồng bào Thái tại bản Hát Lừu, huyện Trạm Tấu (Yên Bái) đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

Đồng bào Thái tại bản Hát Lừu, huyện Trạm Tấu (Yên Bái) đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

Ngay sau hội nghị toàn quốc, các địa phương đã nghiêm túc lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử. Đặc biệt, các tỉnh ủy, thành ủy trên cả nước đã sớm ban hành chỉ thị lãnh đạo cuộc bầu cử; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành các văn bản chỉ đạo triển khai công tác chuẩn bị bầu cử trên địa bàn. Tổ chức hội nghị tập huấn, tuyên truyền về bầu cử để quán triệt, phổ biến chỉ thị của Bộ Chính trị và các văn bản hướng dẫn về bầu cử đại biểu Quốc hội.
Ngày bầu cử chính thức diễn ra vào 20/5/2007. Trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội lần này, cả nước có 83.219 tổ bầu cử, trong đó có 673 tổ bầu cử ở các vùng hải đảo, miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn cách trở, đi lại khó khăn thuộc 14 tỉnh, thành phố được Hội đồng bầu cử cho phép bầu sớm cũng đã tổ chức tốt việc bỏ phiếu với tỷ lệ cử tri đi bầu cao. Theo đó, tổng số cử tri cả nước 56.457.532 người; tổng số cử tri đi bầu 56.252.543 người (đạt 99,64%).

Cử tri phường Nguyễn Du (Hà Nội) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, năm 2007.

Cử tri phường Nguyễn Du (Hà Nội) bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, năm 2007.

Kết quả cuộc bầu cử đã bầu được 493 đại biểu Quốc hội khóa XII. Đánh giá kết quả cuộc bầu cử, tại Hội nghị tổng kết công tác bầu cử, ngày 2/7/2007, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử Trung ương đã nhận định: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII đã thành công tốt đẹp, theo đúng quy định của luật pháp là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín và theo đúng phương châm chỉ đạo của Trung ương là đúng luật, dân chủ, an toàn và tiết kiệm[14].
Quốc hội khóa XIII (2011-2016)[15]: Đây là lần đầu tiên nước ta thực hiện chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc tổ chức đồng thời bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong cùng một ngày ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Ngày 21/1/2011, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 1018/NQ/UBTVQH12 công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 và thành lập Hội đồng bầu cử với 21 thành viên. Ngày bầu cử được ấn định là ngày Chủ nhật, 22/5/2011.

Đồng bào dân tộc Ê đê ở buôn Khăm, xã Krông Pa (tỉnh Phú Yên) bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Đồng bào dân tộc Ê đê ở buôn Khăm, xã Krông Pa (tỉnh Phú Yên) bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng bầu cử, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Tổ chức trung ương và các bộ ngành có liên quan đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trên phạm vi cả nước. Các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp ở địa phương đã thành lập Ban chỉ đạo công tác bầu cử, Ủy ban bầu cử; ban hành chỉ thị lãnh đạo, chỉ đạo triển khai công tác chuẩn bị bầu cử trên địa bàn.
Ngày 22/5/2011, cử tri cả nước đã nô nức tham gia hoạt động bầu cử với tổng số cử tri đi bầu là 62.010.266 trong tổng số cử tri cả nước là 62.313.605 đạt 99,51%. Cuộc bầu cử đã bầu ra 500 đại biểu Quốc hội trong 827 người ứng cử. Đối với bầu cử đại biểu Quốc hội, không có địa phương nào phải bầu lại hoặc bầu thêm. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 diễn ra thành công tốt đẹp.

Cử tri xã Sùng Phài, huyện Tam Đường (tỉnh Lai Châu) tìm hiểu tiểu sử các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Cử tri xã Sùng Phài, huyện Tam Đường (tỉnh Lai Châu) tìm hiểu tiểu sử các ứng cử viên trước khi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2016.

Cơ cấu tổ chức của Quốc hội giai đoạn 1992-2013

Các đại biểu Quốc hội họp phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, ngày 13/6/2013.

