Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; đồng thời khuyến khích phát triển thêm các thành phố trực thuộc Trung ương, hình thành những cực tăng trưởng mới có khả năng kết nối, dẫn dắt và lan tỏa sự phát triển của các vùng. Mạng lưới cực tăng trưởng quốc gia đang đứng trước bước chuyển quan trọng. Yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng quy mô đô thị, mà còn nâng cao chất lượng tăng trưởng và xác lập vai trò của từng trung tâm trong không gian phát triển quốc gia.

Tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành phố Sài Gòn-Gia Định mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Thành phố phải tiếp tục đi trước, mở đường, thử nghiệm, đột phá và lan tỏa”. Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt ra yêu cầu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị chiến lược, đa trung tâm, đa cực, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế.

Chỉ ít ngày sau, tại cuộc làm việc với Thành ủy Hà Nội ngày 8/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Thủ đô tăng cường liên kết vùng, chủ động phối hợp với các bộ, ngành và địa phương, không để tình trạng phát triển riêng lẻ làm giảm hiệu quả đầu tư và sức lan tỏa của Thủ đô.

Mới đây nhất, tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy tự chủ, nâng cao năng lực thực thi, giải quyết công việc đến kết quả cuối cùng. Đáng chú ý, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Thành phố tổ chức lại không gian phát triển, mạnh dạn loại bỏ những cấu phần không còn phù hợp, trùng lặp sau hợp nhất; đồng thời khai thác hiệu quả thẩm quyền được trao để giảm thủ tục, giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp.

Xuyên suốt những chỉ đạo ấy là yêu cầu phát huy vai trò của các đô thị đầu tàu trong giai đoạn phát triển mới. Một đô thị lớn không thể chỉ được đánh giá bằng quy mô dân số, giá trị sản xuất hay tốc độ mở rộng không gian xây dựng. Quan trọng hơn, đô thị ấy phải có khả năng hội tụ nguồn lực, tổ chức các trung tâm kinh tế có giá trị cao, nâng cao chất lượng quản trị và tạo sức lan tỏa đối với những địa phương chung quanh.

01.

Hai cực tăng trưởng lớn nhất và sứ mệnh dẫn dắt

Trong không gian phát triển mới, vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là hai cực tăng trưởng lớn nhất cả nước. Tuy nhiên, vai trò dẫn dắt không chỉ được thể hiện qua quy mô kinh tế hay tốc độ tăng trưởng của đô thị trung tâm, mà còn ở khả năng kết nối nguồn lực, phân công chức năng và mở rộng cơ hội phát triển cho các địa phương lân cận.

Theo định hướng được thành phố Hà Nội xác định, quá trình chuyển đổi này sẽ từng bước hình thành những cực phát triển có chức năng chuyên biệt. Phía tây, khu vực Hòa Lạc-Xuân Mai được định hướng trở thành đô thị khoa học, công nghệ và đào tạo, gắn với việc di dời các trường đại học. Phía bắc, Mê Linh-Sóc Sơn-Đông Anh phát triển đô thị sân bay Nội Bài, dịch vụ logistics quốc tế và thương mại hàng không. Trong khi đó, phía nam được định hướng phát triển Khu đô thị thể thao Olympic quy mô khoảng 9.171 ha, gắn với đầu mối giao thông Ngọc Hồi và định hướng Cảng hàng không quốc tế thứ hai Vùng Thủ đô.

Điểm đáng chú ý là mỗi cực phát triển không chỉ được xác định theo vị trí địa lý, mà còn gắn với những chức năng kinh tế cụ thể. Khi các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, sản xuất công nghệ cao được kết nối tại Hòa Lạc-Xuân Mai, hay các hoạt động vận tải, logistics, dịch vụ hàng không cùng phát triển tại khu vực phía bắc, Hà Nội có điều kiện hình thành những không gian kinh tế mới, thay vì tiếp tục dồn các hoạt động vào khu vực trung tâm.

Hồ Hoàng Cầu.

Hồ Hoàng Cầu.

Trong cấu trúc ấy, các trung tâm mới không đơn thuần làm nhiệm vụ giãn dân. Mỗi khu vực phải có khả năng tạo việc làm, cung cấp dịch vụ và hình thành những hoạt động kinh tế có sức hấp dẫn riêng. Việc tổ chức lại không gian đô thị cũng là cơ hội để Hà Nội từng bước giải quyết tình trạng quá tải hạ tầng, ùn tắc giao thông, ô nhiễm môi trường và sự mất cân đối giữa nơi ở với nơi làm việc.

Để kết nối các cực phát triển, Hà Nội xác định đường sắt đô thị là xương sống của hệ thống giao thông công cộng, đồng thời phát triển đô thị nén gắn với các nhà ga. Việc khai thác không gian ngầm cho giao thông, bãi đỗ xe và hạ tầng kỹ thuật cũng được đặt trong yêu cầu dành thêm diện tích mặt đất cho cây xanh, không gian công cộng và bảo tồn di sản. Đặc biệt, sông Hồng được định hướng trở thành trục cảnh quan, sinh thái, văn hóa và du lịch trung tâm, góp phần tổ chức lại không gian phát triển của Thủ đô.

Một bước đi cụ thể là việc ký hợp đồng theo hình thức chìa khóa trao tay ngày 15/10/2026 để triển khai đồng thời 5 tuyến đường sắt đô thị số 1, 2, 8, 10 và 14, với tổng chiều dài khoảng 253,5 km, phấn đấu đưa vào vận hành đồng bộ trước ngày 31/12/2030. Cùng với đó, Hà Nội định hướng hoàn thiện các tuyến vành đai, phát triển những cây cầu vượt sông Hồng như Tứ Liên, Trần Hưng Đạo, Thượng Cát, Ngọc Hồi, Vân Phúc, Hồng Hà, Mễ Sở để mở rộng không gian đô thị về phía đông và phía bắc. Đây là những hạ tầng có ý nghĩa quan trọng trong việc kết nối các trung tâm mới với khu vực đô thị hiện hữu và các địa phương chung quanh.

