QUY HOẠCH LẠI CÁC TUYẾN METRO ĐỂ KẾT NỐI VÙNG
Hàng ngày, dòng người từ Bình Dương, Đồng Nai đổ về trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh vẫn ken đặc trên các trục giao thông cửa ngõ. Hàng nghìn ô tô, xe máy nối dài trên Xa lộ Hà Nội, Quốc lộ 22, Quốc lộ 13, Quốc lộ 1, cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh-Long Thành-Dầu Giây vào giờ cao điểm. Những đoàn container từ cảng Cát Lái, Phú Hữu ùn ùn di chuyển giữa mạng lưới giao thông đang chịu áp lực quá tải.
Áp lực giao thông quá tải tại các trục cửa ngõ Thành phố Hồ Chí Minh, đòi hỏi sự đột phá từ các phương thức vận tải hành khách khối lượng lớn.
Áp lực giao thông quá tải tại các trục cửa ngõ Thành phố Hồ Chí Minh, đòi hỏi sự đột phá từ các phương thức vận tải hành khách khối lượng lớn.
Hình ảnh này không còn là câu chuyện của riêng Thành phố Hồ Chí Minh. Đó là bức tranh chung của Đồng Nai, Tây Ninh và các địa phương trong vùng, nơi mỗi ngày có hàng triệu lượt phương tiện di chuyển, nơi lao động, hàng hóa, dịch vụ và dòng vốn đầu tư đang đòi hỏi một hệ thống giao thông hiện đại hơn, mang tính chiến lược.
Trong bối cảnh ấy, Thành phố lên kế hoạch đầu tư phát triển thêm các tuyến metro kết nối trung tâm với những cửa ngõ huyết mạch, kéo dài đến Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, bên cạnh tuyến metro số 1 Bến Thành-Suối Tiên đã đi vào vận hành ở cửa ngõ phía Đông.
255KM ĐƯỜNG SẮT ĐÔ THỊ
ĐẾN NĂM 2030
-
Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu xây dựng khoảng 255km đường sắt đô thị.
-
Dự kiến đầu tư thêm 7 tuyến hoặc đoạn tuyến, tổng chiều dài khoảng 277km, nâng tổng chiều dài mạng lưới lên khoảng 532km.
-
và tầm nhìn dài hạn
Đề xuất phát triển khoảng 1.540km đường sắt đô thị, gồm 1.100km metro và 440km đường sắt nhẹ LRT.
Phương án tuyến metro Bến Thành-Thủ Thiêm.
Phương án tuyến metro Bến Thành-Thủ Thiêm.
Đoàn tàu của tuyến metro số 1 đang được bảo dưỡng tại Depot Long Bình.
Đoàn tàu của tuyến metro số 1 đang được bảo dưỡng tại Depot Long Bình.
Depot Long Bình là trung tâm điều khiển, bảo dưỡng và tập kết các đoàn tàu của Tuyến Metro số 1.
Depot Long Bình là trung tâm điều khiển, bảo dưỡng và tập kết các đoàn tàu của Tuyến Metro số 1.
Theo Ban Quản lý Đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, một số dự án được ưu tiên đầu tư thực hiện trong năm 2026, phấn đấu hoàn thành vào năm 2030, kỳ vọng mở ra bước chuyển lớn trong giao thông công cộng.
Phương án quy hoạch kết nối liên vùng giữa Tuyến metro số 2 và trục đường sắt Thủ Thiêm-Long Thành, định hình mô hình giao thông đa cực. (Nguồn: HCMC Metro)
Phương án quy hoạch kết nối liên vùng giữa Tuyến metro số 2 và trục đường sắt Thủ Thiêm-Long Thành, định hình mô hình giao thông đa cực. (Nguồn: HCMC Metro)
Trong đó, tuyến metro Thủ Thiêm-Long Thành, tuyến metro số 1 đoạn Thành phố mới Bình Dương-Suối Tiên, tuyến metro số 2 đoạn Thành phố Thủ Dầu Một-Thành phố Hồ Chí Minh, tuyến số 3 kết nối Vũng Tàu-Bà Rịa-Phú Mỹ và tuyến metro số 6 giai đoạn 1 từ Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đến Phú Hữu là những tuyến được tính toán trong mạng lưới kết nối mới.
