*****
Giai đoạn 1960-1980 đánh dấu bước phát triển quan trọng của Quốc hội Việt Nam trong bối cảnh đất nước vừa tiến hành kháng chiến vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, giải phóng miền nam và bước vào những năm đầu tiên thống nhất đất nước. Trong thời kỳ này, chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội tiếp tục được hoàn thiện, phản ánh yêu cầu của thực tiễn cách mạng và sự trưởng thành của Nhà nước dân chủ nhân dân.
Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội
Sau thành công của cuộc Tổng tuyển cử năm 1946, Quốc hội đã lập ra bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, trong đó có quy định bầu cử, ứng cử và bãi miễn đại biểu Quốc hội là một trong những quyền của công dân[1]. Cùng với đó, Hiến pháp cũng khẳng định: “Chế độ bầu cử là phổ thông đầu phiếu”. Hình thức bỏ phiếu phải “tự do, trực tiếp và kín”[2]. Kế thừa quy định về bầu cử của Hiến pháp năm 1946, năm 1959, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp thứ 2 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, theo đó pháp luật về bầu cử được quy định trên các nội dung sau:
Thứ nhất, nguyên tắc bầu cử: Mặc dù, quy định về bầu cử của giai đoạn trước đã được ban hành, nhưng vẫn còn mang tính sơ khai, đáp ứng yêu cầu thực tiễn lịch sử giai đoạn đó. Đến giai đoạn này, pháp luật đã khái quát lại các quy định bầu cử thành các nguyên tắc trong bầu cử, cụ thể: tại Điều 5 Hiến pháp 1959; Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959 đã khẳng định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”[3] . Đây là quy định khẳng định một cách rõ ràng, cụ thể về 4 nguyên tắc định hướng cho toàn bộ cuộc bầu cử mà nước ta cần phải tuân thủ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ lá phiếu đầu tiên bầu cử tại Hà Nội, năm 1960.
Chủ tịch Hồ Chí Minh bỏ lá phiếu đầu tiên bầu cử tại Hà Nội, năm 1960.
Thứ hai, quyền bầu cử, ứng cử và bãi miễn. Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959 quy định rõ nét hơn về quyền bầu cử cũng như quyền ứng cử. Theo đó, 10 tiêu chí xác định việc “không phân biệt” của quyền bầu cử gồm có: dân tộc, nòi giống, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng tài sản, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú được thể hiện rõ, bảo đảm quyền được tham gia bầu cử của công dân.
Về quyền ứng cử: Pháp luật quy định ở mỗi đơn vị bầu cử, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân có thể riêng biệt hoặc liên hiệp với nhau giới thiệu người ra ứng cử. Cá nhân có quyền tự ra ứng cử. Bảo đảm tính bình đẳng trong vận động bầu cử, Luật cũng đã quy định, các chính đảng, các đoàn thể nhân dân cũng như mỗi công dân Việt Nam đều có quyền, trong phạm vi pháp luật, tự do cổ động bằng mít tinh, hội nghị, báo chí và mọi hình thức khác để giới thiệu người ứng cử. Người ứng cử có quyền tự do cổ động cho bản thân mình trong phạm vi pháp luật[4].
Về bãi miễn đại biểu: Hiến pháp năm 1946 đã quy định nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu mình bầu ra[5] . Kế thừa quy định này, Hiến pháp năm 1959 cũng tiếp tục quy định: “Đại biểu Quốc hội... có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”[6].
Đại biểu Quốc hội... có thể bị cử tri bãi miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân
Thứ ba, xác định tỷ lệ đại diện: Trong cuộc bầu cử năm 1946, Sắc lệnh 51-SL chỉ quy định nguyên tắc chung trong cách tính giá trị mỗi phiếu hoặc tỷ lệ đại diện của đại biểu được căn cứ vào số dân. Hiến pháp năm 1946 cũng chưa quy định tỷ lệ này. Đến Hiến pháp năm 1959 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959 đã quy định cụ thể tỷ lệ này. Tại Điều 11 Luật quy định đại biểu Quốc hội do từng đơn vị bầu cử bầu ra, số đại biểu định cho mỗi đơn vị bầu cử là căn cứ vào số dân của đơn vị đó. Cụ thể, cứ 50 nghìn dân được cử một đại biểu; nếu số lẻ còn lại quá 25 nghìn được thêm một đại biểu. Ở những khu vực công nghiệp tập trung và ở những thành phố trực thuộc Trung ương có thể từ 10 nghìn đến 30 nghìn dân được cử một đại biểu. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, dựa vào dân số dân tộc thiểu số so với dân số toàn quốc, số đại biểu Quốc hội dành cho các dân tộc thiểu số bằng khoảng một phần bảy (1/7) tổng số đại biểu Quốc hội.
Cử tri thành phố Đà Nẵng đi bầu cử Quốc hội thống nhất (ngày 25/4/1976).
Cử tri thành phố Đà Nẵng đi bầu cử Quốc hội thống nhất (ngày 25/4/1976).
Thứ tư, tổ chức bầu cử: Theo quy định của pháp luật, giai đoạn này Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền tuyên bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội[7], ấn định, công bố ngày bầu cử[8]. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập ở cả ba cấp Trung ương, đơn vị bầu cử và khu vực bỏ phiếu[9]. Ở Trung ương: Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử ở Trung ương; ở địa phương: thành lập Ban bầu cử ở khu vực bầu cử, Tổ bầu cử ở khu vực bỏ phiếu. Đơn vị bầu cử được xác định là tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, khu (không chia tỉnh) và khu công nghiệp tập trung. Đối với những tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, khu hay khu công nghiệp tập trung, dân số đông, số đại biểu có từ 10 người trở lên có thể chia thành nhiều đơn vị bầu cử.