Các đại biểu Quốc hội họp phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, ngày 13/6/2013.

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc đàm phán ký kết thỏa thuận cấp Chính phủ giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới Việt Nam-Lào, ngày 20/6/2013.

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc đàm phán ký kết thỏa thuận cấp Chính phủ giải quyết vấn đề người di cư tự do và kết hôn không giá thú trong vùng biên giới Việt Nam-Lào, ngày 20/6/2013.

Về đại biểu Quốc hội


Quốc hội khóa IX[16]: Quốc hội khóa IX có cơ cấu đại biểu Quốc hội gồm: 14,68% đại biểu cho ngành nông nghiệp; 4,8% đại biểu cho ngành công nghiệp; 3,8% đại biểu cho giới luật; 6,1% đại biểu cho ngành giáo dục; 5,08% đại biểu cho ngành văn học nghệ thuật; 10,94% đại biểu cho cán bộ chính trị và công tác đảng; 91,6% đại biểu là đảng viên; 16,79% đại biểu là dân tộc thiểu số; 31,3% đại biểu là cán bộ quản lý nhà nước; 6,78% đại biểu là quân đội và 18,8% đại biểu cho phụ nữ. Đáng chú ý là trong cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX, có số đại biểu tự ứng cử là 2 người.

Quốc hội khóa X [17]: Có 450 đại biểu, trong đó: 26,2% đại biểu là phụ nữ; 17,33% đại biểu là dân tộc thiểu số; 27,34% đại biểu khóa IX tái cử; 15% đại biểu ngoài đảng; 12,2% đại biểu lực lượng vũ trang; 14% đại biểu cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; 0,17% đại biểu là tôn giáo; 4,88% đại biểu cho ngành giáo dục; 4% đại biểu cho ngành y tế; 4,96% đại biểu cho công tác tại cơ sở sản xuất công nghiệp; 3,77% đại biểu công tác tại các cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Trong thành phần đại biểu Quốc hội của khóa X có 3 đại biểu tự ứng cử.

Quốc hội khóa XI [18]: Có 498 đại biểu, trong đó: đại diện cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương: 154 (30,92%); đại diện cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương: 344 (69,08%); số đại biểu nữ: 136 (27,31%); đại biểu là người dân tộc ít người: 86 (17,27%); các đại biểu tôn giáo: 14 (2,81%); các doanh nghiệp: 24 (12,12%); công nhân: 2 (0,4%); nông dân: 6 (1,21%); già nhất: 75 tuổi; trẻ nhất: 23 tuổi; số đảng viên là: 447 (89,76%).

Quốc hội khóa XII [19]: Có 493 đại biểu, trong đó: đại biểu do Trung ương giới thiệu: 153 người; đại biểu do địa phương giới thiệu: 340 người; đại biểu Quốc hội cao tuổi nhất: 80 tuổi; đại biểu Quốc hội ít tuổi nhất: 24 tuổi; đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu: 345 người; 164 đại biểu có trình độ trên đại học (chiếm 33,27%), 309 đại biểu có trình độ đại học (62,68%); dân tộc thiểu số: 87 người (17,65%); Phụ nữ: 127 người (25,76%); ngoài Đảng: 43 người (8,72%); trẻ tuổi: 68 người (13,79%); tự ứng cử: một người (0,20%); tái cử: 138 người (27,99%).

Quốc hội khóa XIII: Có 500 đại biểu, trong đó số đại biểu tham gia Quốc hội lần đầu là 333 người, có 167 người tái cử; đại biểu trình độ trên đại học chiếm 45,8%, đại học là 52,4%; đại biểu dân tộc thiểu số chiếm 15,6%; đại biểu là nữ chiếm 24,4%; đại biểu ngoài Đảng 8,4%; đại biểu dưới 40 tuổi 12,4%. Có 4 người trong tổng số 15 người tự ứng cử đã trúng cử đại biểu Quốc hội[20].

