DU LỊCH Y TẾ:
Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam

Du lịch y tế đang trở thành một ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD và là cuộc cạnh tranh mới giữa các quốc gia. Nếu trước đây, lợi thế chỉ nằm ở chi phí điều trị hay tay nghề bác sĩ, thì nay, sức hút của một điểm đến còn được quyết định bởi cả một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe: từ bệnh viện, dịch vụ phục hồi, bảo hiểm, hàng không, nghỉ dưỡng đến năng lực ứng phó y tế khẩn cấp và sự an toàn của cộng đồng.

Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để tham gia cuộc đua này. Nhiều kỹ thuật y khoa đã tiệm cận trình độ khu vực, chi phí cạnh tranh, thời gian chờ ngắn và ngày càng có nhiều bệnh viện thu hút bệnh nhân quốc tế. Tuy nhiên, để biến những "điểm sáng" riêng lẻ thành một ngành kinh tế thực sự, Việt Nam sẽ cần nhiều hơn chứ không chỉ là những bệnh viện chất lượng.

Loạt bài "Du lịch y tế: Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam" sẽ đi từ những câu chuyện người nước ngoài lựa chọn Việt Nam để điều trị, phân tích kinh nghiệm của các quốc gia thành công, chỉ ra những khoảng trống cần tháo gỡ và đề xuất giải pháp xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến an toàn về sức khỏe trong khu vực.

E
DU LỊCH Y TẾ nhandan.vn

Khi Thái Lan, Singapore hay Nhật Bản đã xây dựng được hệ sinh thái dịch vụ đồng bộ, từ visa, bảo hiểm đến chăm sóc sau điều trị, Việt Nam vẫn còn nhiều "điểm nghẽn" cần tháo gỡ để biến tiềm năng thành lợi thế cạnh tranh.

Hướng đi

để “canh tác” hiệu quả dư địa du lịch y tế

Việt Nam sở hữu nhiều bệnh viện có năng lực chuyên môn hàng đầu khu vực, làm chủ các kỹ thuật khó như ghép tạng, tim mạch can thiệp, phẫu thuật robot, hỗ trợ sinh sản hay điều trị ung thư. Tuy nhiên, khoảng cách giữa năng lực điều trị và năng lực phát triển dịch vụ du lịch y tế vẫn còn lớn. Hiện chỉ một số ít cơ sở chủ động xây dựng mô hình phục vụ bệnh nhân quốc tế, trong khi phần lớn hệ thống y tế vẫn vận hành theo mô hình truyền thống.

Theo Tiến sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), du lịch y tế tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn mang tính hệ thống, khiến tiềm năng chưa được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh thực sự trong khu vực. Trong đó, điểm yếu lớn nhất là thiếu sự điều phối giữa Y tế và Du lịch khi quảng bá quốc tế còn sơ khai, rời rạc, chưa có thương hiệu quốc gia.

Một hạn chế lớn về mặt tổng thể là Việt Nam chưa có đầu mối điều phối quốc gia về du lịch y tế. Sự phối hợp giữa các bộ, ngành như Y tế, Du lịch, Công an, Ngoại giao… vẫn rời rạc, thiếu cơ chế vận hành thường xuyên và thống nhất. Công tác thống kê, nghiên cứu thị trường và dữ liệu về du lịch y tế còn yếu, khiến việc hoạch định chính sách và xúc tiến quốc tế thiếu nền tảng thực tiễn.

Chỉ số năng lực hạ tầng du lịch của Việt Nam (TTDI 2024) xếp hạng 80/119 quốc gia, cho thấy khoảng cách đáng kể so với các nước dẫn đầu khu vực. Nhiều bệnh viện vẫn chưa đáp ứng yêu cầu về không gian dịch vụ, trải nghiệm khách quốc tế và tiêu chuẩn nghỉ dưỡng y tế.

Một hạn chế lớn về mặt tổng thể là Việt Nam chưa có đầu mối điều phối quốc gia về du lịch y tế.

Tiến sĩ Hà Anh Đức

Đi sâu hơn, có thể thấy Việt Nam chưa có khung pháp lý chuyên biệt cho du lịch y tế. Các quy định còn phân tán ở nhiều luật và văn bản khác nhau, chưa được thiết kế theo tư duy chuỗi dịch vụ khép kín, chưa có chính sách thị thực y tế riêng cho các trường hợp điều trị dài ngày hoặc tái khám nhiều lần. Cơ chế giá dịch vụ cho người nước ngoài tại bệnh viện công còn thiếu linh hoạt, chưa phản ánh đúng chi phí thực tế.

Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có bộ tiêu chí thống nhất để công nhận cơ sở y tế đủ điều kiện cung cấp dịch vụ du lịch y tế, khiến thị trường thiếu chuẩn hóa và khó kiểm soát chất lượng. Các cơ chế liên quan đến tranh chấp y khoa có yếu tố nước ngoài và bảo vệ dữ liệu người bệnh quốc tế cũng chưa được hoàn thiện.

Dù có nhiều kỹ thuật chuyên sâu, các cơ sở y tế Việt Nam vẫn chưa xây dựng được hệ thống “gói dịch vụ du lịch y tế” chuẩn hóa. Dịch vụ còn manh mún, thiếu tích hợp giữa điều trị-lưu trú-nghỉ dưỡng-phục hồi chức năng.

Một thí dụ điển hình là Bệnh viện Chợ Rẫy, cơ sở hạng đặc biệt với hơn 3.200 giường bệnh, dù đã có Trung tâm Dịch vụ quốc tế từ năm 2018, nhưng mỗi tháng chỉ tiếp nhận khoảng 15-20 bệnh nhân nước ngoài. Điều này cho thấy một khoảng cách rõ rệt: năng lực chuyên môn chưa được chuyển hóa thành sản phẩm dịch vụ cạnh tranh quốc tế, do thiếu hệ thống tiếp thị, môi giới và phân phối bệnh nhân chuyên nghiệp.

Đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn tốt, nhưng nhân lực phục vụ du lịch y tế còn thiếu kỹ năng ngoại ngữ chuyên ngành, giao tiếp liên văn hóa và dịch vụ khách quốc tế. Việt Nam cũng chưa có chức danh nghề nghiệp và chương trình đào tạo chính quy cho vị trí điều phối viên du lịch y tế. Trong khi đó, một số chuyên khoa tuyến cuối đang quá tải, làm giảm khả năng phát triển dịch vụ theo yêu cầu cho khách quốc tế.

Bệnh viện Chợ Rẫy lọt Top bệnh viện chuyên khoa tốt nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2026. (Ảnh: VGP)

Bệnh viện Chợ Rẫy lọt Top bệnh viện chuyên khoa tốt nhất khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2026. (Ảnh: VGP)

Hiện Việt Nam mới chỉ có 1 bệnh viện công lập đạt chuẩn JCI, trong khi Thái Lan có hơn 60, Singapore khoảng 12 và Malaysia hơn 15.

Việc đánh giá chất lượng độc lập và công bố dữ liệu cấp quốc gia chưa đồng bộ, khiến nhiều hãng bảo hiểm quốc tế chưa có cơ sở tin cậy để liên kết thanh toán.

Cơ chế tài chính hiện chưa tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ, khiến nhiều bệnh viện công chưa có khả năng tự cân đối. Việc chi trả cho chuyên gia nước ngoài còn thiếu linh hoạt, chưa đủ sức cạnh tranh nhân lực quốc tế.

Một vấn đề khách quốc tế đặc biệt lưu tâm là thị trường bảo hiểm thương mại y tế còn hạn chế. Hiện nay, phần lớn bệnh viện công ở Việt Nam vẫn chưa kết nối chặt chẽ với các mạng lưới bảo hiểm quốc tế. Vì vậy, sau khi ra viện, nhiều du khách phải tự mang hóa đơn, chứng từ về làm việc với công ty bảo hiểm hoặc đơn vị lữ hành để được thanh toán. Đây là một quy trình khá mất thời gian.

Thay vì để du khách tự ứng trước chi phí rồi về nước làm thủ tục bồi hoàn, nhiều bệnh viện tại Singapore, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ… xây dựng cơ chế "direct billing" với các hãng bảo hiểm quốc tế. Bệnh viện sẽ trực tiếp xác minh quyền lợi, xin chấp thuận điều trị và thanh toán với doanh nghiệp bảo hiểm.

