Tám mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Loạt bài này điểm lại những nét chính về chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội từ khi hình thành cho tới nay.
Giai đoạn 1980-1992 là thời kỳ Quốc hội Việt Nam hoạt động trong bối cảnh Hiến pháp năm 1980 được ban hành và công cuộc đổi mới đất nước được khởi xướng. Trong giai đoạn này, chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội có nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là việc hình thành thiết chế Hội đồng Nhà nước và sự điều chỉnh về tổ chức, nhân sự của Quốc hội.
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội giai đoạn 1980-1992
Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội
Trước đòi hỏi mới về xây dựng lại đất nước, năm 1980 Quốc hội khóa VI đã ban hành Hiến pháp năm 1980, cùng với đó Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội cũng được ban hành và thay thế Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959. Cơ chế bầu cử này có hiệu lực cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII. Theo đó, pháp luật về bầu cử được quy định có một số nội dung sau:
Các tăng ni, phật tử thuộc đơn vị bầu cử số 4, phường Hàng Trống, Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VII, năm 1981.
Các tăng ni, phật tử thuộc đơn vị bầu cử số 4, phường Hàng Trống, Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VII, năm 1981.
Nguyên tắc chung: Các nguyên tắc chung về bầu cử cơ bản giống như đối với giai đoạn 1960-1980, điểm mới của pháp luật về bầu cử trong giai đoạn này là quy định việc cử tri có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội, nếu đại biểu đó không xứng đáng với sự tín nhiệm của cử tri[1]. Quy định này tiếp tục khẳng định yếu tố làm chủ của nhân dân và bảo đảm vững vàng nguyên tắc bình đẳng của chế độ bầu cử dân chủ.
Quyền bầu cử, ứng cử và bãi miễn đại biểu Quốc hội: được kế thừa các quy định về quyền bầu cử và ứng cử trong các giai đoạn trước. Về quyền ứng cử, pháp luật vẫn lấy mốc 21 tuổi để làm điều kiện đầu tiên cho việc ứng cử đại biểu Quốc hội.
Để đưa ra danh sách người được giới thiệu ra ứng cử, mỗi đơn vị bầu cử, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kết hợp việc tham khảo ý kiến của tập thể nhân dân lao động ở cơ sở với việc hiệp thương với các chính đảng, các đoàn thể nhân dân để giới thiệu danh sách những người ứng cử.
Về bãi miễn đại biểu Quốc hội: Hiến pháp năm 1980 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1980 tiếp tục kế thừa những tiến bộ về quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội của cử tri trong Hiến pháp năm 1959.
Sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp năm 1987.
Sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp năm 1987.
Xác định tỷ lệ đại diện: Việc bầu cử đại biểu Quốc hội tuân thủ nguyên tắc bình đẳng về giá trị lá phiếu của cử tri. Do đó, trong giai đoạn này, pháp luật về bầu cử tiếp tục quy định đại biểu Quốc hội do từng đơn vị bầu cử bầu ra; trong đó, đơn vị bầu cử được tính gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương.
Pháp luật không quy định cụ thể số lượng đại biểu, tỷ lệ dân số trên một đại biểu hay số lượng đại biểu đại diện cho dân tộc thiểu số mà trao quyền cho Hội đồng Nhà nước ấn định và yêu cầu bảo đảm thích đáng số lượng đại biểu ở Thủ đô và số lượng đại biểu thuộc thành thành phần dân tộc trong Quốc hội. Đối với các tỉnh, thành phố hoặc đơn vị hành chính cấp tương đương được bầu ít nhất hai đại biểu.
Về tổ chức phụ trách bầu cử, giai đoạn này vẫn thành lập ở ba cấp: Trung ương (Hội đồng bầu cử), đơn vị bầu cử (Ban bầu cử) và khu vực bỏ phiếu (Tổ bầu cử) [2].