5 TUYẾN METRO TRÊN BẢN ĐỒ HÀ NỘI

Chọn tuyến để xem lộ trình • Chấm sáng chuyển động mô phỏng

HÀ NỘI 1 2 8 10 14 Sân bay Nội Bài Đông Anh Cầu Thăng Long Hòa Lạc Dương Xá Gia Lâm Thường Tín Dân Hòa
Đang hiển thị cả 5 tuyến. Nhấn nút tuyến hoặc trực tiếp lên đường màu để làm nổi bật.

Sơ đồ minh họa, không phải dữ liệu đo đạc hoặc vị trí tàu thời gian thực.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, đồng chí Vũ Đại Thắng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cho biết, Nghị quyết số 27-NQ/TW vừa đặt ra trách nhiệm của Thủ đô đối với sự phát triển chung của vùng và cả nước, vừa mở ra cơ hội đổi mới mô hình phát triển, khai thác hiệu quả các nguồn lực và hình thành những động lực tăng trưởng mới.

Trên cơ sở 3 trụ cột gồm Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 17/3/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố xác định tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nguồn lực văn hóa và nhân lực chất lượng cao là những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới. Theo đó, yêu cầu không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà còn phải nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị nguồn lực.

Với vị thế trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, cùng lợi thế về giáo dục, khoa học, công nghệ, văn hóa và dịch vụ chất lượng cao, Hà Nội có điều kiện đảm nhận vai trò trung tâm tri thức, sáng tạo và cung cấp các dịch vụ hiện đại cho vùng phía bắc.

Những chuyển động của kinh tế số đang tạo thêm cơ sở cho định hướng này. Theo số liệu thống kê 6 tháng đầu năm 2026 được thành phố cung cấp, kinh tế số chiếm 17,34% tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội, với tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung. Hà Nội cũng tiếp tục dẫn đầu cả nước về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026.

Các hạ tầng nghiên cứu và công nghệ như Khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển của Samsung, cùng hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ lớn đang góp phần tạo nền tảng cho các ngành kinh tế có hàm lượng tri thức cao.

Đáng chú ý, Hà Nội không chỉ tập trung phát triển các doanh nghiệp công nghệ lớn mà còn hướng tới đưa chuyển đổi số vào hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và làng nghề. Theo Quyết định số 3806/QĐ-UBND ngày 28/7/2026, Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 xác định doanh nghiệp là trung tâm, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo phát triển. Thành phố cũng đã ban hành chính sách hỗ trợ chi phí sử dụng sản phẩm, dịch vụ chuyển đổi số thông qua phiếu hỗ trợ chuyển đổi số và thương mại điện tử. Những chính sách này mở ra cơ hội để lợi ích của công nghệ lan tỏa rộng hơn trong nền kinh tế, thay vì chỉ tập trung ở một số doanh nghiệp lớn.

Tuy nhiên, phát huy vai trò cực tăng trưởng đòi hỏi Thủ đô phải vượt ra ngoài tư duy phát triển trong phạm vi địa giới hành chính. Đây cũng là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Thành ủy Hà Nội ngày 8/7/2026, trong đó nhấn mạnh yêu cầu tăng cường liên kết vùng, khắc phục tình trạng phát triển riêng lẻ làm giảm hiệu quả đầu tư và sức lan tỏa của Thủ đô.

Theo định hướng của Hà Nội, các hành lang kinh tế sẽ là không gian kết nối các trung tâm nghiên cứu, sản xuất, thương mại và dịch vụ trong toàn vùng. Hành lang Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh được định hướng phát triển công nghệ cao, logistics đa phương thức và dịch vụ cảng biển. Vành đai công nghiệp bán dẫn, điện tử phía bắc và phía đông kết nối Hà Nội với Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hưng Yên. Cùng với đó, tam giác phát triển Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh và tứ giác tăng trưởng Thanh Hóa-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh tiếp tục được củng cố.

Infographic Kinh tế số và Đổi mới sáng tạo Hà Nội 2026
Tăng trưởng vượt trội

Tỷ trọng kinh tế số

Đóng góp vào tổng sản phẩm trên địa bàn Hà Nội (6 tháng đầu năm 2026)

0,00%

GRDP Thành Phố

Tốc độ tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng chung
Vị thế dẫn đầu

Đổi mới sáng tạo cấp địa phương

Xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn quốc năm 2026

#0

Dẫn đầu cả nước

Tiếp tục dẫn đầu toàn quốc về Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương năm 2026

Trong mạng lưới ấy, Hà Nội tập trung vào nghiên cứu, phát triển công nghệ cao, tài chính, logistics thông minh và dịch vụ chất lượng cao; các địa phương phụ cận phát huy thế mạnh công nghiệp hỗ trợ, sản xuất, logistics và đô thị vệ tinh. Sự phân công này tạo điều kiện để các địa phương không phải cùng đầu tư vào những lĩnh vực giống nhau, mà có thể bổ sung năng lực cho nhau trong một chuỗi giá trị chung.

Khi các trung tâm công nghiệp tại Bắc Ninh, Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Phòng ngày càng phát triển, những hoạt động nghiên cứu, thiết kế, đào tạo, chuyển giao công nghệ và dịch vụ chuyên môn của Hà Nội có thể tạo thêm giá trị cho các địa phương chung quanh.

Chẳng hạn, nhu cầu về công nghệ bán dẫn, điện tử, cơ khí chính xác và quản trị sản xuất tại các trung tâm công nghiệp trong vùng có thể trở thành những bài toán đặt hàng cho các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ của Hà Nội. Thay vì nghiên cứu rồi mới tìm nơi ứng dụng, các cơ sở nghiên cứu có thể bắt đầu từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, cùng thử nghiệm, hoàn thiện và đưa sản phẩm ra thị trường. Đây cũng là hướng mà Hà Nội đang thúc đẩy thông qua cơ chế đặt hàng nghiên cứu, phát triển các tổ chức chuyển giao công nghệ và Sàn Giao dịch công nghệ Hà Nội.

Thành phố còn định hướng phối hợp với các địa phương xây dựng mạng lưới chuyên gia theo lĩnh vực, tổ chức đào tạo và đào tạo lại nhân lực theo nhu cầu, nhất là các kỹ năng số, quản trị sản xuất, logistics và chuyển đổi xanh.