Trong quá trình thực hiện bầu cử, cần bảo đảm nguyên tắc cử tri phải trực tiếp đi bầu, không được nhờ người bầu thay, không được bầu bằng cách gửi thư. Mỗi cử tri chỉ có quyền bỏ một phiếu bầu, bảo đảm nguyên tắc bỏ phiếu kín. Luật cũng quy định lúc cử tri viết phiếu không ai được đến gần để xem kể cả nhân viên Tổ bầu cử.
Để bảo đảm chất lượng đại biểu Quốc hội, Điều 56 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quốc hội bầu ra Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội. Quốc hội căn cứ vào báo cáo của Ủy ban thẩm tra mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội”.
Quốc hội bầu ra Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội. Quốc hội căn cứ vào báo cáo của Ủy ban thẩm tra mà quyết định xác nhận tư cách đại biểu của đại biểu Quốc hội.
Các quy định này có hiệu lực trong suốt các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nhiệm kỳ II, III, IV, V, VI được tính từ năm 1960 đến năm 1981. Trong quá trình đó, để phù hợp với tình hình thực tiễn, của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V, ngày 28/12/1974 Quốc hội ban hành Nghị quyết sửa đổi Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, theo đó thay đổi tỷ lệ xác định phiếu bầu trên dân số của đại biểu và tỷ lệ tham gia Quốc hội đại diện cho dân tộc thiểu số[10]. Việc thay đổi này không làm thay đổi các nguyên tắc của chế độ bầu cử dân chủ và phù hợp với tình hình thực tế của đất nước sau một thời gian chuẩn bị, kiến thiết lại đất nước và chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng tấn công mùa xuân năm 1975.
Thực tiễn tổ chức các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI
Trong giai đoạn từ 1960-1980, nước ta đã tổ chức 5 cuộc bầu cử trên toàn miền bắc các nhiệm kỳ Quốc hội khóa II, III, IV, V, và VI. Quốc hội các nhiệm kỳ này được hình thành từ kết quả các cuộc bầu cử và một phần lưu nhiệm đối với một số đại biểu Quốc hội của miền nam. Kết quả tổ chức các cuộc bầu cử trong giai đoạn này như sau[11]:
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960-1964):
Ngày 16/2/1960, Ban Thường trực Quốc hội quyết định ngày 8/5/1960 là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II trên toàn miền bắc. Cuộc vận động tổ chức bầu cử được chuẩn bị chu đáo, nghiêm túc trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền bắc. Các cơ quan tuyên truyền, thông tin đại chúng, các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp tích cực tuyên truyền, tổ chức hướng dẫn cho toàn dân nghiên cứu, thảo luận các vấn đề về tính chất của Nhà nước, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, nhiệm vụ và tổ chức Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội... để nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền làm chủ Nhà nước và ý nghĩa cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II.
Căn cứ Nghị quyết Kỳ họp thứ 11 của Quốc hội về việc thi hành Hiến pháp và Điều 12, Điều 14 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban Thường trực Quốc hội đã ra quyết định quy định số đại biểu được bầu là 362, trong đó có ít nhất 35 đại biểu là người các dân tộc thiểu số, số đơn vị bầu cử là 42.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II thắng lợi đã có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với việc kiện toàn bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, đối với việc đoàn kết toàn dân và nâng cao ý thức làm chủ đất nước của Nhân dân ta. Đó là những điều kiện quyết định cho sự phát triển của chế độ, cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Ngày 4/4/1960, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam họp để quyết định các cấp bộ Mặt trận, các chính Đảng, các đoàn thể phải vận động mọi người tham gia bầu cử và giới thiệu những người ưu tú tiêu biểu ở địa phương ra ứng cử đại biểu Quốc hội.
Cuộc bầu cử ngày 8/5/1960 diễn ra với tỷ lệ cử tri bỏ phiếu: 97,52%. Kết quả cuộc bầu cử bầu ra được 453 đại biểu Quốc hội, trong đó: 362 đại biểu được dân bầu, 91 đại biểu miền nam lưu nhiệm. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II thắng lợi đã có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với việc kiện toàn bộ máy Nhà nước dân chủ nhân dân, đối với việc đoàn kết toàn dân và nâng cao ý thức làm chủ đất nước của Nhân dân ta. Đó là những điều kiện quyết định cho sự phát triển của chế độ, cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Công nhân lái máy kéo Khu gang thép Thái Nguyên trao đổi, thảo luận bản danh sách các ứng cử viên quốc hội khóa II (4/1960).
Công nhân lái máy kéo Khu gang thép Thái Nguyên trao đổi, thảo luận bản danh sách các ứng cử viên quốc hội khóa II (4/1960).
Chị Bùi Thị Liên (dân tộc Mường) vừa tròn 18 tuổi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II tại khu vực I, Thuận Châu (Tây Bắc).
Chị Bùi Thị Liên (dân tộc Mường) vừa tròn 18 tuổi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa II tại khu vực I, Thuận Châu (Tây Bắc).
Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II (7/1960).
Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II (7/1960).