Trước đó, Thành phố cũng đã khởi công tuyến metro Bến Thành-Thủ Thiêm. Tuyến Thủ Thiêm-Long Thành dự kiến khởi công trong năm 2026, trong khi tuyến metro số 6 giai đoạn 1 Tân Sơn Nhất-Phú Hữu được lên kế hoạch triển khai vào tháng 12 năm nay.
Lễ khởi công dự án tuyến đường sắt đô thị số 2 Thành phố Hồ Chí Minh (đoạn Bến Thành-Thủ Thiêm).
Lễ khởi công dự án tuyến đường sắt đô thị số 2 Thành phố Hồ Chí Minh (đoạn Bến Thành-Thủ Thiêm).
Đặc biệt, mới đây các bộ, ngành Trung ương đã thống nhất chủ trương đầu tư kéo dài tuyến metro Bến Thành-Suối Tiên đến Trung tâm hành chính Thành phố Đồng Nai và Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Đây là tuyến đường sắt đô thị đa cực, liên vùng, khi hình thành sẽ góp phần tăng cường kết nối giao thông giữa Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và sân bay Long Thành, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội và kết nối giao thông khối lượng lớn giữa sân bay với các khu vực lân cận.
NHỮNG TUYẾN METRO
KẾT NỐI VÙNG
-
Thủ Thiêm-Long Thành
6,2 km -
Metro số 1 đoạn
Thành phố mới Bình Dương-Suối Tiên
33 km -
Metro số 2 đoạn
Thành phố Thủ Dầu Một-Thành phố Hồ Chí Minh
35 km -
Metro số 3 đoạn
Vũng Tàu-Bà Rịa-Phú Mỹ
khoảng 56 km -
Metro số 6 giai đoạn 1, đoạn
Tân Sơn Nhất-Phú Hữu
33 km -
Bến Thành-Suối Tiên kéo dài đến Trung tâm hành chính Thành phố Đồng Nai và Cảng hàng không quốc tế Long Thành
44,5 km
Vùng Đông Nam Bộ đóng góp khoảng một phần ba GDP cả nước, là nơi tập trung hệ thống cảng biển lớn, Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các trung tâm công nghiệp, công nghệ cao và logistics. Do đó, các tuyến metro đang được quy hoạch lại theo hướng đồng bộ, chiến lược hơn.
Nhà ga hành khách sân bay Long Thành được thiết kế theo hình ảnh hoa sen, đang bước vào giai đoạn hoàn thành.
Nhà ga hành khách sân bay Long Thành được thiết kế theo hình ảnh hoa sen, đang bước vào giai đoạn hoàn thành.
Điểm khác biệt của giai đoạn phát triển hiện nay là metro không còn được quy hoạch trong phạm vi một đô thị mà đang trở thành hạt nhân của mạng lưới giao thông vùng Đông Nam Bộ.
Thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập đã hình thành không gian đô thị liên kết chặt chẽ, nhu cầu đi lại liên vùng ngày càng tăng, đòi hỏi hệ thống giao thông công cộng, đặc biệt là đường sắt đô thị, phải được tổ chức đồng bộ và liên thông theo quy mô vùng. Thời gian qua, Ban Quản lý Đường sắt đô thị đã chủ động phối hợp với các sở, ngành và đơn vị liên quan để rà soát phương án tuyến, quy mô đầu tư, vị trí công trình trên tuyến; đồng thời chuẩn bị hồ sơ lựa chọn nhà thầu tư vấn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế FEED và tư vấn thẩm tra theo quy định.
Ông PHAN CÔNG BẰNG
Trưởng Ban Quản lý Đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Khi các tuyến metro kết nối với những đầu mối giao thông chiến lược như Thủ Đức, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và các đô thị vệ tinh, dòng chảy lao động, hàng hóa, dịch vụ và đầu tư sẽ được rút ngắn về thời gian, giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh của toàn vùng.