Về cơ cấu tổ chức Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Hiến pháp năm 1980 quy định thiết chế Hội đồng Nhà nước vừa là cơ quan Thường trực của Quốc hội, vừa là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp năm 1992 đã phân định lại thiết chế nguyên thủ quốc gia - Chủ tịch nước và xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ - cơ quan thường trực của Quốc hội. Đồng thời các thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách. Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, các Chủ nhiệm của các Ủy ban của Quốc hội là các thành viên của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Cơ cấu tổ chức này đã tạo ra cơ chế làm việc mới giữa các cơ quan của Quốc hội, có sự kết hợp chặt chẽ giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Sự kết hợp này đã có những thuận lợi cho việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong các Kỳ họp, cũng như hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, nhất là bảo đảm để Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện việc điều hòa hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có hiệu quả hơn.
Cơ cấu Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội là Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội phụ trách lĩnh vực, như Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội phụ trách công tác dân nguyện, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội phụ trách công tác đại biểu [21].
Nhìn chung, số lượng thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng lên qua mỗi khóa, từ 13 thành viên tại Quốc hội khóa IX lên 18 thành viên tại Quốc hội khóa XIII và được duy trì ổn định từ đó cho đến nay và từ Quốc hội khóa XI, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập các cơ quan chuyên môn để tham mưu, giúp việc trên các lĩnh vực cụ thể. Điều đó thể hiện khối lượng công việc và yêu cầu chuyên môn, chuyên nghiệp hóa trong hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày càng cao.

Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa X bỏ phiếu bầu các cơ quan lãnh đạo nhà nước, năm 1997.

Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh cùng các đại biểu Quốc hội khóa X bỏ phiếu bầu các cơ quan lãnh đạo nhà nước, năm 1997.

Nhìn chung, số lượng thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng lên qua mỗi khóa, từ 13 thành viên tại Quốc hội khóa IX lên 18 thành viên tại Quốc hội khóa XIII và được duy trì ổn định từ đó cho đến nay.

Về Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội
Điều 92 Hiến pháp năm 1992 đã cụ thể hóa quyền hạn, trách nhiệm của Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội: Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội; ký chứng thực Luật, Nghị quyết của Quốc hội; lãnh đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tổ chức việc thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội; giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội. Các Phó Chủ tịch Quốc hội giúp Chủ tịch làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chủ tịch.

Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được và Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến thăm và làm việc tại huyện Mộc Châu, Sơn La, năm 2004.

Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được và Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến thăm và làm việc tại huyện Mộc Châu, Sơn La, năm 2004.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên, do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Chủ tịch. Số lượng Phó Chủ tịch Quốc hội là 3 người qua các khóa: IX, X, XI.Từ khóa XII cho đến kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV được duy trì là 4 người.
Quốc hội khóa IX bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Chủ tịch Quốc hội; Quốc hội khóa X bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Chủ tịch Quốc hội (từ 6/1997 đến 9/2001) và đồng chí Nguyễn Văn An làm Chủ tịch Quốc hội (từ 9/2001 đến 6/2002); Quốc hội khóa XI bầu đồng chí Nguyễn Văn An làm Chủ tịch Quốc hội; Quốc hội khóa XII bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch Quốc hội.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII.

Về Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa IX (1992-1997) và khóa X (1997-2002), Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban được tổ chức và hoạt động theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992. Quốc hội đã thành lập Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban: Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Kinh tế và Ngân sách, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Ủy ban về Các vấn đề xã hội, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Đối ngoại. Trong đó, Ủy ban Quốc phòng và An ninh lần đầu tiên được thành lập.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI (2002-2007), thực hiện quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Quốc hội có: Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban như khóa X.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu đọc tờ trình về Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IX, tháng 6/1993.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Văn Tửu đọc tờ trình về Quy chế hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IX, tháng 6/1993.

Đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011), cơ cấu tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi từ khi thực hiện Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 vào năm 2007. Theo đó, số lượng Ủy ban của Quốc hội đã tăng lên 2 Ủy ban trên cơ sở tách Ủy ban Pháp luật thành Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp, tách Ủy ban Kinh tế và Ngân sách thành Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính và Ngân sách. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã thành lập Hội đồng Dân tộc và 9 Ủy ban: Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính và Ngân sách, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, Ủy ban về Các vấn đề xã hội, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Đối ngoại.