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa III (1964-1971):
Ngày 24/2/1964, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ngày bầu cử,số đại biểu được bầu, số đại biểu dành cho các dân tộc thiểu số, số đơn vị bầu cử ở từng địa phương và thành lập Hội đồng bầu cử Trung ương. Việc chuẩn bị và vận động bầu cử được triển khai rộng khắp, chu đáo và đúng pháp luật. Danh sách cử tri và các vị ứng cử đại biểu Quốc hội đã được niêm yết. Các cuộc tiếp xúc với đại biểu cử tri của các vị ứng cử đại biểu Quốc hội được tổ chức ở khắp các đơn vị bầu cử.
Ngày 26/4/1964, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa III được tiến hành trên toàn miền bắc. Đây là một ngày hội lớn, ngày hội dân chủ của nhân dân, tuyệt đại đa số cử tri tham gia bỏ phiếu (97,77%). Theo công bố chính thức của Hội đồng Bầu cử Trung ương, trong tổng số 59 đơn vị bầu cử đã có 8.580.002 cử tri trên tổng số 8.775.002 cử tri ghi trong danh sách đã đi bầu cử, đạt tỷ lệ 97,77%. Có nhiều khu vực bỏ phiếu, số cử tri đi bầu đạt tỷ lệ 100%. Ở Hà Nội có 433/634 khu vực đạt 100%. Ở thị xã Ninh Bình, 100% cử tri đi bỏ phiếu.
Cuộc bầu cử thắng lợi đã có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với việc kiện toàn bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, đối với việc đoàn kết toàn dân và nâng cao ý thức chủ nhân đất nước của nhân dân ta.
Kết quả cuộc bầu cử đã bầu ra được 366 đại biểu. Ngoài ra, có 89 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền nam (vĩ tuyến 17) được kéo dài nhiệm kỳ. Tổng số đại biểu Quốc hội khóa III là 455 đại biểu thay mặt cho nhân dân cả nước phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và giàu mạnh.
Cuộc bầu cử thắng lợi đã có ý nghĩa và tác dụng lớn đối với việc kiện toàn bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, đối với việc đoàn kết toàn dân và nâng cao ý thức chủ nhân đất nước của nhân dân ta. Đó là những điều kiện quyết định cho sự phát triển của chế độ ta, cho sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam[12].
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa IV (1971-1975):
Tiếp tục thành tựu của các cuộc bầu cử trước, ngày 11/4/1971, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV được tổ chức trên toàn miền bắc. Thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mọi công dân từ 18 tuổi trở lên không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tôn giáo tín ngưỡng thuộc 80 đơn vị bầu cử đã nô nức đi bỏ phiếu để bầu những người đại biểu đại diện cho mình vào Quốc hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Cuộc bầu cử đã tiến hành đúng luật lệ bầu cử. Tổng số cử tri đã đi bầu đạt 98,88% tổng số cử tri ghi trong danh sách. Cử tri đã lựa chọn và bầu được 420 đại biểu trên tổng số 529 đại biểu ứng cử.
Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV một lần nữa khẳng định sự thống nhất về chính trị và tinh thần của xã hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sự tín nhiệm của nhân dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và ý thức chính trị, ý thức làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của Nhân dân Việt Nam.
Thành công của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IV một lần nữa khẳng định sự thống nhất về chính trị và tinh thần của xã hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sự tín nhiệm của nhân dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và ý thức chính trị, ý thức làm chủ đất nước, làm chủ xã hội của nhân dân Việt Nam.
Đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc làm nhiệm vụ cử tri trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa V, tháng 4/1975.
Đồng bào các dân tộc ở Việt Bắc làm nhiệm vụ cử tri trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa V, tháng 4/1975.
Thiếu nhi thành phố Nam Định cổ động cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V.
Thiếu nhi thành phố Nam Định cổ động cho ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V.
Đồng bào theo đạo Thiên Chúa xứ Xuân Phương, Hải Hậu, Nam Hà bỏ phiếu bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa V.
Đồng bào theo đạo Thiên Chúa xứ Xuân Phương, Hải Hậu, Nam Hà bỏ phiếu bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa V.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa V (1975-1976):
Giữa lúc cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đang diễn ra ở đỉnh cao, nhân dân cả hai miền bắc và nam đang dồn sức để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử thiêng liêng nhất của mình. Trong niềm vui thắng lợi ở miền nam tiền tuyến lớn, nhân dân miền bắc đã thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nô nức đi bầu cử đại biểu Quốc hội.
Cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 6/4/1975 với tỷ lệ cử tri bỏ phiếu 98,26% bầu ra 424 đại biểu Quốc hội trong tổng số 527 người được giới thiệu ra ứng cử. Đơn vị bầu cử đạt tỷ lệ cao nhất là 99,72% (Thái Bình) và đơn vị bầu cử đạt tỷ lệ thấp nhất là 93,89% (Lạng Sơn).
Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V một lần nữa khẳng định sự nhất trí cao về tinh thần chính trị của xã hội miền bắc, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự tín nhiệm của toàn dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trong bản Thông cáo ngày 25/4/1975, Hội đồng bầu cử đã nhận định: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V đã tiến hành đúng pháp luật. Quyền dân chủ cơ bản của công dân và quyền bình đẳng giữa các dân tộc đã thật sự được tôn trọng. Việc tuyên truyền, vận động bầu cử được tiến hành hoàn toàn tự do và đúng pháp luật.