Ga Rạch Chiếc thuộc tuyến đường sắt đô thị số 1, nằm bên cạnh trục đường Võ Nguyên Giáp (Xa lộ Hà Nội trước đây).
Ga Rạch Chiếc thuộc tuyến đường sắt đô thị số 1, nằm bên cạnh trục đường Võ Nguyên Giáp (Xa lộ Hà Nội trước đây).
Theo các chuyên gia quy hoạch, việc Thành phố Hồ Chí Minh đồng loạt triển khai các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm, nhất là các tuyến metro “xương sống”, cho thấy một bước đi mang tính nền tảng, giúp thúc đẩy phát triển liên vùng một cách bài bản, đồng bộ so với tình trạng manh mún, rời rạc trước đây.
Chẳng hạn, ở khía cạnh thu hút đầu tư và việc làm, dọc tuyến metro Thủ Thiêm-Long Thành tồn tại nhiều động lực phát triển kinh tế quan trọng. Khu vực Thủ Đức là một trong những trung tâm phát triển kinh tế-dịch vụ mới của Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều khu công nghệ cao, trung tâm thương mại và các khu đô thị hiện đại.
Phường Nhơn Trạch hiện là trung tâm công nghiệp lớn của Thành phố Đồng Nai.
Phường Nhơn Trạch hiện là trung tâm công nghiệp lớn của Thành phố Đồng Nai.
Tại Nhơn Trạch là khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp lớn, thu hút lượng lao động đáng kể từ các tỉnh lân cận. Sự phát triển của các khu công nghiệp này tạo ra nhu cầu lớn về di chuyển hàng ngày, qua đó làm tăng tiềm năng sử dụng hệ thống giao thông công cộng.
Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Long Thành được kỳ vọng sẽ trở thành một trung tâm logistics và dịch vụ hàng không quy mô lớn của khu vực, tạo ra số lượng lớn việc làm và hoạt động kinh tế, qua đó thúc đẩy nhu cầu phát triển đô thị và hệ thống metro kết nối.
Khi các dự án metro hoàn thành, mạng lưới giao thông sẽ được tổ chức theo hướng đa cực, đa trục, tạo điều kiện phân bổ lại không gian phát triển, giảm áp lực lên lõi trung tâm. Từ đó khơi thông dư địa và nâng cao năng lực phát triển cho Thành phố cũng như các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ.
Không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế bền vững, Thành phố cũng kỳ vọng đến năm 2035, phương tiện này đảm nhận 30-40% thị phần vận tải hành khách công cộng, tăng lên 40-50% vào 10 năm sau và xa hơn chính là thay đổi căn bản tư duy lưu thông đi lại của người dân Thành phố.
THAY ĐỔI PHƯƠNG THỨC ĐI LẠI
- Đến năm
đường sắt đô thị kỳ vọng đảm nhận 30-40% thị phần vận tải hành khách công cộng.
- Khoảng 10 năm sau
tỷ lệ này được kỳ vọng tăng lên 40-50%.
Định hướng dài hạn là đưa đường sắt đô thị trở thành “xương sống” của hệ thống vận tải công cộng khối lượng lớn, đồng thời thúc đẩy phát triển các đô thị theo mô hình TOD.
Cấu trúc không gian phát triển mới gắn liền với các nhà ga metro, bệ phóng hình thành các cực đô thị thông minh hiện đại.
Cấu trúc không gian phát triển mới gắn liền với các nhà ga metro, bệ phóng hình thành các cực đô thị thông minh hiện đại.
Cũng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh từ phát triển mạng lưới đường sắt đô thị mang tính dài hạn, đơn vị tư vấn đã rà soát và đề xuất Ban Chỉ đạo phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh phát triển lên khoảng 1.540km đường sắt đô thị vào năm 2050 và tầm nhìn 100 năm.
Trong đó có 1.100km là loại hình metro, khung xương sống của loại hình vận tải công cộng khối lượng lớn trong vùng Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng; 440km loại hình đường sắt nhẹ LRT.
Mạng lưới này đóng vai trò tăng cường kết nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh với các cực phát triển thuộc phía Nam Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Thành phố Đồng Nai và tỉnh Tây Ninh.
Tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Suối Tiên vận hành thử nghiệm đây là xương sống chuyển đổi phương thức lưu thông công cộng của Thành phố.
Tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Suối Tiên vận hành thử nghiệm đây là xương sống chuyển đổi phương thức lưu thông công cộng của Thành phố.
Ngoài đường sắt đô thị, mạng lưới còn có đường sắt cao tốc hoặc bán cao tốc trên các hành lang chiến lược: hành lang trục Đông-Tây kết nối Tây Ninh với Đồng Nai, hành lang Thành phố Hồ Chí Minh-Cần Giờ, hành lang Phú Mỹ Hưng-Vũng Tàu và tuyến đường sắt vùng kết nối sân bay Long Thành với mạng lưới đường sắt quốc gia.
Đường sắt đô thị vì thế trở thành “xương sống” của hệ thống giao thông hiện đại, tạo động lực phát triển các đô thị theo mô hình TOD. Lâu dài, đó còn là sự kết nối giữa cảng biển, sân bay, khu công nghiệp, trung tâm tài chính, đô thị sáng tạo và đô thị vệ tinh.
THAY ĐỔI TƯ DUY QUẢN LÝ, LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ,
CHỦ ĐỘNG NHÂN LỰC
Theo kế hoạch phát triển hệ thống đường sắt đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu xây dựng khoảng 255 km metro từ nay đến năm 2030. Sau đó đến năm 2035, đầu tư thêm 7 tuyến hoặc đoạn tuyến với tổng chiều dài khoảng 277km, qua đó nâng tổng chiều dài mạng lưới đường sắt đô thị dự kiến đạt khoảng 532km.
Lãnh đạo Ban Quản lý Đường sắt đô thị kiểm tra thực địa công trường, bám sát tiến độ thi công hạ tầng trọng điểm.
Lãnh đạo Ban Quản lý Đường sắt đô thị kiểm tra thực địa công trường, bám sát tiến độ thi công hạ tầng trọng điểm.
Đây được xem là khối lượng đầu tư chưa từng có trong lịch sử phát triển hạ tầng của hành phố. Mục tiêu cũng chưa từng có tiền lệ.
Nếu nhìn lại, tuyến metro số 1 Bến Thành-Suối Tiên dài gần 20km đã mất nhiều năm để hoàn thành, thì việc triển khai đồng thời hàng trăm km metro trong 10 năm tới đòi hỏi sự thay đổi căn bản về cơ chế, tổ chức thực hiện, huy động vốn và năng lực quản lý dự án.
Trong đó, Nghị quyết 188/2025/QH15 của Quốc hội đã tạo cơ chế đặc thù để đẩy nhanh phát triển đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Cơ chế này cho phép rút ngắn nhiều thủ tục đầu tư, chủ động hơn trong lựa chọn công nghệ, huy động nguồn lực và cách thức tổ chức thực hiện.
METRO VÀ BÀI TOÁN VỐN
- ngân sách Trung ương
- ngân sách địa phương
- trái phiếu
- PPP
- khai thác quỹ đất TOD
- và các công cụ tài chính đô thị
của Quốc hội tạo cơ chế đặc thù để đẩy nhanh phát triển đường sắt đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Đối với nguồn vốn, tổng nhu cầu đầu tư rất lớn nên ngân sách nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ. Thành phố Hồ Chí Minh vì vậy đang hướng tới đa dạng hóa nguồn lực, gồm ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, trái phiếu, PPP, khai thác quỹ đất TOD và các công cụ tài chính đô thị.
Về công nghệ, Thành phố cũng hướng tới tiêu chuẩn thống nhất giữa các tuyến để giảm chi phí vận hành, bảo trì và đào tạo.
Hệ thống Depot hiện đại cùng đội ngũ kỹ sư làm chủ công nghệ điều khiển tự động, chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhân lực kỹ thuật cao.
Hệ thống Depot hiện đại cùng đội ngũ kỹ sư làm chủ công nghệ điều khiển tự động, chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhân lực kỹ thuật cao.