Bài học

từ những quốc gia đi trước

Thông tin từ Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), ước tính mỗi năm có hàng triệu người Mỹ ra nước ngoài để tiếp cận các dịch vụ y tế. Từ những nhu cầu cơ bản như chụp cộng hưởng từ, điện tâm đồ đến các kỹ thuật chuyên sâu như phẫu thuật thẩm mỹ, thụ tinh trong ống nghiệm hay điều trị ung thư... các dịch vụ này ngày càng được tích hợp trong những hành trình kết hợp khám, chữa bệnh, tham quan và nghỉ dưỡng. Nhờ lựa chọn các điểm đến phù hợp, nhiều du khách có thể tiết kiệm từ 40-90% chi phí so với điều trị trong nước.

Không chỉ tại Mỹ, xu hướng dịch chuyển xuyên biên giới để chăm sóc sức khỏe đang nhanh chóng mở rộng trên toàn cầu. Dự báo của các tổ chức tài chính quốc tế cho thấy doanh thu bảo hiểm y tế quốc tế có thể tăng từ gần 32 tỷ USD năm 2025 lên khoảng 40 tỷ USD vào năm 2030, phản ánh tiềm năng tăng trưởng mạnh của thị trường này. Du lịch y tế vì thế không còn là lựa chọn riêng lẻ của từng bệnh nhân, mà đang dần trở thành một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia.

Điểm khác biệt giữa những quốc gia thành công không chỉ nằm ở năng lực điều trị mà ở khả năng biến dịch vụ y tế thành một hành trình hoàn chỉnh. Thay vì chỉ cung cấp một ca phẫu thuật hay một liệu trình điều trị, các điểm đến hàng đầu xây dựng hệ sinh thái kết nối giữa bệnh viện, đơn vị điều phối, bảo hiểm, lưu trú, vận chuyển và các dịch vụ du lịch, giúp người bệnh có trải nghiệm thuận tiện từ trước khi nhập cảnh cho đến sau khi kết thúc điều trị.

SO SÁNH TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ IVH
Infographic Tương Tác

SO SÁNH DỊCH VỤ IVF CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ QUỐC GIA

So sánh chi tiết các chỉ số chuyên môn, chi phí và dịch vụ giữa Việt Nam, Thái Lan, Singapore và Nhật Bản.

Bảng tổng hợp dữ liệu chuẩn

Tiêu chí đánh giá Việt Nam Thái Lan Singapore Nhật Bản
Trình độ chuyên môn Trung tâm IVF phát triển; Trung tâm IVF phát triển mạnh, thu hút bệnh nhân quốc tế Tiêu chuẩn điều trị nghiêm ngặt, công nghệ tiên tiến; là điểm đến của nhóm khách chất lượng cao. Tiêu chuẩn điều trị nghiêm ngặt, công nghệ tiên tiến; là điểm đến của nhóm khách chất lượng cao.
Chi phí một chu kỳ IVF Khoảng 2.700 - 4.600 USD Khoảng 8.000 - 15.000 USD Khoảng 7.500 - 15.000 USD Khoảng 3.500 - 7.000 USD
Du lịch - nghỉ dưỡng Đa dạng, giá thấp Đa dạng, phát triển Phát triển, chi phí cao Đa dạng, phát triển, chi phí cao
Mức độ quảng bá Thương hiệu trung bình, giá trung bình Thương hiệu mạnh Thương hiệu rất mạnh, giá cao Thương hiệu rất mạnh, giá cao
Tiêu chuẩn

VIỆT NAM

Trình độ chuyên môn

Trung tâm IVF phát triển;


Chi phí một chu kỳ IVF

Khoảng 2.700 - 4.600 USD


Du lịch - nghỉ dưỡng

Đa dạng, giá thấp


Mức độ quảng bá

Thương hiệu trung bình, giá trung bình

Tiêu chuẩn

THÁI LAN

Trình độ chuyên môn

Trung tâm IVF phát triển mạnh, thu hút bệnh nhân quốc tế


Chi phí một chu kỳ IVF

Khoảng 8.000 - 15.000 USD


Du lịch - nghỉ dưỡng

Đa dạng, phát triển


Mức độ quảng bá

Thương hiệu mạnh

Tiêu chuẩn

SINGAPORE

Trình độ chuyên môn

Tiêu chuẩn điều trị nghiêm ngặt, công nghệ tiên tiến; là điểm đến của nhóm khách chất lượng cao.