Toàn dân đã tích cực hưởng ứng và tham gia bầu cử. Việc ghi danh sách cử tri ở tất cả các địa phương đều đúng theo luật định. Tuyệt đại đa số cử tri đã đi bầu và hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn những người mà mình cho là xứng đáng vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước.
Quốc hội ra Nghị quyết xác nhận tư cách của 424 đại biểu Quốc hội trúng cử trong cuộc bầu cử ngày 6/4/1975.
Thắng lợi của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa V một lần nữa khẳng định sự nhất trí cao về tinh thần chính trị của xã hội miền bắc, lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự tín nhiệm của toàn dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI (1976-1981):
Theo quyết định của Hội đồng bầu cử toàn quốc, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất được tổ chức ngày 25/4/1976. Đây thực sự là ngày hội lớn của toàn dân Việt Nam. Trong không khí tưng bừng, trên 23 triệu cử tri, với tư thế của người làm chủ đất nước đã nô nức thực hiện nghĩa vụ công dân của mình, bầu những đại biểu xứng đáng vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam độc lập, thống nhất.
Cuộc bầu cử được diễn ra ngày 25/4/1976 với tỷ lệ 98,77% cử tri bỏ phiếu, trong đó miền bắc đạt 99,36%, miền nam đạt 98,59%. Có nhiều xã, huyện, thị xã, đơn vị vũ trang và khu vực bỏ phiếu đạt 100% cử tri đi bầu. Ở miền bắc, tỉnh đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao nhất là Thái Bình đạt 99,93%, tỉnh đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử thấp nhất là Hà Tuyên đạt 98,44%.
Ở miền nam, tỉnh đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử cao nhất là Gia Lai-Kon Tum đạt 98,99%, tỉnh đạt tỷ lệ cử tri đi bầu cử thấp nhất là Đồng Tháp đạt 96,13%. Cử tri đã lựa chọn và bầu đủ 492 đại biểu trong vòng đầu, không nơi nào phải bầu lại hoặc bầu thêm.
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước thắng lợi quyết định của nhân dân ta trên con đường thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường tiến tới hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước.
Cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước thắng lợi quyết định của Nhân dân ta trên con đường thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước. Kết quả của cuộc Tổng tuyển cử là một thắng lợi có ý nghĩa quyết định trên con đường tiến tới hoàn thành thống nhất đất nước về mặt Nhà nước. Thành phần của đại biểu Quốc hội được cử tri lựa chọn đã phản ánh đậm nét hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa.
Cử tri khu phố Nhà Chung, Hoàn Kiếm (Hà Nội) xem danh sách ứng cử viên trước khi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI.
Cử tri khu phố Nhà Chung, Hoàn Kiếm (Hà Nội) xem danh sách ứng cử viên trước khi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất trình thẻ cử tri cho tổ kiểm tra thẻ trước khi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VI (25/4/1976).
Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất trình thẻ cử tri cho tổ kiểm tra thẻ trước khi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa VI (25/4/1976).
Sinh viên trường Đại học Nông nghiệp 3 (Bắc Thái) bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (25/4/1976).
Sinh viên trường Đại học Nông nghiệp 3 (Bắc Thái) bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (25/4/1976).
Về đại biểu Quốc hội
Trong giai đoạn này, Quốc hội đã trải qua 5 khóa Quốc hội từ Quốc hội khóa II đến Quốc hội khóa VI. Cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội ở mỗi khóa có sự khác nhau[13]. Cụ thể:
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa II (1960-1964). Tổng số đại biểu Quốc hội là 453, trong đó: 362 đại biểu được dân bầu, 91 đại biểu miền nam lưu nhiệm. Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau: Công nhân: 13,8%; Nông dân: 12,9%; Trí thức: 28,4%; Đảng viên: 82,3%; Ngoài đảng: 14,1%; Cán bộ chính trị: 35,2%; Dân tộc thiểu số: 15,4%; Quân đội: 4,5%; Phụ nữ: 13,5%; Thanh niên: 8,8%; Tôn giáo: 3,5%.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa III (1964-1971). Tổng số đại biểu Quốc hội là 455, trong đó: 366 đại biểu được dân bầu, 89 đại biểu lưu nhiệm. Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau: Công nhân: 12,4% ; Nông dân: 24,5%; Trí thức: 26,8%; Đảng viên: 80,6%; Cán bộ chính trị: 19,2%; Dân tộc thiểu số: 16,6%; Quân đội: 5,0%; Phụ nữ: 16,7%; Thanh niên: 15,6%; Tôn giáo: 3,2%.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với các nữ đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa III, tháng 4/1966.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh lưu niệm với các nữ đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa III, tháng 4/1966.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa IV (1971-1975). Tổng số đại biểu Quốc hội: 420. Cơ cấu thành phần Quốc hội như sau: Công nhân: 22,3%; Nông dân: 21,4%; Trí thức: 17,1%; Đảng viên: 75,4%; Cán bộ chính trị: 24,05%; Dân tộc thiểu số: 17,3%; Quân đội: 6,4%; Phụ nữ: 29,7%; Thanh niên: 19,5%
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa V (1975-1976). Tổng số đại biểu Quốc hội: 424. Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau: Công nhân: 22%; Nông dân: 21%; Trí thức: 22%; Đảng viên: 73%; Cán bộ chính trị: 23%; Dân tộc thiểu số: 16,7%; Quân đội: 6,5%; Phụ nữ: 32%; Thanh niên: 33%.