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII tiếp tục duy trì cơ cấu Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban như Quốc hội khóa XII.

Trong các nhiệm kỳ Quốc hội từ khóa IX đến khóa XIII, mặc dù các khóa IX, X thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992, các khóa XI, XII, XIII thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 nhưng Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được thành lập và tổ chức tương tự nhau.

Trong các nhiệm kỳ Quốc hội từ khóa IX đến khóa XIII, mặc dù các khóa IX, X thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992, các khóa XI, XII, XIII thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 nhưng Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội được thành lập và tổ chức tương tự nhau. Theo đó, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc và các Ủy viên của Hội đồng; Chủ nhiệm Ủy ban, các Phó Chủ nhiệm Ủy ban và các Ủy viên của Ủy ban đều do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Quốc hội giới thiệu. Số Phó Chủ tịch, Phó Chủ nhiệm và số Ủy viên của Hội đồng Dân tộc và mỗi Ủy ban do Quốc hội quyết định.

Số thành viên hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban trong nhiệm kỳ khóa IX và X do Quốc hội quyết định (Điều 72, 73 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992), còn từ nhiệm kỳ khóa XI đến khóa XIII do Ủy ban Thường vụ Quốc hội hội quyết định (Điều 24, 25 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001). Thực tiễn cho thấy, trong cơ cấu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khóa IX và X, có rất ít thành viên chuyên trách, chỉ đến nhiệm kỳ các khóa XI, XII, XIII, số lượng mới tăng lên đáng kể. Nhiều nhất là tại nhiệm kỳ khóa XIII, số thành viên hoạt động chuyên trách tại Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban đạt tỉ lệ cao nhất là 80 người.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX họp bàn về việc tổ chức giải quyết đơn thư khiếu tố của công dân.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX họp bàn về việc tổ chức giải quyết đơn thư khiếu tố của công dân.

Về bộ phận Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, kể từ nhiệm kỳ khóa XI đến nay, đây là bộ phận nòng cốt của Hội đồng, các Ủy ban. Theo quy định của Quy chế hoạt động của các Ủy ban của Quốc hội năm 1993[22]. Chủ nhiệm Ủy ban và các Phó Chủ nhiệm Ủy ban hợp thành bộ phận Thường trực Ủy ban. Đến Quy chế hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội năm 2004, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc và các Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc; Chủ nhiệm Ủy ban, Phó Chủ nhiệm Ủy ban và các Ủy viên Thường trực Ủy ban hợp thành bộ phận thường trực Hội đồng Dân tộc, thường trực các Ủy ban. Và đến Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, quy định về Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban đã được ghi nhận.

Về việc thành lập các Tiểu ban, kể từ khi Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960, vấn đề thành lập các Tiểu ban chuyên môn thuộc Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban đã được quy định và liên tục kế thừa qua các Luật Tổ chức Quốc hội qua các thời kỳ. Căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể ở mỗi thời kỳ mà Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban thành lập các Tiểu ban của mình. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, chỉ có Hội đồng Dân tộc và 05 Ủy ban: Ủy ban Tài chính, Ngân sách; Ủy ban Kinh tế; Ủy ban về Các vấn đề xã hội; Ủy ban Quốc phòng và An ninh, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành lập các Tiểu ban thuộc cơ cấu của mình.

Về Đoàn đại biểu Quốc hội

Điều 48 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992 quy định về tổ chức của Đoàn đại biểu Quốc hội như sau: Các đại biểu Quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương hợp thành Đoàn đại biểu Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, có thể có Phó Trưởng đoàn để tổ chức hoạt động của Đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan chính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức khác ở địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội.