Chi phí một chu kỳ IVF

Khoảng 7.500 - 15.000 USD


Du lịch - nghỉ dưỡng

Phát triển, chi phí cao


Mức độ quảng bá

Thương hiệu rất mạnh, giá cao

Tiêu chuẩn

NHẬT BẢN

Trình độ chuyên môn

Tiêu chuẩn điều trị nghiêm ngặt, công nghệ tiên tiến; là điểm đến của nhóm khách chất lượng cao.


Chi phí một chu kỳ IVF

Khoảng 3.500 - 7.000 USD


Du lịch - nghỉ dưỡng

Đa dạng, phát triển, chi phí cao


Mức độ quảng bá

Thương hiệu rất mạnh, giá cao

Phân tích chi tiết theo từng tiêu chí

Nguồn: Bộ Y tế Việt Nam; Bệnh viện Từ Dũ; Bệnh viện Phụ sản Trung ương; Bộ Y tế Singapore; Bangkok Hospital; Samitivej Hospital; Jetanin Institute for Assisted Reproduction; Japan Society of Obstetrics and Gynecology (JSOG); Japan National Tourism Organization (JNTO).

Xanh dương Trắng Vàng

Ông Đỗ Quang Ba, Chủ tịch Tổ chức Giao lưu quốc tế Việt Nam-Nhật Bản (FAVIJA), đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Hợp tác Y tế Việt Nam-Nhật Bản (VJIIC) là người có nhiều năm kết nối, hỗ trợ bệnh nhân Việt Nam sang Nhật Bản khám và điều trị.

Quá trình trực tiếp làm việc với hệ thống bệnh viện, doanh nghiệp bảo hiểm và các đơn vị điều phối y tế tại Nhật Bản giúp ông có góc nhìn thực tế về cách quốc gia này phát triển du lịch y tế như một ngành công nghiệp dịch vụ hoàn chỉnh.

Ông Đỗ Quang Ba (thứ 4 từ phải sang) trao đổi góc nhìn về hệ thống bệnh viện, doanh nghiệp bảo hiểm và các đơn vị điều phối y tế tại Nhật Bản.

Ông Đỗ Quang Ba (thứ 4 từ phải sang) trao đổi góc nhìn về hệ thống bệnh viện, doanh nghiệp bảo hiểm và các đơn vị điều phối y tế tại Nhật Bản.

Theo ông Ba, điều tạo nên sức hút của Nhật Bản không chỉ nằm ở trình độ y học mà còn ở hệ sinh thái hỗ trợ bệnh nhân quốc tế. Trước khi sang Nhật, người bệnh được tư vấn lựa chọn cơ sở điều trị phù hợp, chuẩn hóa hồ sơ bệnh án, hỗ trợ phiên dịch y khoa, xin visa y tế, bố trí nơi lưu trú, phương tiện di chuyển và kết nối liên tục với bệnh viện trong suốt quá trình điều trị. Sau điều trị, việc theo dõi và hỗ trợ người bệnh vẫn tiếp tục được duy trì.

Điều tạo nên sức hút của Nhật Bản không chỉ nằm ở trình độ y học mà còn ở hệ sinh thái hỗ trợ bệnh nhân quốc tế.
Ông Đỗ Quang Ba

Có thể lấy thí dụ từ mô hình mà tỉnh Yamanashi (Nhật Bản) theo đuổi suốt hơn một thập kỷ. Theo chia sẻ từ ông Koyama Yoshihisa, Hội đồng Xúc tiến Du lịch Chăm sóc Sức khỏe Yamanashi, từ năm 2014, Hội đồng đã đưa khái niệm wellness tourism, khi ấy còn rất mới ở Nhật Bản, trở thành định hướng phát triển của địa phương.

Ảnh: Cơ quan Xúc tiến du lịch Nhật Bản.

Ảnh: Cơ quan Xúc tiến du lịch Nhật Bản.

Yamanashi kết nối thiên nhiên, thực phẩm an toàn, văn hóa bản địa, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe tinh thần và sự an toàn của điểm đến thành một trải nghiệm hoàn chỉnh. Sau đại dịch Covid-19, khi nhu cầu tìm kiếm sự cân bằng về thể chất và tinh thần gia tăng, cách tiếp cận này càng chứng minh hiệu quả.