Nhìn chung, thời kỳ này cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội qua các khóa tương đối ổn định, thể hiện chính sách nhất quán về đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp Nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI (1976-1981): Tổng số đại biểu Quốc hội là 492. Cơ cấu thành phần của Quốc hội như sau: Công nhân: 16,2%; Nông dân: 20,3%; Trí thức: 19,9%; Đảng viên: 81,4%; Cán bộ chính trị: 28,6%; Dân tộc thiểu số: 13,6%; Quân đội: 10,9%; Phụ nữ: 26%; Thanh niên: 11,7%.
Về cơ cấu bảo đảm sự tham gia, đại diện của các giai tầng chính trong xã hội. Tỷ lệ đại biểu Quốc hội là Đảng viên, đại biểu Quốc hội là phụ nữ, đại biểu Quốc hội thuộc khối Quân đội không ngừng được tăng cường. Nhìn chung, thời kỳ này cơ cấu, thành phần đại biểu Quốc hội qua các khóa tương đối ổn định, thể hiện chính sách nhất quán về đại đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Về Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp năm 1959, Nghị viện Nhân dân được đổi tên thành Quốc hội, được tổ chức và hoạt động theo các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960. Trong đó xác định tên gọi, vị trí của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu, có cơ cấu gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và các Ủy viên. Số lượng Phó Chủ tịch và Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội không đồng thời là thành viên của Hội đồng Chính phủ.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II (1960-1964): Tại Kỳ họp lần thứ nhất, Quốc hội đã bầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 thành viên, đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 14 Ủy viên chính thức và 5 Ủy viên dự khuyết.
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI, Quốc hội thống nhất đã bầu Ủy ban thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 7 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 13 Ủy viên chính thức, 2 Ủy viên dự khuyết (ngày 24/6/1976).
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI, Quốc hội thống nhất đã bầu Ủy ban thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 7 Phó Chủ tịch, Tổng thư ký, 13 Ủy viên chính thức, 2 Ủy viên dự khuyết (ngày 24/6/1976).
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa III (1964-1971): Do hoạt động trong thời chiến nên nhiệm kỳ Quốc hội kéo dài đến 7 năm. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã bầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 23 thành viên, đồng chí Trường Chinh là Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 15 Ủy viên chính thức, 3 Ủy viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm 4 thành viên.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IV (1971-1975): Nhiệm kỳ Quốc hội khóa IV là 4 năm. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhiệm kỳ này gồm 24 thành viên: đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 5 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 17 Ủy viên chính thức, ngoài ra có 3 Ủy viên dự khuyết và Ban Thư ký gồm 6 thành viên.
Nhìn chung, số lượng thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ khóa II đến khóa VI cơ bản giữ ổn định, số lượng Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội có sự biến động ở từng khóa do Quốc hội quyết định, số lượng Phó Chủ tịch cao nhất là 7 và thấp nhất là 5 người.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa V (1975-1976): Quốc hội khóa V ra đời trong bối cảnh lịch sử miền nam vừa mới giải phóng và hoạt động chưa đầy 2 năm. Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhiệm kỳ này do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 6 Phó Chủ tịch, 11 Ủy viên chính thức và 3 Ủy viên dự khuyết.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa VI (1976-1981): Quốc hội khóa VI là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên chính thức có Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội đã bầu Ủy ban Thường vụ Quốc hội do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch, 7 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, 13 Ủy viên chính thức và 2 Ủy viên dự khuyết.
Nhìn chung, số lượng thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ khóa II đến khóa VI cơ bản giữ ổn định, số lượng Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội có sự biến động ở từng khóa do Quốc hội quyết định, số lượng Phó Chủ tịch cao nhất là 7 và thấp nhất là 5 người.
Đồng chí Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội thăm thôn Vân, Gia Lâm bị đế quốc Mỹ ném bom trong 12 ngày “Điện Biên Phủ trên không” (Hà Nội, ngày 6/1/1973).
Đồng chí Trần Đăng Khoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn đầu đoàn đại biểu Quốc hội thăm thôn Vân, Gia Lâm bị đế quốc Mỹ ném bom trong 12 ngày “Điện Biên Phủ trên không” (Hà Nội, ngày 6/1/1973).
Đồng chí Nguyễn Thị Thập, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội thăm làng Quỳnh Đôi bị máy bay Mỹ bắn phá trong 12 ngày “Điện Biên Phủ trên không” (Hà Nội, ngày 6/1/1973)
Đồng chí Nguyễn Thị Thập, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội thăm làng Quỳnh Đôi bị máy bay Mỹ bắn phá trong 12 ngày “Điện Biên Phủ trên không” (Hà Nội, ngày 6/1/1973)
Ủy ban Hiến pháp của Quốc hội họp phiên toàn thể để thông qua bản dự thảo hiến pháp mới của Quốc hội (ngày 15/6/1979).
Ủy ban Hiến pháp của Quốc hội họp phiên toàn thể để thông qua bản dự thảo hiến pháp mới của Quốc hội (ngày 15/6/1979).
Về Chủ tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội
Thời kỳ này, chức danh Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chức danh Phó Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Số lượng Phó Chủ tịch Quốc hội tùy theo các khóa Quốc hội quyết định, từ 5 đến 7 người.
Về các Ủy ban của Quốc hội
Từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa II đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI, sau khi Hiến pháp năm 1959 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 được ban hành, tổ chức của Quốc hội có sự thay đổi lớn. Quốc hội đã thành lập các Ủy ban thuộc cơ cấu của mình.