Thành phố còn định hướng phối hợp với các địa phương xây dựng mạng lưới chuyên gia theo lĩnh vực, tổ chức đào tạo và đào tạo lại nhân lực theo nhu cầu, nhất là các kỹ năng số, quản trị sản xuất, logistics và chuyển đổi xanh. Hiệu quả hợp tác được xác định không chỉ bằng số chương trình ký kết mà phải thể hiện ở công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp được hỗ trợ, sản phẩm thương mại hóa và giá trị kinh tế thực tế tạo ra.

Ngược lại, sự phát triển của những trung tâm sản xuất trong vùng cũng mở rộng thị trường, tạo nhu cầu mới đối với các hoạt động dịch vụ và đổi mới sáng tạo của Thủ đô.

Mối quan hệ bổ trợ ấy cho thấy vai trò cực tăng trưởng lớn nhất phía bắc của Hà Nội không chỉ thể hiện ở quy mô kinh tế, mà còn ở khả năng kết nối, dẫn dắt và mở rộng cơ hội phát triển cho cả vùng.

Để sự kết nối đó thực sự phát huy hiệu quả, Hà Nội cũng đặt vấn đề liên thông dữ liệu về quy hoạch, đầu tư, giao thông, môi trường và thị trường lao động với các địa phương. Khi thông tin về nhu cầu nhân lực, năng lực sản xuất, hạ tầng và dòng hàng hóa được chia sẻ, các quyết định đầu tư có thêm cơ sở để tránh trùng lặp, đồng thời tạo thuận lợi cho việc hình thành những chuỗi liên kết có quy mô lớn hơn.

Ở phía nam, Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước cơ hội tái cấu trúc không gian phát triển với quy mô đặc biệt lớn sau khi hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu.

Theo ông Nguyễn Hữu Yên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, nếu trước đây, các hoạt động tài chính, thương mại, công nghiệp, nghiên cứu và dịch vụ cảng biển được tổ chức trên những địa bàn hành chính khác nhau, thì nay những chức năng ấy có điều kiện được kết nối trong một cấu trúc đô thị thống nhất.

Theo định hướng tổ chức không gian phát triển của thành phố, khu vực lõi đô thị sẽ ưu tiên tài chính, thương mại, dịch vụ, giáo dục-đào tạo chất lượng cao, văn hóa và kinh tế tri thức. Phía đông giữ vai trò hạt nhân về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Phía bắc tập trung phát triển công nghiệp sinh thái, công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn, chip, vi mạch, AI và tự động hóa, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, trung tâm phân phối và kho hàng thông minh kết nối logistics. Phía nam và đông nam tạo đột phá với kinh tế biển, cảng biển, dịch vụ logistics, thương mại biển, thương mại tự do, du lịch và các không gian thương mại đặc thù. Các phân vùng chức năng này không phát triển tách rời mà đan xen, tương hỗ chặt chẽ nhằm tạo động lực tăng trưởng cộng hưởng cho toàn vùng.

Cách phân bố này cho thấy một hướng tổ chức không gian kinh tế theo chuỗi: từ nghiên cứu, phát triển sản phẩm, sản xuất công nghiệp đến vận chuyển, phân phối và xuất khẩu. Nếu được kết nối đồng bộ, các trung tâm công nghiệp có thể tiếp cận thuận lợi hơn với dịch vụ tài chính, công nghệ, logistics và thị trường quốc tế ngay trong không gian đô thị mở rộng.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những khu vực ấy không chỉ cùng nằm trong một đơn vị hành chính, mà thực sự trở thành các trung tâm có sự phân công chức năng, bổ trợ cho nhau và tạo ra giá trị gia tăng từ quá trình hợp nhất.

Theo Thạc sĩ, Kiến trúc sư Sầm Minh Tuấn, Giám đốc Viện Nghiên cứu Thiết kế Đô thị thuộc Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh cần được nhìn nhận đồng thời ở ba cấp độ: đầu tàu tăng trưởng quốc gia; hạt nhân liên kết không gian kinh tế phía nam; cửa ngõ kết nối nền kinh tế Việt Nam với các thị trường, dòng vốn, công nghệ và mạng lưới sản xuất quốc tế.

Từ góc độ quy hoạch, ông Sầm Minh Tuấn cho rằng, thành phố cần phát triển theo mô hình siêu đô thị đa cực, đa tâm, đa tầng, trong đó các trung tâm sản xuất, tài chính, nghiên cứu và dịch vụ có sự phân công rõ ràng, tránh phát triển phân tán, trùng lặp chức năng.

Một trong những yêu cầu quan trọng của mô hình này là tổ chức đồng bộ các lớp không gian đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và không gian xanh. Điều đó đòi hỏi việc phát triển công nghiệp, dịch vụ, nhà ở và giao thông phải được tính toán trong cùng một cấu trúc, phù hợp khả năng chịu tải của từng khu vực. Các trung tâm mới cần được kết nối bằng giao thông công cộng, hạ tầng số và những hành lang vận tải hàng hóa, thay vì tiếp tục mở rộng đô thị theo hướng phân tán.

Cùng quan điểm, Tiến sĩ Huỳnh Thế Du, chuyên gia kinh tế, giảng viên Chính sách công tại Đại học Fulbright Việt Nam, cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển từ tư duy phát triển một đô thị lớn sang tư duy tổ chức không gian kinh tế mở. Vai trò đầu tàu không thể chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng của thành phố, mà còn bằng khả năng tạo ra thị trường cho doanh nghiệp trong vùng, nâng cao năng suất, chất lượng việc làm và thu nhập của người dân.

Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển từ tư duy phát triển một đô thị lớn sang tư duy tổ chức không gian kinh tế mở.
Tiến sĩ Huỳnh Thế Du
Chuyên gia kinh tế, giảng viên Chính sách công tại Đại học Fulbright Việt Nam

Tư duy không gian kinh tế mở còn được thể hiện ở định hướng kết nối Thành phố Hồ Chí Minh với các địa phương thông qua những hành lang sản xuất, thương mại và logistics. Trong đó, hành lang Mộc Bài-Thành phố Hồ Chí Minh-Biên Hòa-Vũng Tàu được xác định là tuyến kết nối quan trọng giữa cửa khẩu, các trung tâm công nghiệp, thị trường tiêu dùng, sân bay và cảng biển. Thành phố đảm nhận vai trò trung tâm dịch vụ, tài chính, logistics, đổi mới sáng tạo và điều phối chuỗi giá trị, trong khi các địa phương phát huy thế mạnh sản xuất, công nghiệp và giao thương.

Ở quy mô rộng hơn, Thành phố Hồ Chí Minh hướng tới kết nối vùng nguyên liệu của Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ với các trung tâm chế biến, chợ đầu mối, hệ thống phân phối và cảng xuất khẩu. Khi đó, lợi thế thị trường và hệ thống dịch vụ của thành phố có thể tạo thêm đầu ra cho nông sản, hàng hóa của các địa phương; ngược lại, nguồn cung từ các vùng sản xuất giúp mở rộng hoạt động thương mại, chế biến và logistics của thành phố.

Từ định hướng tổ chức không gian kinh tế mở, Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước hình thành những trung tâm phát triển mới dựa trên khoa học, công nghệ và hạ tầng số. Một trong những hướng đi đáng chú ý là triển khai Đề án Đô thị Khoa học công nghệ – Bắc Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 315/QĐ-UBND ngày 14/1/2026, đồng thời kết nối với Trung tâm Đổi mới sáng tạo và hệ thống các khu công nghệ số tập trung.

Theo ông Hoàng Vũ Thảnh, Giám đốc Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh, định hướng tăng trưởng giai đoạn tới không phải là thay thế hoàn toàn các ngành truyền thống, mà là đổi mới ngay trong từng ngành, tăng ứng dụng công nghệ, tri thức và dữ liệu để tạo giá trị cao hơn. Thành phố Hồ Chí Minh đang đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP 10–11%/năm giai đoạn 2025–2030, kinh tế số chiếm từ 30%- 40% và đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng đạt khoảng 60%.

Thành phố xác định 4 nhóm động lực phát triển, trong đó nổi bật là khoa học, công nghệ và kinh tế số; các dịch vụ tài chính, logistics, thương mại chất lượng cao; công nghiệp công nghệ cao, chế biến, chế tạo tiên tiến; kinh tế biển, cảng biển và những mô hình đô thị mới. Điểm chung của các động lực này là hướng tới nâng năng suất, tăng giá trị gia tăng và tạo lợi ích cho cả vùng, thay vì chỉ mở rộng quy mô sản xuất bằng vốn, đất đai và lao động.

Cùng với đó, thành phố tập trung phát triển hạ tầng dữ liệu và siêu tính toán xanh. Tính đến ngày 28/7/2026, trên địa bàn có 15 trung tâm dữ liệu đã đi vào vận hành, quy mô chủ yếu từ 1 đến 20 MW, phần lớn đạt tiêu chuẩn Tier III hoặc tương đương. Các trung tâm này phục vụ nhu cầu điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và xử lý dữ liệu lớn.

Đáng chú ý, 13 dự án trung tâm dữ liệu khác đang triển khai thủ tục đầu tư, trong đó có các dự án quy mô lớn như Kinh Bắc – KBC – AIC và G42 – Microsoft – FPT, mỗi dự án khoảng 200 MW; Viettel IDC Tân Phú Trung khoảng 140 MW và CMC Hyperscale khoảng 30 MW.

Ông Hoàng Vũ Thảnh cho biết, việc phát triển những hạ tầng này không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu của thành phố, mà còn hướng tới hình thành năng lực cung cấp dịch vụ dữ liệu, công nghệ và tính toán cho doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu trong toàn vùng. Đây là một trong những cách Thành phố Hồ Chí Minh cụ thể hóa vai trò đầu tàu, tạo thêm điều kiện để các trung tâm công nghiệp, sản xuất và dịch vụ trong không gian kinh tế phía nam cùng phát triển.

Không chỉ đầu tư hạ tầng số, thành phố còn chú trọng kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ với nhu cầu thực tế của địa phương. Một thí dụ được ông Hoàng Vũ Thảnh, Giám đốc Sở Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ là trong giai đoạn 2023-2025, Cần Thơ đã phối hợp với 20 viện, trường tại Thành phố Hồ Chí Minh triển khai 20 nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Bên cạnh đó còn có các hoạt động kết nối việc làm và chuyển giao kỹ thuật y tế chuyên sâu.

Cùng với khoa học, công nghệ, dịch vụ và logistics đang trở thành những lĩnh vực có khả năng tạo sức lan tỏa lớn. Trong 9 tháng năm 2026, khu vực dịch vụ của thành phố tăng 9,27%, chiếm 51,8% tổng sản phẩm trên địa bàn và đóng góp 53,6% vào tăng trưởng chung. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt khoảng 1.486 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8%. Đáng chú ý, thành phố chiếm khoảng 27,8% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.

Quy mô thị trường này là một lợi thế quan trọng đối với các doanh nghiệp trong vùng. Thông qua hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử và dịch vụ logistics, sản phẩm từ các trung tâm công nghiệp, vùng nguyên liệu và cơ sở sản xuất có thể tiếp cận thị trường tiêu dùng lớn, đồng thời mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Thực tế, doanh thu thương mại điện tử của thành phố trong 9 tháng năm 2026 ước tăng 35,2%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Cùng thời gian, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt khoảng 481.083 tỷ đồng, tăng 24,9%. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, giá trị tăng thêm của ngành logistics chiếm 8-10% tổng sản phẩm trên địa bàn, với tốc độ tăng trưởng 13-16%/năm.

Những con số này cho thấy sự phát triển của thương mại số đang kéo theo nhu cầu lớn về vận chuyển, kho bãi, phân phối và quản lý chuỗi cung ứng. Khi các dịch vụ này được tổ chức hiệu quả, lợi ích không chỉ thuộc về doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở rộng đến các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp tại những địa phương có quan hệ giao thương với thành phố.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ trên cao.