Thực tiễn tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII và khóa VIII
Thực hiện pháp luật về bầu cử trong giai đoạn này, sau khi đất nước thống nhất, cuộc bầu cử đã được tổ chức trên cả nước với các điểm chính sau[3]:
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước sau khi Hiến pháp mới năm 1980 được ban hành, được tiến hành trong tình hình kinh tế-xã hội và đời sống của Nhân dân đang có nhiều khó khăn. Cả nước có 40 tỉnh, thành phố và đặc khu được chia thành 93 đơn vị bầu cử với tỷ lệ tổng số cử tri đi bầu so với tổng số cử tri ghi trong danh sách đạt 98,75%. Tỷ lệ tổng số phiếu hợp lệ so với tổng số cử tri đã đi bầu đạt 97,55% và bầu ra 496 đại biểu.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII đã tiến hành dân chủ và đúng pháp luật. Quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình đẳng giữa các dân tộc và các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín đã được tôn trọng. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã làm tốt việc hiệp thương với các chính đảng, các đoàn thể nhân dân để giới thiệu danh sách những người ra ứng cử. Danh sách cử tri ở tất cả các địa phương đều bảo đảm đúng theo luật định.
Cán bộ, công nhân Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt Xô bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp tại đơn vị bầu cử số 58, đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo.
Cán bộ, công nhân Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt Xô bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp tại đơn vị bầu cử số 58, đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII là một đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn dân diễn ra sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới; do đó, ngày 20/1/1987, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 03-CT/TW về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII. Chỉ thị nêu rõ: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII phải thể hiện sâu sắc tinh thần đổi mới của Đại hội lần thứ VI của Đảng, đổi mới về nhận thức và cách làm...”.
Theo sự hướng dẫn của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các địa phương trong cả nước đã bước đầu có sự đổi mới về nhận thức và cách làm trong việc giới thiệu những người ra ứng cử. Việc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú của những người được giới thiệu ra ứng cử công khai, minh bạch.
Các cuộc tiếp xúc giữa cử tri và ứng cử viên được tổ chức chu đáo, tạo được không khí tin tưởng trong nhân dân. Sự đổi mới bước đầu về nhận thức và cách làm trong cuộc bầu cử đã cổ vũ quần chúng nhân dân phát huy tinh thần làm chủ trong việc tham gia củng cố, kiện toàn chính quyền các cấp và hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ngày 19/4/1987, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII diễn ra trên phạm vi toàn quốc. Cử tri cả nước tích cực tham gia bầu cử, lựa chọn những đại biểu ưu tú để bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Các khu vực bầu cử được tổ chức trang nghiêm.
Kết quả bầu ngày 19/4/1987 bị thiếu một đại biểu Quốc hội, do đó ngày 3/5/1987, có 11 đơn vị phải bầu thêm. Tỷ lệ tổng số cử tri đi bầu so với tổng số cử tri ghi trong danh sách đạt 98,75%. Tỷ lệ tổng số phiếu hợp lệ so với tổng số cử tri đã đi bầu là 97,55%.
Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII đã khẳng định: “Nhân dân ta mặc dầu đang có nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, nhưng với truyền thống yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, với sự giác ngộ về nghĩa vụ và quyền làm chủ của công dân, đã biểu thị lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực tham gia việc lựa chọn đại biểu xứng đáng của mình để bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần tăng cường và củng cố Nhà nước chuyên chính vô sản”[4] .
Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII đã khẳng định: Nhân dân ta mặc dầu đang có nhiều khó khăn về kinh tế và đời sống, nhưng với truyền thống yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, với sự giác ngộ về nghĩa vụ và quyền làm chủ của công dân, đã biểu thị lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tích cực tham gia việc lựa chọn đại biểu xứng đáng của mình để bầu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần tăng cường và củng cố Nhà nước chuyên chính vô sản.
Cơ cấu tổ chức của Quốc hội giai đoạn 1980-1992
Các tăng ni chùa Quán Sứ, Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp, năm 1987.
Các tăng ni chùa Quán Sứ, Hà Nội bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VIII và Hội đồng nhân dân các cấp, năm 1987.
Về đại biểu Quốc hội
Quốc hội khóa VII[5] : Là Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1980. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII được diễn ra vào ngày 26/4/1981 với tổng số đại biểu Quốc hội là 496 người. Cơ cấu của Quốc hội khóa VII gồm: 20,16% là đại biểu công nhân; 18,64% đại biểu là nông dân; 22,17% đại biểu là trí thức; 24,39% đại biểu là cán bộ chính trị; 84,12% đại biểu là đảng viên; 14,91% đại biểu là dân tộc thiểu số; 9,87% đại biểu là quân đội; 21,77% đại biểu là phụ nữ và 18,14% đại biểu là thanh niên.