Quốc hội khóa II (1960-1964) thành lập 3 Ủy ban là Ủy ban Dự án pháp luật; Ủy ban Kế hoạch và ngân sách; Ủy ban Thống nhất.
Quốc hội khóa III (1964-1971) thành lập 5 Ủy ban: Ủy ban Dự án pháp luật, Ủy ban Kế hoạch và ngân sách, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Thống nhất và Ủy ban Văn hóa-Xã hội. Quốc hội khóa IV (1971-1975) thành lập 6 Ủy ban: Ủy ban Dự án pháp luật, Ủy ban kế hoạch và ngân sách, Ủy ban dân tộc, Ủy ban thống nhất, Ủy ban Văn hóa-Xã hội và Ủy ban Đối ngoại. Quốc hội khóa V (1975-1976) duy trì 6 Ủy ban như nhiệm kỳ Quốc hội khóa IV.
Sau khi thống nhất đất nước, Ủy ban Thống nhất chấm dứt vai trò lịch sử của mình. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VI (1976-1981), Quốc hội thành lập 6 Ủy ban, gồm: Ủy ban Dự án pháp luật, Ủy ban Kế hoạch và ngân sách, Ủy ban Dân tộc, Ủy ban Văn hóa và giáo dục, Ủy ban Y tế và xã hội, Ủy ban Đối ngoại.
Về cơ cấu tổ chức, cơ bản các Ủy ban của Quốc hội có cơ cấu gồm: Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm, các Ủy viên. Số lượng thành viên và tỷ lệ cơ cấu các chức danh trong Ủy ban có sự khác nhau ở mỗi giai đoạn lịch sử, theo quy định của pháp luật.
Trong các nhiệm kỳ Quốc hội khóa II, III, IV, V và VI, theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960, các Ủy ban có thể có Phó Chủ nhiệm. Chủ nhiệm và các Ủy viên của Ủy ban do Quốc hội bầu theo sự đề cử của Chủ tịch Đoàn Kỳ họp Quốc hội. Phó Chủ nhiệm Ủy ban do Ủy ban bầu ra trong số các Ủy viên của Ủy ban.
Số lượng các Ủy ban cũng tăng dần theo các khóa gắn với những yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn. Từ 3 Ủy ban ở Quốc hội khóa II lên 6 Ủy ban ở Quốc hội khóa VI. Các Ủy ban như Ủy ban Dự án pháp luật; Ủy ban Kế hoạch và ngân sách là các Ủy ban được duy trì tương đối ổn định, kế thừa và phát triển từ Quốc hội khóa I gắn với những chức năng quan trọng nhất của Quốc hội là lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng, quốc kế dân sinh của đất nước.
Về Đoàn đại biểu Quốc hội
Theo quy định Luật Tổ chức Quốc hội (năm 1960), Đoàn đại biểu Quốc hội được hình thành trên cơ sở tập hợp các đại biểu Quốc hội theo đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, khu tự trị. “Đại biểu Quốc hội có thể họp thành các đoàn đại biểu địa phương theo đơn vị tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Giữa hai Kỳ họp của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội giữ quan hệ với Ủy ban thường vụ Quốc hội”. Quốc hội các khóa II, III, IV, V, VI, VII, VIII cũng thành lập các Đoàn đại biểu Quốc hội trên cơ sở đó.
Về Tổng Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Ban Thư ký của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II có 1 Tổng Thư ký và Ban Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II gồm 3 người.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa III bầu 1 Tổng Thư ký. Ban Thư ký Quốc hội khóa III được thành lập theo Nghị quyết số 3 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 11/7/1964 gồm 4 người.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IV bầu 1 Tổng Thư ký. Ban Thư ký khóa IV được bầu tại phiên họp ngày 12/6/1974 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 6 người, trong đó có 1 người kiêm giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội.
Cơ bản việc tổ chức, bố trí chức danh Tổng Thư ký và Ban Thư ký là phù hợp, bảo đảm việc phục vụ tốt hơn các hoạt động của Quốc hội, hướng tới Quốc hội chuyên nghiệp, hiệu quả.
Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1980 là giai đoạn hoạt động của Quốc hội các khóa II, III, IV, V, VI. Đây là thời kỳ Quốc hội hoạt động trong điều kiện miền bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm hậu phương lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền nam. Ngày 31/12/1959, Quốc hội khóa I Kỳ họp thứ 11 đã thông qua bản Hiến pháp năm 1959, Nghị viện nhân dân được đổi tên là Quốc hội và được tổ chức theo các quy định của Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Quốc hội năm 1960.
Kỳ họp của Quốc hội
Thực hiện quy định tại Điều 46 Hiến pháp năm 1959 và Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960 quy định về Kỳ họp của Quốc hội, Quốc hội các khóa đã tiến hành họp thường lệ mỗi năm hai kỳ: Kỳ thứ nhất chậm nhất vào tháng 4, kỳ thứ hai chậm nhất vào tháng 10, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập. Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể triệu tập Kỳ họp bất thường và triệu tập Kỳ họp Quốc hội khóa mới chậm nhất là hai tháng sau khi tuyển cử.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nhất trí thông qua nghị quyết về kết quả của Hội nghị chính trị đặc biệt và nghị quyết về ngân sách và kế hoạch Nhà nước năm 1964 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa II (năm 1964).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu nhất trí thông qua nghị quyết về kết quả của Hội nghị chính trị đặc biệt và nghị quyết về ngân sách và kế hoạch Nhà nước năm 1964 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa II (năm 1964).