Mỗi Đoàn có thể có từ một đến hai đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách. Điểm mới trong tổ chức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội là việc quy định chế độ hoạt động chuyên trách của đại biểu Quốc hội tại địa phương. Số lượng các Đoàn đại biểu Quốc hội có sự biến động do điều chỉnh đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, ngày 20/5/2013.

Phiên khai mạc Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, ngày 20/5/2013.

Phương thức hoạt động của Quốc hội giai đoạn 1992-2013
Kỳ họp của Quốc hội

Thời kỳ này, hoạt động của Quốc hội được thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 1992. Tiếp nối các quy định của giai đoạn trước, Kỳ họp của Quốc hội vẫn được quy định 2 Kỳ họp thường lệ trong 1 năm và có thể có Kỳ họp bất thường khi cần thiết; hầu hết các phiên họp của Quốc hội đều công khai; các nghị quyết của Quốc hội được quyết định theo đa số. Đặc biệt, ở giai đoạn này, quy định về việc trình tự thủ tục tổ chức Kỳ họp, xây dựng nội dung, chương trình Kỳ họp đã được quy định chặt chẽ hơn.

Kỳ họp thứ 10, quốc hội khóa XIII.

Kỳ họp thứ 10, quốc hội khóa XIII.

Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Ở giai đoạn này, quy định về phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tương tự như giai đoạn trước về số lần họp, nguyên tắc làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, nguyên tắc biểu quyết quá bán. Tuy nhiên, về thẩm quyền dự kiến chương trình làm việc, triệu tập và chủ tọa các phiên họp đã có sự thay đổi. Có quy định cụ thể, rõ ràng hơn về thời gian gửi tài liệu họp để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của phiên họp.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho ý kiến trước phiên chất vấn tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho ý kiến trước phiên chất vấn tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII.

Cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội

Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thành lập các Tiểu ban để nghiên cứu, chuẩn bị các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng, Ủy ban. Trưởng Tiểu ban phải là thành viên của Hội đồng hoặc Ủy ban, các thành viên khác có thể không phải là thành viên của Hội đồng, Ủy ban hoặc không phải là đại biểu Quốc hội.

Hình thức hoạt động chủ yếu của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban vẫn là thông qua các cuộc họp để thảo luận chung về các nội dung do Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban được phân công phụ trách trước khi đưa ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Quốc hội xem xét, quyết định.

Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội

Trong số các đại biểu Quốc hội, có những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách do Quốc hội quyết định. Đại biểu Quốc hội có nhiệm vụ tham gia Kỳ họp của Quốc hội, tham gia thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội.

Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Khoa học và công nghệ (sửa đổi), năm 2013.

Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Khoa học và công nghệ (sửa đổi), năm 2013.

Trong Kỳ họp của Quốc hội, đại biểu có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội; các cuộc họp của Hội đồng, các Ủy ban của Quốc hội, của tổ hoặc Đoàn đại biểu Quốc hội; thảo luận và biểu quyết các vấn đề ghi trong chương trình Kỳ họp.

Về phương pháp hoạt động

Làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, họp công khai, hoạt động dân chủ, công khai, minh bạch, phản ánh đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, cơ chế tham luận, thảo luận, tranh luận… tiếp tục là các phương pháp được Quốc hội thực hiện trong tất cả các hình thức hoạt động.

Hầu hết các phiên họp đều được tổ chức công khai, các nội dung trong phiên họp được tập thể đại biểu thảo luận công khai, minh bạch và quyết định theo đa số. Thời kỳ này, Quốc hội đã quy định về tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách nên hoạt động của đại biểu được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đìnhtrước Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII, ngày 3/5/2010.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri tại phường Ngọc Khánh, quận Ba Đìnhtrước Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XII, ngày 3/5/2010.

Hoạt động tiếp xúc cử tri được thực hiện thường xuyên nên việc phản ánh kiến nghị, nguyện vọng của cử tri và nhân dân được đầy đủ và kịp thời; cơ chế tham luận, thảo luận chuyển dần sang thảo luận, tranh luận.

Ngày đăng: 30/1/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: KHÁNH DUY - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh: TTXVN, Cổng thông tin điện tử Quốc hội