Infographic Kinh tế TP. Hồ Chí Minh 2026
Giai đoạn 2025–2030

Tăng trưởng GRDP mục tiêu

Mục tiêu tăng trưởng bình quân hàng năm

0%

Mỗi năm

Định hướng phát triển kinh tế nhanh và bền vững
Kinh tế số TP.HCM

Tỷ trọng kinh tế số

Mức đóng góp trong cơ cấu GRDP thành phố

0%

Cơ cấu GRDP

Thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện các ngành
Năng suất tổng hợp

Đóng góp của TFP

Tỷ trọng đóng góp vào mức tăng trưởng chung

0%

Vào tăng trưởng

Nâng cao hàm lượng khoa học công nghệ
9 tháng đầu năm 2026

Khu vực dịch vụ

Tăng trưởng, chiếm tỷ trọng & đóng góp

0%
Tăng trưởng
0%
GRDP
0%
Đóng góp
Động lực chủ lực dẫn dắt nền kinh tế TP.HCM
Tổng mức bán lẻ

Bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng

Doanh thu đạt được và tốc độ tăng

0 nghìn tỷ
Tăng 0%
Sức mua thị trường duy trì đà tăng trưởng cao
Quy mô toàn quốc

Tỷ trọng so với cả nước

Đóng góp vào tổng mức bán lẻ toàn quốc

0%

Tổng mức cả nước

Tiếp tục là trung tâm thương mại lớn nhất cả nước

Một hướng phát triển khác là hình thành hệ thống logistics tích hợp gắn với các cảng biển quốc tế. Thành phố đã chấp thuận nhà đầu tư dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, với hoạt động khai thác cảng container và các dịch vụ liên quan. Cùng với cụm cảng Cát Lái-Hiệp Phước-Cái Mép-Cần Giờ, Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và Long Thành, các đầu mối này được định hướng kết nối với mạng lưới đường vành đai, cao tốc, đường sắt và các trung tâm logistics để nâng cao năng lực giao thương của toàn vùng.

Quy mô GRDP năm 2025 của Thành phố Hồ Chí Minh sau khi mở rộng không gian phát triển đạt khoảng 3 triệu tỷ đồng, tương đương 23,5% GDP cả nước. Quy mô kinh tế lớn tạo ra lợi thế đặc biệt, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả tổ chức và quản trị đô thị.

Đây là vấn đề được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt lưu ý tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị ngày 28/10/2026. Việc tổ chức lại không gian phát triển sau hợp nhất phải đi đôi với rà soát những cấu phần trùng lặp, nâng cao năng lực điều hành và giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn của người dân, doanh nghiệp.

Đối với một siêu đô thị, điều đó có nghĩa là các trung tâm sản xuất, dịch vụ, nơi ở và những thiết chế xã hội phải được phát triển trong một cấu trúc thống nhất. Không gian mới chỉ thực sự mang lại lợi thế khi người dân có điều kiện tiếp cận việc làm, trường học, bệnh viện và các dịch vụ thiết yếu; doanh nghiệp giảm được chi phí hoạt động và những chức năng kinh tế giữa các khu vực được kết nối hiệu quả.

Bởi vậy, Thành phố Hồ Chí Minh định hướng phát triển giao thông công cộng gắn với tổ chức lại không gian đô thị, đồng thời chú trọng nhà ở, hạ tầng xã hội, chỉnh trang các khu dân cư và nâng cao chất lượng môi trường sống. Các trung tâm công nghiệp, logistics và dịch vụ không thể phát triển tách rời những nhu cầu thiết yếu của người lao động. Một khu công nghiệp thu hút được doanh nghiệp nhưng thiếu nhà ở, trường học, cơ sở y tế và giao thông thuận tiện sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội.

Ở góc độ điều phối vùng, thành phố cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ phối hợp theo từng lĩnh vực sang tổ chức không gian phát triển chung và hình thành các chuỗi giá trị liên vùng. Mỗi chương trình, dự án cần xác định rõ đầu mối thực hiện, nguồn lực, trách nhiệm và cách thức chia sẻ lợi ích giữa các bên. Đây là điều kiện để vai trò đầu tàu được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể, thay vì chỉ dừng ở các thỏa thuận hợp tác.

Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - 2 cực tăng trưởng lớn nhất đất nước đang đứng trước yêu cầu vượt lên vai trò trung tâm kinh tế đơn thuần, trở thành những vùng đô thị có khả năng tổ chức nguồn lực, tạo lập giá trị mới và dẫn dắt sự phát triển của các địa phương chung quanh.

Từ hai đầu đất nước, dù có những lợi thế và mô hình phát triển khác nhau, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đang cùng hướng tới một yêu cầu: sức mạnh của cực tăng trưởng không chỉ nằm trong những chỉ số kinh tế của riêng mình, mà còn được thể hiện ở năng lực kết nối các trung tâm sản xuất, nghiên cứu, dịch vụ và thị trường thành những không gian phát triển rộng lớn hơn. Khi các nguồn lực được phân bổ hợp lý, các địa phương phát huy được lợi thế riêng và cùng tham gia những chuỗi giá trị chung, vai trò dẫn dắt của hai vùng đô thị lớn nhất mới thực sự tạo ra sức lan tỏa cho nền kinh tế quốc gia.

02.

Sức sống mới của những trung tâm động lực truyền thống

Bên cạnh 2 đô thị đầu tàu, mạng lưới đô thị quốc gia còn có những trung tâm động lực với chức năng và bản sắc phát triển riêng.

Ở phía bắc, Hải Phòng tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng trong vùng Đồng bằng sông Hồng. Sau khi mở rộng không gian hành chính, thành phố có điều kiện tổ chức lại các khu vực đô thị, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp công nghệ cao, biển và hải đảo theo mô hình đa cực, đa trung tâm.

Hải Phòng định hướng phát triển 5 không gian, 4 vùng kinh tế-xã hội và năm trục động lực. Trong đó, các đô thị hạt nhân giữ vai trò trung tâm dịch vụ, những khu vực công nghiệp, nông nghiệp và biển, đảo phát triển theo chức năng phù hợp.