Nhiều quốc gia phát triển du lịch y tế cũng đã xây dựng chính sách thị thực y tế từ nhiều năm trước. Nhật Bản triển khai Medical Stay Visa từ năm 2011, theo quy định của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, người xin visa phải thông qua đơn vị bảo lãnh như điều phối viên y tế hoặc công ty được Chính phủ công nhận. Đơn vị này sẽ kết nối bệnh nhân với bệnh viện, xây dựng kế hoạch điều trị, chuẩn bị hồ sơ, chứng minh tài chính và hỗ trợ toàn bộ quy trình trước khi bệnh nhân nhập cảnh.

Infographic Đơn Giản Hiện Đại
Tư duy chiến lược minh họa

Một nguồn khách tiềm năng khác là cộng đồng khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiều kiều bào có nhu cầu trở về quê hương thăm thân kết hợp khám chữa bệnh bởi chi phí điều trị thấp hơn, đồng thời không gặp rào cản ngôn ngữ và văn hóa. Đây cũng có thể trở thành lực lượng quảng bá hiệu quả cho hình ảnh y tế Việt Nam thông qua trải nghiệm thực tế.

Hiệu suất vận hành minh họa

Mặc dù có sự đa dạng về mô hình, các nước thành công đều có một số điểm chung gồm xác định du lịch y tế là lĩnh vực ưu tiên trong chiến lược phát triển quốc gia, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành đủ thẩm quyền, xây dựng khung pháp lý chuyên biệt, phát triển hệ thống bảo đảm chất lượng dịch vụ và đầu tư có trọng điểm cho hoạt động xúc tiến thương hiệu quốc gia.

Thái Lan cấp Non-Immigrant O (Medical Treatment) dành cho người điều trị trên 60 ngày và thị thực điều trị ngắn hạn đối với các trường hợp dưới 60 ngày; Ấn Độ triển khai Medical Visa (MED) và Medical Attendant Visa (MED-X) dành cho người đi cùng; Malaysia có cơ chế nhập cảnh kết hợp với hệ thống điều phối bệnh nhân quốc tế thông qua các bệnh viện và cơ quan xúc tiến du lịch y tế.

Những chính sách này giúp người bệnh thuận tiện hơn trong việc nhập cảnh, kéo dài thời gian lưu trú khi cần điều trị và tạo nền tảng để kết nối đồng bộ với bảo hiểm, cơ sở y tế và các dịch vụ hỗ trợ khác. Trong khi đó, tại Việt Nam, người nước ngoài vẫn chủ yếu sử dụng các loại thị thực thông thường khiến hành trình khám chữa bệnh chưa thiếu tính chuyên biệt.

SO SÁNH THỊ TRƯỜNG DU LỊCH Y TẾ QUỐC TẾ
Báo cáo dữ liệu trực quan

SO SÁNH THỊ TRƯỜNG DU LỊCH Y TẾ QUỐC TẾ

Khám phá chi tiết năng lực cạnh tranh, quy mô bệnh nhân, doanh thu và định vị chiến lược của các quốc gia hàng đầu. Bấm vào từng quốc gia bên dưới để xem chi tiết.

THÁI LAN

🇹🇭

Điểm khác biệt tạo sức hút

Điều trị chất lượng cao với chi phí cạnh tranh; dịch vụ trọn gói; mạnh về thẩm mỹ, tim mạch, chỉnh hình, IVF, nha khoa

Quy mô bệnh nhân quốc tế

Khoảng 3-3,5 triệu lượt bệnh nhân quốc tế

Doanh thu/giá trị kinh tế

Khoảng 730 triệu - 1 tỷ USD

Định vị

Xây dựng chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh từ điều trị - nghỉ dưỡng - bảo hiểm - du lịch