Qua cơ cấu đại biểu Quốc hội khóa VII và khóa VIII cho thấy tỷ lệ các thành phần xã hội trong cơ cấu đại biểu Quốc hội không có sự biến động lớn, cơ bản ổn định. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là đảng viên không ngừng tăng lên, đến Quốc hội khóa VIII đạt 93% trên tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội khóa VIII: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII được tiến hành vào ngày 19/4/1987 với tổng số 496 người. Cơ cấu của Quốc hội khóa VIII gồm: 20% đại biểu là công nhân; 21% đại biểu là nông dân; 24,9% đại biểu là trí thức; 20,2% đại biểu là cán bộ chính trị; 93% đại biểu là đảng viên; 14% đại biểu là dân tộc thiểu số; 9,9% đại biểu là quân đội; 18% đại biểu là phụ nữ và 11,2% đại biểu là thanh niên.
Qua cơ cấu đại biểu Quốc hội khóa VII và khóa VIII cho thấy tỷ lệ các thành phần xã hội trong cơ cấu đại biểu Quốc hội không có sự biến động lớn, cơ bản ổn định. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là đảng viên không ngừng tăng lên, đến Quốc hội khóa VIII đạt 93% trên tổng số đại biểu Quốc hội.
Về Hội đồng nhà nước
Đây là thiết chế được quy định duy nhất trong Hiến pháp năm 1980 thành một chương riêng (Chương VII). Hội đồng Nhà nước tồn tại trong Quốc hội khóa VII và Quốc hội khóa VIII. Điều 98 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Hội đồng Nhà nước là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội, là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; … Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội”.
Tại Điều 100 quy định 21 nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng Nhà nước bao gồm cả một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước trước khi có Hiến pháp năm 1980, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử ở Trung ương. Ngoài 21 nhiệm vụ, quyền hạn đã được xác định, Hội đồng Nhà nước còn có thể có những nhiệm vụ, quyền hạn khác được Quốc hội giao khi thấy cần thiết.
Hiến pháp năm 1980 đã có sự thay đổi lớn khi quy định về cơ quan Thường trực của Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 1959, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội thì theo Hiến pháp năm 1980, cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước.
Hiến pháp năm 1980 đã có sự thay đổi lớn khi quy định về cơ quan Thường trực của Quốc hội. Theo Hiến pháp năm 1959, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội thì theo Hiến pháp năm 1980, cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng Nhà nước. Mặt khác, theo Hiến pháp năm 1980, Hội đồng Nhà nước còn là Chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nếu như theo Hiến pháp năm 1959, khi Quốc hội họp thì bầu Chủ tịch đoàn để điều khiển phiên họp (Điều 47) thì đến Hiến pháp năm 1980, Quốc hội bầu ra Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội. Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội chủ tọa các phiên họp của Quốc hội. Như vậy, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội là một thiết chế mới trong Hiến pháp năm 1980 so với Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959.
Quốc hội khóa VII đã bầu Hội đồng nhà nước gồm Chủ tịch, 4 Phó Chủ tịch, trong đó 1 Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký và 7 Ủy viên. Quốc hội cũng bầu Chủ tịch Quốc hội và 9 Phó Chủ tịch Quốc hội.
Quốc hội khóa VIII, Hội đồng Nhà nước gồm 8 thành viên: 1 Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch và 1 Tổng Thư ký. Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội và 5 Phó Chủ tịch Quốc hội. Hội đồng nhà nước tại Quốc hội khóa VIII không có cơ cấu Ủy viên và số lượng thành viên giảm đi đáng kể từ 12 thành viên xuống 8 thành viên, số lượng Phó Chủ tịch Quốc hội cũng giảm từ 9 xuống 5.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VIII tại tổ bầu cử 71, đơn vị bầu cử 7, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VIII tại tổ bầu cử 71, đơn vị bầu cử 7, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tiếp xúc thân mật với các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VIII, tháng 6/1987.
Chủ tịch Quốc hội Lê Quang Đạo tiếp xúc thân mật với các đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VIII, tháng 6/1987.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ gặp gỡ các đại biểu Quốc hội khóa VII tại kỳ họp thứ 2, tháng 12/1981.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hữu Thọ gặp gỡ các đại biểu Quốc hội khóa VII tại kỳ họp thứ 2, tháng 12/1981.