Tại mỗi Kỳ họp, Quốc hội họp phiên trù bị để thông qua Chương trình nghị sự, bầu Chủ tịch đoàn và Thư ký đoàn của Kỳ họp. Phiên trù bị thường được tổ chức vào 1 buổi trước ngày khai mạc chính thức Kỳ họp. Chủ tịch đoàn điều khiển Kỳ họp Quốc hội, cử người làm Chủ tịch các phiên họp của Quốc hội. Thư ký đoàn có nhiệm vụ lập biên bản Kỳ họp và biên bản các phiên họp của Quốc hội, làm các việc khác do Chủ tịch đoàn giao cho. Quốc hội họp công khai, có thể họp kín theo đề nghị của Chủ tịch đoàn hoặc của Hội đồng Chính phủ.
So với quy định về Kỳ họp Quốc hội ở giai đoạn 1946-1960 thì quy định về Kỳ họp trong giai đoạn này đã chi tiết, rõ ràng và chặt chẽ hơn. Cụ thể: đã có quy định về việc Quốc hội bầu Chủ tịch đoàn và Thư ký đoàn; có phiên họp trù bị để thông qua Chương trình nghị sự; có Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu để thẩm tra tư cách đại biểu. Những quy định này góp phần bảo đảm Kỳ họp Quốc hội được tổ chức một cách khoa học, bảo đảm việc thực hiện chức năng, vai trò của Quốc hội được thực hiện theo các trình tự chặt chẽ.
Qua 21 năm với 5 khóa Quốc hội, Quốc hội đã họp tổng số 29 kỳ, thay mặt nhân dân quyết định nhiều vấn đề trọng yếu của đất nước trên cương vị là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Qua 21 năm với 5 khóa Quốc hội, Quốc hội đã họp tổng số 29 kỳ[14], thay mặt nhân dân quyết định nhiều vấn đề trọng yếu của đất nước trên cương vị là cơ quan quyền lực cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, cũng tương tự như giai đoạn 1946-1960, các Kỳ họp của Quốc hội giai đoạn này thường diễn ra trong thời gian ngắn. Thí dụ: Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa II diễn ra từ ngày 6/7/1960 đến ngày 15/7/1960, Kỳ họp thứ 4 diễn ra từ ngày 17/4/1962 đến ngày 26/4/1962, Kỳ họp thứ 5 diễn ra từ ngày 22/6/1962 đến ngày 27/6/1962, Kỳ họp thứ 6 diễn ra từ 28/4/1963 đến ngày 8/5/1963, Kỳ họp thứ 8 diễn ra từ 29/3/1964 đến ngày 4/4/1964.
Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ở giai đoạn này, Hiến pháp năm 1959 đã quy định chế định Ủy ban Thường vụ Quốc hội thay cho Ban Thường trực Quốc hội. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được tăng lên, hoạt động thường xuyên hơn, họp mỗi tháng một lần; khi cần thiết có thể họp nhiều lần hơn. Quy định này phù hợp với đặc trưng của Quốc hội không họp thường xuyên (mỗi năm thường diễn ra 2 Kỳ họp), đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoạt động như mô hình một “Quốc hội thu nhỏ” và đảm nhiệm một khối lượng công việc rất lớn, phức tạp, hệ trọng, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức để thực hiện thì quy định này là hết sức cần thiết và phù hợp với nguyên tắc làm việc tập thể của Quốc hội nói chung, các cơ quan của Quốc hội nói riêng.
Các đại biểu quốc hội thông qua Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI.
Các đại biểu quốc hội thông qua Hiến pháp mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI.
Bên cạnh đó, Điều 54 Hiến pháp năm 1959 cũng quy định rõ nguyên tắc làm việc trong phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số: “Những nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số Ủy viên biểu quyết tán thành.”
Từ năm 1976 đến năm 1980, đất nước đã giành được độc lập, thống nhất, các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng được tổ chức thường xuyên hơn để giúp Quốc hội trong việc triệu tập các Kỳ họp Quốc hội; thảo luận, cho ý kiến ở giai đoạn trước khi trình ra Quốc hội xem xét, quyết định đối với các vấn đề hệ trọng của đất nước như dự thảo Nghị quyết về tên nước, Quốc kỳ, Quốc ca; các nội dung về tổ chức bộ máy và nhân sự. Đặc biệt là trong bối cảnh Quốc hội khóa VI được giao nhiệm vụ xây dựng Hiến pháp thay thế Hiến pháp năm 1959, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thường xuyên họp, trao đổi, thảo luận, cho ý kiến đối với các nội dung trong dự thảo Hiến pháp, qua đó, góp phần lớn trong việc xây dựng thành công Hiến pháp năm 1980.
Trong 21 năm hoạt động, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp hơn 200 phiên họp, thông qua 16 pháp lệnh và hơn 1000 Nghị quyết về các vấn đề quản lý, phát triển đất nước. Các phiên họp đều xoay quanh việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960.
Trong 21 năm hoạt động, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã họp hơn 200 phiên họp, thông qua 16 pháp lệnh và hơn 1.000 Nghị quyết về các vấn đề quản lý, phát triển đất nước. Các phiên họp đều xoay quanh việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960.