Bảng tổng hợp dữ liệu chi tiết

Cuộn ngang để xem đầy đủ
Quốc gia Điểm khác biệt tạo sức hút Quy mô bệnh nhân quốc tế Doanh thu/giá trị kinh tế ước tính Định vị
🇹🇭Thái Lan Điều trị chất lượng cao với chi phí cạnh tranh; dịch vụ trọn gói; mạnh về thẩm mỹ, tim mạch, chỉnh hình, IVF, nha khoa Khoảng 3-3,5 triệu lượt bệnh nhân quốc tế Khoảng 730 triệu - 1 tỷ USD Xây dựng chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh từ điều trị - nghỉ dưỡng - bảo hiểm - du lịch
🇲🇾Malaysia Có chiến lược quốc gia, một đầu mối điều phối (MHTC); mạnh về tim mạch, ung thư, IVF, khám sức khỏe Khoảng 1,54 triệu lượt bệnh nhân quốc tế (2024) Khoảng 640 triệu USD Vai trò của cơ quan điều phối quốc gia, quảng bá thống nhất
🇸🇬Singapore Trung tâm điều trị bệnh phức tạp, ung thư, tim mạch, thần kinh; uy tín quốc tế Không công bố số liệu Khoảng 780 triệu USD Định vị phân khúc cao cấp, tập trung chất lượng thay vì số lượng
🇰🇷Hàn Quốc Thẩm mỹ, da liễu, khám sức khỏe, điều trị ung thư; kết hợp sức mạnh Hallyu Khoảng 1,17 triệu lượt bệnh nhân quốc tế - mức cao nhất từ trước đến nay (2024) Không công bố Kết hợp y tế với quảng bá văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia
🇯🇵Nhật Bản Khám sức khỏe (Ningen Dock), robot phẫu thuật, ung thư, y học tái tạo Không công bố số liệu Không công bố Phát triển y tế công nghệ cao, tập trung giá trị thay vì quy mô
🇮🇳Ấn Độ Chi phí thấp nhưng kỹ thuật cao; mạnh về tim mạch, ghép tạng, IVF, ung thư, phẫu thuật robot Khoảng 2 triệu lượt bệnh nhân quốc tế Khoảng 7-9 tỷ USD Tận dụng lợi thế chi phí để thu hút bệnh nhân toàn cầu
Nguồn dữ liệu gốc: Nguồn: BOI (Thái Lan), MHTC (Malaysia), Bộ Y tế Singapore, KHIDI (Hàn Quốc), MEJ và METI (Nhật Bản), IBEF và Bộ Du lịch Ấn Độ, cùng các báo cáo của Statista, CGS International, RHB Research và Grand View Research.

Ông cũng cho rằng nguồn nhân lực phục vụ bệnh nhân quốc tế còn thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng. Không chỉ đội ngũ phiên dịch y khoa mà ngay cả bác sĩ, điều dưỡng cũng cần được nâng cao năng lực ngoại ngữ để có thể tư vấn, chăm sóc và giao tiếp trực tiếp với người bệnh.

Đặc biệt, Việt Nam hiện cũng chưa có một thương hiệu quốc gia về du lịch y tế.

Theo ông, thay vì để từng bệnh viện quảng bá riêng lẻ, cần xây dựng một thương hiệu thống nhất cùng cổng thông tin quốc gia đa ngôn ngữ, cung cấp đầy đủ danh sách bệnh viện đủ điều kiện tiếp nhận người nước ngoài, hồ sơ bác sĩ, bảng giá tham khảo, hướng dẫn xin visa y tế, đặt lịch khám, dịch vụ phiên dịch cũng như kết nối với khách sạn, hàng không và bảo hiểm.

Với nền y tế đang hiện đại hóa nhanh chóng, sự gia tăng mạnh mẽ của đầu tư tư nhân và lợi thế chi phí cạnh tranh, Việt Nam đang hướng tới trở thành trung tâm du lịch y tế hàng đầu Đông Nam Á.

Tiềm năng kinh tế của du lịch y tế rất rõ rệt khi doanh thu năm 2025 tại Việt Nam đạt hơn 850 triệu USD (theo báo cáo của IMARC), tốc độ tăng trưởng thường niên khoảng 18% và kỳ vọng có thể chạm mốc 4 tỷ USD vào đầu thập kỷ tới.

Du lịch y tế không chỉ mang lại nguồn thu mà còn là công cụ gia tăng quyền lực mềm quốc gia.
Phó Giáo sư Giannina Warren, Đại học RMIT Việt Nam

Theo Phó Giáo sư Giannina Warren, Đại học RMIT Việt Nam, với hệ thống y tế hiện đại hóa nhanh, đầu tư tư nhân gia tăng và lợi thế chi phí cạnh tranh, Việt Nam có nhiều điều kiện để trở thành trung tâm du lịch y tế của khu vực. Tuy nhiên, điều còn thiếu là một chiến lược truyền thông quốc gia đủ mạnh để hiện thực hóa tham vọng này.