Ban Quản lý Đường sắt đô thị Thành phố, thành viên Ban Chỉ đạo phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, trên cơ sở nhiệm vụ Ban Chỉ đạo giao, đơn vị đã tham khảo mô hình một số nước trên thế giới như Singapore, Đài Loan và tham vấn ý kiến các Bộ, ngành để nghiên cứu đề xuất xây dựng Đề án mua sắm tập trung hàng hóa công nghiệp đường sắt cho mạng lưới đường sắt đô thị Thành phố.
Mục tiêu là nâng cao tỷ lệ nội địa hóa khi đầu tư phát triển công nghiệp đường sắt.
LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ
ĐƯỜNG SẮT
phấn đấu nâng tỷ lệ nội địa hóa lên tối thiểu
- Tập trung mở rộng các hạng mục có thể sản xuất, lắp ráp trong nước.
- Tăng cường chuyển giao công nghệ, nhất là thiết kế kỹ thuật và năng lực đại tu.
- Hướng tới hình thành hệ sinh thái công nghiệp đường sắt, từng bước giảm sự phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài.
320HA CHO CÔNG NGHIỆP ĐƯỜNG SẮT
Khu công nghiệp đường sắt và cơ khí đa dụng dự kiến có quy mô khoảng 320ha tại khu vực Bình Dương cũ.
Định hướng sản xuất
Định hướng sản xuất các sản phẩm, thiết bị phục vụ ngành đường sắt như:
- Đầu máy
- Toa xe
- Máy đào hầm TBM
- Thiết bị lao dầm
- Cấu kiện vỏ hầm
- Tà vẹt
- Các thiết bị chuyên dùng khác
Mục tiêu
Tiếp nhận công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất trong nước và từng bước nội địa hóa sản phẩm, thiết bị.
Bên cạnh đó, vấn đề quan trọng không kém là nhân lực. Một mạng lưới metro quy mô lớn sẽ cần đội ngũ kỹ sư, chuyên gia vận hành, bảo trì, điều độ, tín hiệu, an toàn và quản lý tài sản. Nếu không chuẩn bị từ bây giờ, hạ tầng có thể hoàn thành nhưng nguồn nhân lực sẽ trở thành “điểm nghẽn”.
Theo Đề án đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ phát triển hệ thống mạng lưới đường sắt đô thị được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thông qua, từ nay đến năm 2030, Thành phố cần khoảng 70.000 người phục vụ quá trình đầu tư phát triển hệ thống metro.
Trong đó, nhân lực cho khối vận hành, khai thác, công nhân kỹ thuật cần số lượng rất lớn, khoảng 30.000 người; nhân lực xây dựng khoảng 12.000 người.
70.000 NHÂN LỰC CHO CUỘC ĐUA METRO
: Thành phố Hồ Chí Minh cần khoảng 70.000 người phục vụ quá trình đầu tư phát triển hệ thống metro.
- 30.000 người
Khoảng 30.000 người: vận hành, khai thác và công nhân kỹ thuật.
- 12.000 người
Khoảng 12.000 người: nhân lực xây dựng.
Nhu cầu còn lại thuộc các nhóm thiết kế, quản lý dự án, tín hiệu, điều khiển, an toàn, bảo trì và quản lý tài sản đường sắt.
Nhu cầu này không dừng lại ở đường sắt quốc gia mà còn mở rộng mạnh mẽ sang đường sắt đô thị tại các Thành phố lớn. Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh tính toán cần từ 30.000 đến 40.000 nhân sự ngành đường sắt đô thị, trong đó phân khúc kỹ sư công nghệ cao, vận hành hệ thống giao thông thông minh chiếm tới 20%.
NHU CẦU NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ CAO
-
260.000-330.000 người
Nhu cầu nhân lực cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam.
-
14.000 người
Nhân sự quản lý, khai thác khi tuyến đi vào vận hành thương mại.
-
2.400 kỹ sư
Nhóm nhân lực chuyên sâu về công nghệ, điều khiển tự động và giao thông thông minh.
-
30.000-40.000 người
Nhu cầu nhân lực ngành đường sắt đô thị Thành phố Hồ Chí Minh.