Trung tâm hành chính Hải Phòng. (Ảnh: NGUYỄN ĐỨC NGHĨA)

Trung tâm hành chính Hải Phòng. (Ảnh: NGUYỄN ĐỨC NGHĨA)

Từ một đô thị cảng truyền thống, Hải Phòng đang hướng tới mô hình trung tâm đô thị đa chức năng, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời phát huy vai trò cửa ngõ giao thương và cung cấp dịch vụ cho cả vùng phía bắc.

Dọc miền trung, Đà Nẵng đang hình thành cấu trúc phát triển mới sau khi hợp nhất với Quảng Nam. Thành phố có diện tích khoảng 11.860 km², dân số hơn 3,06 triệu người, với không gian trải dài từ biển đến miền núi và biên giới.

Việc mở rộng địa giới tạo điều kiện tổ chức lại các trung tâm chức năng, trong đó khu vực phía bắc phát huy thế mạnh đô thị trung tâm, dịch vụ, du lịch và công nghệ; khu vực phía nam, với hạt nhân là Khu kinh tế mở Chu Lai, trở thành một cực phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị quan trọng.

Theo đồng chí Phan Thái Bình, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Chu Lai có nhiều dư địa thu hút các dự án quy mô lớn và nhà đầu tư chiến lược, góp phần tạo thêm động lực phát triển cho khu vực phía nam thành phố.

Đáng chú ý, cách tổ chức không gian mới của Đà Nẵng không chỉ nhằm mở rộng quy mô kinh tế, mà còn tạo sự cân bằng giữa các khu vực. Phía bắc đảm nhận những chức năng đô thị trung tâm; phía nam mở rộng các hoạt động sản xuất và dịch vụ; phía tây gắn với không gian sinh thái, văn hóa và kinh tế miền núi.

Chu Lai có nhiều dư địa thu hút các dự án quy mô lớn và nhà đầu tư chiến lược, góp phần tạo thêm động lực phát triển cho khu vực phía nam thành phố.
Đồng chí Phan Thái Bình
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng

Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 được phê duyệt ngày 21/10/2026 định hướng phát triển theo mô hình chuỗi đô thị đa cực, đa trung tâm. Đây là cơ sở để thành phố phát huy vai trò đô thị biển hiện đại và cực tăng trưởng của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Nếu Đà Nẵng hướng tới mô hình đô thị biển đa chức năng, Huế lựa chọn con đường phát triển dựa trên bản sắc đô thị di sản.

Bài toán của Huế là mở rộng không gian phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống, nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị văn hóa, cảnh quan và cấu trúc đô thị đã hình thành qua nhiều thế kỷ.

Theo đồng chí Lê Trí Thanh, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế, địa phương định hướng phát triển đô thị trên cơ sở tôn trọng hệ thống di tích, cảnh quan sông, đầm phá, rừng và các không gian sinh thái đặc thù.

Thành phố xác định 3 cụm đô thị động lực gồm đô thị trung tâm, Phong Điền và Chân Mây.

Trong đó, đô thị trung tâm giữ vai trò văn hóa, di sản, du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục và dịch vụ chất lượng cao; Phong Điền phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chân Mây gắn với kinh tế biển và các hoạt động kinh tế mới.

Việc phân định chức năng giúp Huế mở rộng không gian phát triển mà không gia tăng quá mức áp lực lên khu vực di sản. Đây cũng là cách để giá trị văn hóa trở thành bản sắc riêng và lợi thế cạnh tranh của đô thị.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ giữ vai trò trung tâm vùng về thương mại, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ. Trong điều kiện đồng bằng chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, sụt lún và ngập lụt, phát triển Cần Thơ không chỉ là mở rộng không gian xây dựng, mà còn phải nâng cao năng lực thích ứng và cung ứng các dịch vụ chất lượng cao cho toàn vùng.

Những hướng phát triển khác nhau của Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế và Cần Thơ từ khi có Nghị quyết 27-NQ/TW cho thấy một mạng lưới đô thị mạnh không nhất thiết được hình thành từ những trung tâm có mô hình giống nhau. Chính sự khác biệt về chức năng, khi được kết nối hiệu quả, sẽ tạo nên khả năng bổ trợ và sức cạnh tranh chung.

Hải Phòng định hướng phát triển năm không gian, bốn vùng kinh tế-xã hội và năm trục động lực. Trong đó, các đô thị hạt nhân giữ vai trò trung tâm dịch vụ, những khu vực công nghiệp, nông nghiệp và biển, đảo phát triển theo chức năng phù hợp.

Việc Đà Nẵng mở rộng địa giới tạo điều kiện tổ chức lại các trung tâm chức năng, trong đó khu vực phía bắc phát huy thế mạnh đô thị trung tâm, dịch vụ, du lịch và công nghệ; khu vực phía nam, với hạt nhân là Khu kinh tế mở Chu Lai, trở thành một cực phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị quan trọng.

Huế xác định ba cụm đô thị động lực gồm đô thị trung tâm, Phong Điền và Chân Mây. Trong đó, đô thị trung tâm giữ vai trò văn hóa, di sản, du lịch, y tế chuyên sâu, giáo dục và dịch vụ chất lượng cao; Phong Điền phát triển công nghiệp, dịch vụ; Chân Mây gắn với kinh tế biển và các hoạt động kinh tế mới.

Cần Thơ giữ vai trò trung tâm vùng về thương mại, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ.

03.

Những thành phố mới và khát vọng trở thành cực tăng trưởng

Cùng với những trung tâm động lực đã định hình, năm 2026 ghi nhận sự xuất hiện của 3 thành phố trực thuộc Trung ương mới: Đồng Nai, Quảng Ninh và Bắc Ninh.

Tại Đồng Nai, sự thay đổi về địa vị hành chính mở ra cơ hội tổ chức lại một không gian phát triển rộng lớn, kết hợp các trung tâm công nghiệp, đô thị, dịch vụ, nông nghiệp và những đầu mối giao thông quan trọng.

Đồng chí Võ Minh Trung, Phó Giám đốc Sở Tài chính thành phố Đồng Nai cho biết, địa phương xác định lợi thế trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở quy mô công nghiệp hay vị trí địa lý, mà quan trọng hơn là khả năng kết nối, tích hợp và khai thác hiệu quả các nguồn lực.