Thách thức lớn nhất không nằm ở năng lực chuyên môn mà ở cách Việt Nam truyền tải giá trị của hệ thống y tế tới bệnh nhân quốc tế. Khác với du lịch nghỉ dưỡng, ở góc độ y tế, người bệnh đưa ra quyết định liên quan trực tiếp đến sức khỏe. Vì vậy yếu tố niềm tin đóng vai trò then chốt. Trong khi đó, thông tin về y tế Việt Nam hiện vẫn phân tán, thiếu một kênh chính thống, thống nhất và dễ tiếp cận.

Doanh thu du lịch y tế tại Việt Nam năm 2025 đạt hơn 850 triệu USD, tốc độ tăng trưởng thường niên khoảng 18% và kỳ vọng chạm mốc 4 tỷ USD vào đầu thập kỷ tới.

Các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần xây dựng chiến lược truyền thông đồng bộ, gắn kết giữa hành lang pháp lý, hệ thống kiểm định chất lượng, tiêu chuẩn dịch vụ và những câu chuyện thực tế của bệnh nhân. Việc công khai các chứng nhận quốc tế như JCI, kết quả điều trị, tỷ lệ thành công và chất lượng chăm sóc trước, trong và sau điều trị sẽ góp phần củng cố niềm tin của người bệnh.

Thay vì chỉ nhấn mạnh lợi thế chi phí hay chất lượng, các bệnh viện cần kể những câu chuyện chân thực về hành trình điều trị, đội ngũ bác sĩ và trải nghiệm hồi phục, đồng thời tận dụng các nền tảng số như tư vấn từ xa, website, đánh giá trực tuyến để tiếp cận bệnh nhân ngay từ giai đoạn tìm kiếm thông tin.

Theo Phó Giáo sư Warren, nếu chuyển từ cách quảng bá đơn lẻ sang một chiến lược kể chuyện bài bản và nhất quán, Việt Nam không chỉ nâng cao uy tín của ngành y tế mà còn tăng cường quyền lực mềm quốc gia và sức cạnh tranh của du lịch y tế trên thị trường quốc tế. Về lâu dài, thành công của du lịch y tế sẽ không chỉ phụ thuộc vào năng lực chuyên môn mà còn ở khả năng truyền tải những giá trị đó đến thế giới một cách đáng tin cậy.

Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ, tháng 5/2026. (Ảnh: TTXVN)

Tổng Bí thư Tô Lâm và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ, tháng 5/2026. (Ảnh: TTXVN)

Đáng chú ý, du lịch y tế đã xuất hiện trong chương trình hợp tác cấp cao giữa Việt Nam và Ấn Độ.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư Tô Lâm vào tháng 5/2026, hai nước đã ra Tuyên bố chung, thống nhất thúc đẩy phát triển du lịch y tế và du lịch chăm sóc sức khỏe theo hướng bền vững, đồng thời mở rộng hợp tác về chuyển đổi số y tế, AI và dược phẩm. Đây là dấu hiệu cho thấy du lịch y tế đang được nhìn nhận như một lĩnh vực hợp tác chiến lược, không chỉ về kinh tế mà còn về khoa học, công nghệ và ngoại giao.

Trước đó, tại cuộc làm việc với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam (tháng 4/2026), ông James Peranteau, đại diện Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, cho biết hình ảnh Việt Nam, đặc biệt với du khách Mỹ gia tăng tích cực trong những năm gần đây.

Ông James Peranteau trao đổi với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. Ảnh: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam.

Ông James Peranteau trao đổi với Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. Ảnh: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam.

Bên cạnh lợi thế về an toàn, văn hóa và cảnh quan, Việt Nam đang nổi lên với những thế mạnh về du lịch y tế, trở thành một trong những yếu tố thu hút sự quan tâm của thị trường Hoa Kỳ. Ông cũng đánh giá Việt Nam là điểm đến an toàn, thân thiện và có nhiều tiềm năng phát triển du lịch chất lượng cao.

Theo các chuyên gia, để phát triển du lịch y tế, nỗ lực riêng lẻ của từng bệnh viện là chưa đủ. Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa y tế, du lịch, ngoại giao và truyền thông trong xây dựng thương hiệu quốc gia, chuẩn hóa chất lượng và phát triển nhân lực đạt chuẩn quốc tế. Chỉ khi người Việt tin tưởng điều trị trong nước và người nước ngoài chủ động tìm đến Việt Nam thì du lịch y tế mới thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.

Loạt bài

DU LỊCH Y TẾ:
"CUỘC ĐUA MỚI" TOÀN CẦU VÀ CƠ HỘI CỦA VIỆT NAM