-
20% tỷ lệ
Tỷ lệ nhân lực kỹ sư công nghệ cao, vận hành hệ thống giao thông thông minh trong nhu cầu nhân lực đường sắt đô thị được tính toán.
Nếu được triển khai đồng bộ, mạng lưới metro không chỉ thay đổi cách người dân di chuyển, mà còn định hình một cấu trúc đô thị mới. Khi những tuyến đường sắt đô thị kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu và Tây Ninh, giao thông không còn chỉ đóng vai trò giải quyết bài toán đi lại. Metro sẽ trở thành hạ tầng kết nối các cực tăng trưởng, đưa lao động đến nơi có việc làm, hàng hóa đến các trung tâm sản xuất và logistics, đồng thời mở rộng không gian phát triển đô thị ra ngoài lõi trung tâm.
Từ đó, mô hình phát triển đa cực, đa trục có thêm nền tảng để hình thành. Các khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, trung tâm tài chính, đô thị sáng tạo và đô thị vệ tinh được kết nối trong một cấu trúc giao thông thống nhất hơn. Mạng lưới metro không chỉ thay đổi cách người dân di chuyển, mà còn định hình một cấu trúc đô thị mới, nơi giao thông công cộng trở thành động lực phát triển bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh và toàn vùng Đông Nam Bộ trong nhiều thập niên tới.
Lực lượng công nhân xây dựng lắp dựng cốt thép kết cấu chuyên dùng, hiện thực hóa cuộc đua hạ tầng metro giai đoạn mới.
Lực lượng công nhân xây dựng lắp dựng cốt thép kết cấu chuyên dùng, hiện thực hóa cuộc đua hạ tầng metro giai đoạn mới.
Vật tư thiết bị công nghiệp đường sắt chuẩn bị đồng bộ, hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 35%.
Vật tư thiết bị công nghiệp đường sắt chuẩn bị đồng bộ, hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu 35%.
Phương tiện cơ giới chuyên dụng công nghệ cao vận hành trên công trường, giải pháp đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng đường sắt đô thị liên vùng.
Phương tiện cơ giới chuyên dụng công nghệ cao vận hành trên công trường, giải pháp đẩy nhanh tiến độ thi công hạ tầng đường sắt đô thị liên vùng.
Đại công trường xây dựng nhà ga metro số 2 được triển khai đồng bộ bên cạnh các trục giao thông cửa ngõ, hướng tới mục tiêu hình thành mạng lưới đa phương thức.
Đại công trường xây dựng nhà ga metro số 2 được triển khai đồng bộ bên cạnh các trục giao thông cửa ngõ, hướng tới mục tiêu hình thành mạng lưới đa phương thức.
Các đoàn tàu đường sắt đô thị được tập kết và bảo dưỡng định kỳ tại khu vực Depot hiện đại, bảo đảm an toàn kỹ thuật tuyệt đối trước khi vận hành.
Các đoàn tàu đường sắt đô thị được tập kết và bảo dưỡng định kỳ tại khu vực Depot hiện đại, bảo đảm an toàn kỹ thuật tuyệt đối trước khi vận hành.
Đông đảo người dân tham gia trải nghiệm phương tiện vận tải công cộng khối lượng lớn, từng bước thay đổi tư duy lưu thông và thói quen đi lại.
Đông đảo người dân tham gia trải nghiệm phương tiện vận tải công cộng khối lượng lớn, từng bước thay đổi tư duy lưu thông và thói quen đi lại.
Tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Suối Tiên tăng tốc vận hành, hạt nhân cốt lõi khơi thông không gian phát triển bền vững cho toàn vùng Đông Nam Bộ.
Tuyến đường sắt đô thị Bến Thành-Suối Tiên tăng tốc vận hành, hạt nhân cốt lõi khơi thông không gian phát triển bền vững cho toàn vùng Đông Nam Bộ.
Chỉ đạo sản xuất: Lê Nam Tư
Tổ chức sản xuất: Tùng Quang
Nội dung: Quý Hiền, Thảo Du
Ảnh: Tùng Anh, Thế Anh
Trình bày: Tùng Anh
(Bài có sử dụng sự hỗ trợ của AI trong thiết kế)