Cuộc họp của các Ủy ban của Quốc hội
Theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960, thời kỳ này cơ cấu tổ chức của Quốc hội có thêm Ủy ban Dự án pháp luật, Ủy ban Kế hoạch và Ngân sách (ngoài ra, Quốc hội có thể lập thêm những Ủy ban khác nếu cần thiết). Cơ cấu của các Ủy ban gồm Chủ nhiệm và các Ủy viên, có thể có Phó Chủ nhiệm.
Các Ủy ban sẽ tổ chức các Hội nghị để thảo luận về những nội dung, vấn đề thuộc lĩnh vực Ủy ban phụ trách, lấy ý kiến tập thể và trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nô nức đi bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất (1976).
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nô nức đi bỏ phiếu bầu Quốc hội thống nhất (1976).
Thành phần tham dự Hội nghị của các Ủy ban gồm Chủ nhiệm Ủy ban, các thành viên của Ủy ban, các đại biểu Quốc hội không ở trong các Ủy ban có thể tham dự hội nghị của Ủy ban với sự đồng ý của Chủ nhiệm Ủy ban và có thể phát biểu ý kiến nhưng không có quyền biểu quyết. Các Ủy ban có thể yêu cầu các thành viên của Hội đồng Chính phủ và những nhân viên hữu quan khác trình bày về những vấn đề cần thiết có liên quan đến nhiệm vụ của Ủy ban.
Thời kỳ này, chưa có quy định cụ thể về thời gian họp của các Ủy ban mà phụ thuộc vào sự điều hành của Chủ nhiệm Ủy ban và căn cứ vào yêu cầu thực tiễn để tổ chức các hội nghị thảo luận chung.
Hoạt động của Ủy ban gắn với nội dung hoạt động của Quốc hội tại các Kỳ họp, Ủy ban họp chủ yếu để thẩm tra các dự án luật. Trong thời kỳ này, Quốc hội ban hành không nhiều dự án luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ít pháp lệnh (Quốc hội khóa III ban hành 1 luật, 5 pháp lệnh; Quốc hội khóa IV thông qua 1 pháp lệnh, Quốc hội khóa VI thông qua Hiến pháp, 1 luật, 4 pháp lệnh). Do vậy, hoạt động của các Ủy ban chưa nhiều, thời gian phiên họp ngắn.
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội
Đoàn đại biểu họp trong mỗi Kỳ họp của Quốc hội để trao đổi ý kiến về những vấn đề cần thiết của Kỳ họp. Giữa hai Kỳ họp của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội giữ quan hệ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Giai đoạn này, lần đầu tiên có các quy định cụ thể về chế định Đoàn đại biểu Quốc hội. Đây là một bước tiến mới trong phương thức hoạt động của Quốc hội nói chung, trong phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội nói riêng.
Có thể thấy, giai đoạn này, lần đầu tiên có các quy định cụ thể về chế định Đoàn đại biểu Quốc hội. Đây là một bước tiến mới trong phương thức hoạt động của Quốc hội nói chung, trong phương thức hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội nói riêng. Đoàn đại biểu Quốc hội với đặc điểm là tập hợp các đại biểu theo địa giới hành chính, có vai trò là cầu nối giữa đại biểu Quốc hội với Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan hữu quan; kết nối các đại biểu trong cùng một tỉnh thành và là hình thức để các đại biểu có thể cùng bàn bạc, thảo luận, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội một cách hiệu quả hơn.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IV.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ các đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IV.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, giai đoạn này, các Đoàn đại biểu đã tổ chức các hoạt động như: trao đổi, xây dựng nội dung Kỳ họp; giữa hai Kỳ họp của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội giữ quan hệ với Ủy ban Thường vụ Quốc hội; khi đại biểu Quốc hội thực hiện các quyền chất vấn với Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, trong thời gian giữa hai Kỳ họp, Chủ tịch đoàn sẽ tổng hợp lời chất vấn gửi cho cơ quan bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tổ chức các buổi cho đại biểu Quốc hội thuộc đoàn mình tiếp xúc cử tri; tổ chức báo cáo nội dung và kết quả của Kỳ họp; tổ chức họp Đoàn đại biểu Quốc hội của địa phương để tổng kết hoạt động trong nhiệm kỳ của Quốc hội…
Về phương pháp hoạt động
Thời kỳ này, Quốc hội vẫn thực hiện thống nhất, xuyên suốt các phương pháp hoạt động: làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, chế độ họp công khai, hoạt động dân chủ, công khai, minh bạch, phản ánh đầy đủ các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, cơ chế tham luận, thảo luận, tranh luận… Việc tổ chức các Kỳ họp dài hơn với sự tham gia của hầu hết các đại biểu Quốc hội đã giúp cơ chế làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số, cơ chế tham luận, thảo luận được sôi nổi, hiệu quả hơn. Việc thành lập các Đoàn đại biểu Quốc hội để giúp đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ đại biểu đã giúp tăng cường hơn các hoạt động tiếp xúc cử tri, các hoạt động trao đổi, thảo luận tại Đoàn về các nội dung giữa 2 Kỳ họp Quốc hội. Nhờ đó, các phương pháp hoạt động của Quốc hội được áp dụng, triển khai sâu rộng hơn.
Ngày xuất bản: 1/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: KHÁNH DUY - VĂN TOẢN
Ảnh tư liệu: TTXVN, CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ QUỐC HỘI
Trình bày: LÝ LÊ