Theo định hướng tại Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 21/7/2026 của Bộ Chính trị, Đồng Nai được xây dựng thành đô thị sân bay, đô thị ven sông, đô thị đa trung tâm, đa mục tiêu, phát triển xanh, thông minh; hướng tới vai trò cực tăng trưởng đa chức năng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước.

Thành phố định hướng phân công chức năng giữa các trung tâm đô thị. Biên Hòa tiếp tục giữ vai trò trung tâm đô thị lớn; Long Thành phát triển đô thị sân bay và các dịch vụ quốc tế; Nhơn Trạch ưu tiên đô thị hiện đại, đô thị ven sông; Trảng Bom phát triển đô thị gắn với công nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Các trung tâm mới ở khu vực phía bắc được nghiên cứu hình thành để khai thác dư địa phát triển và tạo sự phân bố hợp lý về dân cư, việc làm.

Đáng chú ý, đô thị sân bay Long Thành được kỳ vọng hình thành một không gian kinh tế, đô thị mới, với các trung tâm thương mại, tài chính, hội nghị, triển lãm, giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo. Sân bay vì thế không chỉ là công trình giao thông mà còn có thể trở thành hạt nhân tổ chức những chức năng đô thị hiện đại.

Đồng Nai xác định lợi thế trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở quy mô công nghiệp hay vị trí địa lý, mà quan trọng hơn là khả năng kết nối, tích hợp và khai thác hiệu quả các nguồn lực.
Đồng chí Võ Minh Trung
Phó Giám đốc Sở Tài chính thành phố Đồng Nai

Trong khi đó, sông Đồng Nai được định hướng trở thành trục sinh thái, văn hóa, cảnh quan và phát triển đô thị. Thành phố nghiên cứu chỉnh trang các khu vực ven sông, phát triển công viên, không gian công cộng và những công trình dịch vụ phù hợp, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận không gian ven sông của cộng đồng.

Định hướng này cũng phù hợp với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại cuộc làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Nai ngày 18/5/2026 về phát huy vai trò của sông Đồng Nai trong tổ chức không gian sinh thái, văn hóa và đô thị.

Cùng với đó, thành phố nghiên cứu phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tổ chức các trung tâm dân cư, thương mại và dịch vụ tại những khu vực có lợi thế kết nối. Mục tiêu đến năm 2030 nâng tỷ lệ đô thị hóa lên 65%, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng không gian sống và các dịch vụ thiết yếu.

Từ một trung tâm công nghiệp lớn, Đồng Nai đang hướng tới mô hình cực tăng trưởng đa chức năng, trong đó các đô thị được tổ chức theo lợi thế riêng và kết nối thành một mạng lưới thống nhất.

Infographic Đơn Giản Hiện Đại
Tư duy chiến lược minh họa

Quảng Ninh định hình vị thế trên nền tảng kinh tế biển, biên giới và di sản

Hiệu suất vận hành minh họa

Bắc Ninh đang hướng tới mô hình đại đô thị công nghiệp, dịch vụ và công nghệ cao trong mạng lưới vùng Thủ đô.

Ở phía đông bắc, Quảng Ninh lại có cấu trúc không gian đặc biệt. Trong Kết luận số 20-KL/TW ngày 7/4/2026, Bộ Chính trị đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp đô thị, biển, đảo, biên giới và di sản.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, đồng chí Quản Minh Cường, Bí thư Thành ủy Quảng Ninh nhấn mạnh yêu cầu sắp xếp, định vị rõ từng tiềm năng, nguồn lực để nâng cao giá trị gia tăng, chuyển những lợi thế sẵn có thành năng lực cạnh tranh mới.

Theo định hướng của địa phương, Hạ Long phát huy vai trò trung tâm đô thị, du lịch và dịch vụ; Quảng Yên phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với cảng biển và logistics; Vân Đồn gắn với kinh tế biển, du lịch nghỉ dưỡng; Móng Cái tập trung vào thương mại, logistics và giao thương qua biên giới.

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA QUẢNG NINH

Di chuột hoặc chạm vào thẻ để xem định hướng phát triển

Quảng Ninh cũng nghiên cứu, thu hút nhà đầu tư chiến lược phát triển cảng biển nước sâu khu vực Con Ong-Hòn Nét, đồng thời thúc đẩy mô hình cửa khẩu thông minh Móng Cái-Đông Hưng.

Với cấu trúc đa trung tâm, Quảng Ninh có điều kiện khai thác những lợi thế bổ trợ giữa các khu vực, nâng cao vai trò trung tâm kinh tế biển, cửa ngõ giao thương quốc tế và cực tăng trưởng của vùng đông bắc.

Nếu Quảng Ninh định hình vị thế trên nền tảng kinh tế biển, biên giới và di sản, Bắc Ninh đang hướng tới mô hình đại đô thị công nghiệp, dịch vụ và công nghệ cao trong mạng lưới vùng Thủ đô.

Theo đồng chí Lương Văn Nghiệp, Phó Giám đốc Sở Tài chính thành phố Bắc Ninh, với diện tích khoảng 4.718km², dân số khoảng 4 triệu người, Bắc Ninh quy mô kinh tế đứng thứ ba vùng Đồng bằng sông Hồng và thứ năm cả nước. Thành phố được định vị là một cực tăng trưởng quan trọng, trung tâm công nghiệp, đô thị, dịch vụ, thương mại và logistics của vùng.

Ngày 23/7/2026, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh. Theo định hướng quy hoạch, thành phố phát triển theo mô hình đa cực, gồm ba phân vùng, bốn hành lang phát triển và sáu cụm trung tâm động lực.

BẮC NINH ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH ĐA CỰC

3 PHÂN VÙNG
4 HÀNH LANG
PHÁT TRIỂN
6 CỤM TRUNG TÂM
ĐỘNG LỰC

Trong đó, hệ thống hạ tầng kết nối vùng giữ vai trò quan trọng, với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, các tuyến đường Vành đai 4, Vành đai 5, đường kết nối sân bay Gia Bình với Hà Nội và các trung tâm đô thị, công nghiệp, cùng những tuyến đường sắt và mạng lưới logistics.