Về Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội
Theo Luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 thì Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Quốc hội có một số nhiệm vụ tương đồng: Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khai mạc. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước chủ tọa các phiên họp cho đến khi bầu Chủ tịch Quốc hội khóa mới (Điều 5); Quốc hội bầu Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội theo danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa trước và các trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu chung, sau khi hỏi ý kiến các đoàn đại biểu (Điều 8).
Quốc hội khóa VII bầu đồng chí Trường Chinh là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, 4 Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước là các đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Lê Thanh Nghị, Chu Huy Mân, Xuân Thủy. Chủ tịch Quốc hội là đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, 9 Phó Chủ tịch Quốc hội gồm các đồng chí: Xuân Thủy, Nghiêm Xuân Yên, Nguyễn Xiển, Y Một, Cầm Ngoan, Huỳnh Cương, Hòa thượng Thích Thế Long, Linh mục Võ Thành Trinh, Phan Anh.
Quốc hội khóa VIII bầu đồng chí Võ Chí Công là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, 6 Phó Chủ tịch Hội đồng nhà nước gồm các đồng chí: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Lê Quang Đạo, Nguyễn Quyết, Đàm Quang Trung, Nguyễn Thị Định; Chủ tịch Quốc hội là đồng chí Lê Quang Đạo, 5 Phó Chủ tịch Quốc hội.
Về Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII và khóa VIII, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội có cơ cấu gồm Chủ tịch Hội đồng, Phó Chủ tịch Hội đồng, Thư ký và các Ủy viên; các Ủy ban của Quốc hội có cơ cấu tổ chức bao gồm Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, Thư ký và các Ủy viên. Theo Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981 thì: “Hội đồng Dân tộc được bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, tại Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Thư ký và các Ủy viên. Danh sách đề cử chức vụ từng người do Chủ tịch Quốc hội và các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu chung, sau khi hỏi ý kiến các đoàn đại biểu” (Điều 42); Ủy ban của Quốc hội gồm Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, Thư ký và các Ủy viên.
Quốc hội bầu Chủ nhiệm và các thành viên khác của Ủy ban theo danh sách Chủ tịch Quốc hội và các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội giới thiệu chung, sau khi hỏi ý kiến các đoàn đại biểu. Phó Chủ nhiệm và Thư ký do Ủy ban cử trong số thành viên của Ủy ban. Số thành viên của mỗi Ủy ban của Quốc hội do Quốc hội định.
Khác với các nhiệm kỳ trước và sau này, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII và khóa VIII, cơ cấu Ủy ban còn có chức danh Thư ký Ủy ban.
Quốc hội khóa VII đã bầu ra Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban của Quốc hội với cơ cấu tổ chức gồm Chủ tịch/Chủ nhiệm, Phó Chủ tịch/Phó Chủ nhiệm, Thư ký và các Ủy viên, số lượng thành viên nhiều nhất là Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách với 44 đại biểu, thấp nhất là Ủy ban Đối ngoại với 12 đại biểu[6]. Quốc hội khóa VIII đã bầu ra Hội đồng Dân tộc và 7 Ủy ban của Quốc hội với cơ cấu tổ chức tương tự như Quốc hội khóa VII.
Như vậy, khác với các nhiệm kỳ trước và sau này, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII và khóa VIII, cơ cấu Ủy ban còn có chức danh Thư ký Ủy ban.
Buổi làm việc của Ủy ban Y tế và Xã hội Quốc hội khóa VII.
Buổi làm việc của Ủy ban Y tế và Xã hội Quốc hội khóa VII.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trần Quang Huy thuyết trình “Dự án Luật Nghĩa vụ quân sự” và “Dự án Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam’ tại kỳ họp thứ 2, quốc hôi khóa VII.
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Trần Quang Huy thuyết trình “Dự án Luật Nghĩa vụ quân sự” và “Dự án Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam’ tại kỳ họp thứ 2, quốc hôi khóa VII.
Bộ trưởng Tư pháp Phan Hiền, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đọc tham luận (Quốc hội khóa VIII).
Bộ trưởng Tư pháp Phan Hiền, đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đọc tham luận (Quốc hội khóa VIII).
Về Đoàn đại biểu Quốc hội
Theo quy định tại Điều 71 Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng nhà nước năm 1981: “Đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương họp thành đoàn đại biểu Quốc hội địa phương và cử ra trưởng đoàn.
Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động của đại biểu Quốc hội tại các đơn vị bầu cử; các Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội giữ quan hệ với Chủ tịch Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Mỗi năm hai lần, các Đoàn đại biểu Quốc hội thông báo cho Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng Nhà nước và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc địa phương về hoạt động của các đại biểu Quốc hội ở địa phương”.
Cả nước có 40 tỉnh, thành phố và đặc khu được tổ chức thành 40 Đoàn đại biểu Quốc hội. Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng đại biểu cao nhất là 35 người, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng có ít nhất là 4 người, đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo có 2 đại biểu.
Phương thức hoạt động của Quốc hội giai đoạn 1980-1992
Trong 12 năm, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, khóa VIII hoạt động trong thời kỳ đất nước được hòa bình, thống nhất, cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội với những thuận lợi đan xen những khó khăn thử thách.
Kỳ họp của Quốc hội
Tương tự như giai đoạn trước, thực hiện quy định của Hiến pháp năm 1980 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981, Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ (một kỳ vào giữa năm và một kỳ vào cuối năm) do Hội đồng Nhà nước triệu tập. Hội đồng Nhà nước có thể triệu tập Quốc hội họp bất thường theo quyết định của mình, theo yêu cầu của Hội đồng Bộ trưởng hoặc ít nhất là một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội.
Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VII.
Khai mạc Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VII.
Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội do Hội đồng Nhà nước khóa trước triệu tập chậm nhất là 2 tháng sau cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội. Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước khóa trước khai mạc.Quốc hội họp công khai hoặc có thể họp kín theo đề nghị của Hội đồng Nhà nước, của Chủ tịch Quốc hội, của Hội đồng Bộ trưởng hoặc của các đoàn đại biểu Quốc hội.Trong phiên họp đầu tiên của Kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội, Quốc hội bầu Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội.
Trong nhiệm kỳ 5 năm, Quốc hội khóa VII đã họp 12 kỳ họp, cùng với việc bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước, Quốc hội đã ban hành được 10 đạo luật và 35 nghị quyết, trong đó có các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo quy định của Hiến pháp năm 1980.
Trong nhiệm kỳ 5 năm, Quốc hội khóa VII đã họp 12 kỳ họp, cùng với việc bầu ra các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước và các vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước, Quốc hội đã ban hành được 10 đạo luật và 35 nghị quyết, trong đó có các đạo luật về tổ chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo quy định của Hiến pháp năm 1980 như Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân…
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VIII, năm 1987.
Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VIII, năm 1987.
Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Giai đoạn này Ủy ban Thường vụ Quốc hội tồn tại dưới hình thức thiết chế Hội đồng Nhà nước và được Hiến pháp năm 1980 ghi nhận là cơ quan cao nhất hoạt động thường xuyên của Quốc hội. Hội đồng Nhà nước thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn được Hiến pháp, các luật và nghị quyết của Quốc hội giao cho, quyết định những vấn đề quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, giám sát việc thi hành Hiến pháp, các luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội và của Hội đồng Nhà nước, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Hội đồng Nhà nước, thông qua Chủ tịch Hội đồng, thay mặt nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng quy định rõ cơ chế làm việc của Hội đồng Nhà nước là làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số: “Các pháp lệnh và nghị quyết của Hội đồng Nhà nước phải được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng Nhà nước biểu quyết tán thành” (Điều 102 Hiến pháp năm 1980).
Hiến pháp năm 1980.
Hiến pháp năm 1980.
Thực hiện Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, các phiên họp của Hội đồng Nhà nước được tổ chức mỗi tháng một lần, trường hợp cần thiết có thể họp nhiều hơn. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Nhà nước. Chủ tịch Hội đồng Nhà nước có thể ủy nhiệm một Phó Chủ tịch thay mặt để triệu tập và chủ tọa phiên họp của Hội đồng Nhà nước.