Phó Giám đốc Sở Xây dựng thành phố Bắc Ninh Trần Xuân Đông cho biết, Bắc Ninh phát triển đô thị hướng tới tầm nhìn một đại đô thị văn minh, hiện đại, giàu bản sắc Kinh Bắc, với những trung tâm chức năng được tổ chức hợp lý.

Bên cạnh nền tảng công nghiệp, Bắc Ninh đang hướng tới hình thành những không gian đô thị, dịch vụ, giáo dục và nghiên cứu có khả năng thu hút chuyên gia, kỹ sư và lao động chất lượng cao.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý trong định hướng phát triển của Bắc Ninh không chỉ là mở rộng không gian đô thị hay xây dựng thêm hạ tầng.

Generated image 5

Một góc Bắc Ninh. (Ảnh: VGP)

Một góc Bắc Ninh. (Ảnh: VGP)

Theo Sở Công Thương thành phố, Bắc Ninh xác định bước chuyển từ một địa điểm đặt nhà máy sang hình thành hệ sinh thái công nghiệp, áp dụng tiêu chí lựa chọn dự án theo hướng sử dụng ít đất, ít lao động, nhưng có giá trị gia tăng, vốn đầu tư và trình độ công nghệ cao.

Quy mô công nghiệp lớn là nền tảng để Bắc Ninh phát triển thành một cực tăng trưởng. Nhưng việc nâng cao vai trò trong mạng lưới kinh tế vùng còn phụ thuộc vào khả năng chuyển từ gia công, lắp ráp sang những công đoạn có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

Sự ra đời của Đồng Nai, Quảng Ninh và Bắc Ninh với vị thế thành phố trực thuộc Trung ương mở rộng mạng lưới cực tăng trưởng của đất nước. Tuy nhiên, địa vị hành chính mới chỉ là điều kiện. Vai trò thực sự của mỗi cực tăng trưởng phải được khẳng định qua năng lực tổ chức không gian đô thị, tạo lập giá trị và đóng góp vào sự phát triển chung của vùng.

Cầu vượt biển Thuận An, Huế.

Cầu vượt biển Thuận An, Huế.

04.

Mở đường cho những cực tăng trưởng tương lai

Trong khi các thành phố mới đang từng bước khẳng định vị thế, một số địa phương khác cũng đang chuẩn bị những điều kiện để trở thành cực tăng trưởng trong tương lai. Khánh Hòa là một trong số đó.

Ngày 20/10/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch chung đô thị Khánh Hòa đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075, định hướng xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương và cực tăng trưởng quan trọng của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Theo đồng chí Lê Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa, quy hoạch xác định cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm hai phân vùng phát triển, ba cực động lực và bốn hành lang phát triển.

Trong đó, cực động lực phía bắc gắn với Vân Phong, phát huy lợi thế kinh tế biển, công nghiệp và dịch vụ; cực động lực trung tâm gồm Nha Trang, Cam Lâm, Cam Ranh, tập trung những chức năng hành chính, dịch vụ, tri thức và điều phối; cực động lực phía nam gồm vùng đô thị Phan Rang và vùng kinh tế phía nam, phát triển các hoạt động kinh tế xanh, văn hóa, du lịch và năng lượng sạch.

Quy hoạch Khánh Hòa xác định cấu trúc đô thị đa cực, đa trung tâm, gồm hai phân vùng phát triển, ba cực động lực và bốn hành lang phát triển.
Đồng chí Lê Minh Tiến
Phó Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Khánh Hòa

Nha Trang được xác định là đô thị hạt nhân, kết nối chuỗi trung tâm phát triển ven biển. Cách tổ chức này hướng tới khai thác thế mạnh riêng của từng khu vực, đồng thời tạo sự thống nhất trong cấu trúc không gian toàn tỉnh.

Đối với Khánh Hòa, mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không đơn thuần là phát triển các đô thị hiện hữu, mà còn là tổ chức hài hòa mối quan hệ giữa đô thị ven biển với các khu vực nông thôn, miền núi và không gian sinh thái.

Dù Quy hoạch chung đô thị đã được phê duyệt, Khánh Hòa vẫn cần tiếp tục đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Điều quan trọng là xây dựng được một cấu trúc đô thị có chức năng rõ ràng, sức cạnh tranh và khả năng dẫn dắt phát triển vùng.

Từ Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đến những trung tâm động lực đã hình thành, các thành phố mới và những đô thị đang chuẩn bị điều kiện vươn lên, hệ thống đô thị quốc gia đang mở ra một giai đoạn phát triển với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và hiệu quả.

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045, cả nước có ít nhất năm đô thị đạt tầm cỡ quốc tế. Để hướng tới mục tiêu ấy, không chỉ Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mà các đô thị động lực khác cũng cần phát huy được những chức năng riêng, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và kết nối quốc tế.

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2045, cả nước có ít nhất năm đô thị đạt tầm cỡ quốc tế.

Một thành phố mạnh có thể tạo ra sức hút về vốn, lao động và thị trường. Nhưng khi những nguồn lực ấy được chia sẻ, khi doanh nghiệp ở các địa phương có thể tiếp cận công nghệ, dịch vụ và cơ hội kinh doanh từ những đô thị đầu tàu, sức mạnh của một cực tăng trưởng mới trở thành động lực của cả vùng.

Phát triển hệ thống đô thị hiện đại, vì thế, không chỉ là xây dựng thêm những thành phố lớn, mà là hình thành một mạng lưới các trung tâm phát triển có khả năng dẫn dắt, bổ trợ và cùng tạo ra những cơ hội tăng trưởng mới cho đất nước.

Ngày xuất bản: Tháng 10/2026
Thực hiện: Việt Anh, Hoàng Nhật, Kiều Hương, Thanh Tùng, Tùng Quang, Thảo Lê, Thiên Lam, Duy Khánh, Vương Lê, Thiên Vương, Kim Dung, Duy Tân, Anh Quân, Duy Linh
Ảnh: Lê Chí

Trình bày: Ngọc Diệp