Trong giai đoạn từ năm 1981 đến năm 1992, bên cạnh việc giúp Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự thảo 2 bộ luật, 29 Luật, tại các phiên họp của Hội đồng Nhà nước đã xem xét, cho ý kiến và ban hành 39 pháp lệnh.
Đặc biệt, trong giai đoạn sửa đổi Hiến pháp năm 1980, những phiên họp của Hội đồng Nhà nước cũng được tổ chức thường xuyên để cho ý kiến đối với các nội dung của dự thảo Hiến pháp, góp phần quan trọng trong việc xây dựng một bản Hiến pháp mới, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và tạo động lực thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.
Cuộc họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Luật Tổ chức Quốc hội năm 1981 quy định cơ cấu tổ chức của Quốc hội đổi tên Ủy ban Dự án pháp luật thành Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Kế hoạch và ngân sách thành Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách, bổ sung thêm Hội đồng dân tộc, Ủy ban Văn hoá và giáo dục; Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật; Ủy ban Y tế và Xã hội; Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Ủy ban Đối ngoại. Quốc hội thành lập những Ủy ban Thường trực khác khi xét thấy cần thiết.
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa VII làm việc.
Hội đồng Dân tộc của Quốc hội khóa VII làm việc.
Luật Tổ chức Quốc hội chỉ quy định một số nội dung về tổ chức phiên họp của Hội đồng Dân tộc như: Chủ tịch Hội đồng Dân tộc điều khiển công tác của Hội đồng dân tộc; triệu tập và chủ tọa hội nghị Hội đồng dân tộc. Đối với các Ủy ban, việc tổ chức các cuộc họp được quy định tại điều lệ hoạt động của mỗi Ủy ban. Tuy nhiên, tinh thần chung của các cuộc họp của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội thời kỳ này đều là để bàn thảo những nội dung thuộc lĩnh vực của Hội đồng, Ủy ban phụ trách trước khi trình Hội đồng Nhà nước và Quốc hội xem xét, quyết định. Các cuộc họp đều do Chủ tịch Hội đồng, Chủ nhiệm Ủy ban chủ trì cuộc họp của đơn vị mình, các thành viên Hội đồng và thành viên Ủy ban có trách nhiệm tham gia đầy đủ các cuộc họp để thảo luận, cho ý kiến chung.
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội thời gian này cũng được thể hiện thông qua các kết quả đạt được của Quốc hội trong công tác lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Tuy nhiên, giai đoạn này hầu hết các đại biểu Quốc hội đều hoạt động kiêm nhiệm nên ít có thời gian dành cho hoạt động của Quốc hội. Một bộ phận đại biểu Quốc hội còn chưa chú trọng, dành thời gian cho công tác đại biểu và thiếu tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong các hoạt động chung của Quốc hội. Một số đại biểu làm việc ở các cơ quan Trung ương chưa chú ý thu xếp công việc để tiếp dân, tiếp xúc cử tri, sinh hoạt với Đoàn đại biểu Quốc hội không thường xuyên, tích cực.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quyết, đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội tham luận tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII, tháng 4/1992.
Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quyết, đại biểu Quốc hội Thành phố Hà Nội tham luận tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa VIII, tháng 4/1992.
Về phương pháp hoạt động
Phương pháp hoạt động như làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, chế độ họp công khai, hoạt động dân chủ, công khai, minh bạch, phản ánh đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, cơ chế tham luận, thảo luận, tranh luận… ngày càng được quy định đầy đủ, toàn diện hơn trong các văn bản pháp luật về hoạt động của Quốc hội.
Các Kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phiên họp của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban đều áp dụng nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, họp công khai (trừ một số nội dung họp kín theo quy định), bảo đảm tính dân chủ, minh bạch trong thảo luận. Tuy nhiên, do hầu hết các đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, một số đại biểu ở Trung ương chưa chú trọng hoạt động tiếp xúc cử tri nên việc phản ánh đầy đủ kiến nghị, nguyện vọng của cử tri và nhân dân còn ít nhiều hạn chế. Thời kỳ này, việc tham gia của đại biểu Quốc hội vào các hoạt động của Quốc hội còn nặng về tham luận, thảo luận, cơ chế tranh luận chưa thực sự sôi nổi.
Ngày đăng: 1/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: HẢO THI - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh: Tư liệu TTXVN, Cổng thông tin điện tử Quốc hội