Trong cuốn “Ký ức Tây Nguyên”, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp kể, sau khi chiến dịch toàn thắng, những người lính rời khỏi núi rừng, tiến về đồng bằng. Lúc đặt chân tới bờ biển miền Trung, không ít chiến sĩ - những người bao năm đằng đẵng cầm súng chiến đấu ở những nơi ác liệt nhất trên dải đất cao nguyên, đã trào nước mắt. Có người đã quên mất vị mặn của biển khơi. Có người lần đầu nhìn thấy những con sóng vỗ bờ. Câu hát “biển trời bao la, đẹp như gấm hoa” (Bài ca thống nhất - nhạc sĩ Võ Văn Di) dường như được dành để mô tả đúng cảm xúc vỡ òa khi ấy. 

Nhưng không phải ai cũng có may mắn đó. Để bảo vệ được biển trời, non sông gấm vóc tươi đẹp như thế, để non sông liền một dải, hàng chục nghìn chiến sĩ đã ngã xuống vĩnh viễn, ở Plây Me, Sa Thầy, Măng Giang, An Khê, Đắc Tô - Tân Cảnh, Buôn Ma Thuột, Đường 7, Phượng Hoàng. Cho đến tận bây giờ, nhiều mảnh xương cốt vẫn chưa về với vòng tay người thân, về với đất mẹ. Khoảng lặng sau chiến thắng vẫn là nỗi ám ảnh khôn nguôi với những người lính, như cựu chiến binh 80 tuổi Hoàng Đình Trọng, người cựu giao liên 95 tuổi Sô Hỗn...

Chàng thanh niên Hoàng Đình Trọng lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của lý tưởng từ khi còn đang học lớp 7, mới 17 tuổi nhưng khai “tăng lên” 19 tuổi để được sớm ra chiến trường cống hiến tuổi thanh xuân.

Đón tiếp chúng tôi trong căn nhà ở phường Ea Kao (Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk), người lính già đã không còn minh mẫn sau lần tai biến nhẹ. Nhưng mắt cụ sáng lên khi nhắc đến những người đồng đội vẫn còn nằm đâu đó nơi đất lạnh. Từng mảnh ký ức đã vỡ vụn vì bom đạn ở Mặt trận Tây Nguyên (B3), giờ được chắp nối lại qua lời kể đứt quãng, đôi khi không rõ ràng…

"Đó là trận phục kích trên Quốc lộ 21 (nay là Quốc lộ 26) vào tháng 5/1974, đoạn km 62-63 nối Buôn Ma Thuột và Nha Trang", cụ Trọng nhớ lại. Khi đó, đội của cụ chỉ có khoảng 6-7 người đánh du kích, đối đầu với đoàn xe địch đang từ Buôn Ma Thuột xuống. Đạn bắn như mưa trút. Trong trận chiến không cân sức ấy, người đồng đội trẻ Kiều Đăng Khoa đã trúng đạn hy sinh khi đang làm nhiệm vụ cảnh giới. 

Trong những câu chuyện kể bên cánh võng trước ngày hy sinh, người lính trẻ mới được bổ sung vào đơn vị năm 1973 cũng đã từng ước mơ đến ngày hòa bình được nhìn thấy biển, được trở về với mẹ, như ước mơ giản dị của tất cả những người đồng đội trên khắp các chiến trường ngày ấy.

Cựu chiến binh Hoàng Đình Trọng - người lính già đã không còn minh mẫn sau lần tai biến nhẹ, nhưng mắt cụ sáng lên khi nhắc đến những người đồng đội vẫn còn nằm đâu đó nơi đất lạnh.

Cụ Trọng là người đã tự tay “gửi” đồng đội mình vào đất mẹ. Đau lòng hơn, thi thể của người lính trẻ đến khi về đất mẹ cũng không còn nguyên vẹn. Sau trận đánh, bãi cỏ tranh bốc cháy rừng rực do hỏa lực của địch, thi thể liệt sĩ Khoa cũng bị lửa táp, mùi cỏ cháy lẫn với mùi máu, mùi tóc cháy. Cảnh tượng thê lương ấy vẫn hằn sâu trong tâm trí người lính già cho đến tận bây giờ. 

Trong tình thế cấp bách, khi địch vẫn đang truy đuổi gắt gao, cụ Trọng cùng một đồng đội tên Quang đã vác thi thể ông Khoa chạy băng qua những cánh đồng cỏ tranh, đi xa khoảng 1-2km hướng về phía nam. Khi tiếng súng tạm yên, họ gạt nước mắt, lặng lẽ đào đất để vùi thi thể không còn nguyên vẹn với lời hẹn sẽ quay lại để đưa Khoa về quê khi có cơ hội. 

Sau trận đánh, bãi cỏ tranh bốc cháy rừng rực do hỏa lực của địch, thi thể liệt sĩ Khoa cũng bị lửa táp, mùi cỏ cháy lẫn với mùi máu, mùi tóc cháy. Cảnh tượng thê lương ấy vẫn hằn sâu trong tâm trí người lính già cho đến tận bây giờ. 

Cụ Trọng nhớ đã dùng chiếc tăng võng của anh em trong tổ để gói ghém thi thể đồng đội, chôn cất Khoa tại một khu vực gần khe suối cạn, cách đường Quốc lộ 21 khoảng 1km.

Trong chiến tranh, có vô số những giây phút bi tráng như thế, giống như nhà thơ Quang Dũng đã viết trong kháng chiến chống Pháp: Áo bào thay chiếu anh về đất/Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Từ núi rừng Tây Bắc vang vọng đến đại ngàn Tây Nguyên. Cổng trời, thác Dray Nur, sông Sê-rê-pôk… cũng gầm lên như thế suốt mấy chục năm qua.

"Ngày đó, chiến trường ác liệt lắm! Thương binh của ta từ các mặt trận chuyển về bệnh xá rất nhiều. Các y bác sĩ đã chiến đấu giành giật từng hơi thở cho bộ đội, nhưng nhiều đồng chí bị thương quá nặng đã anh dũng hy sinh. Do điều kiện chiến tranh, các anh, các chị được an táng ngay tại khu vực núi Hòn Ông chung quanh bệnh xá. Nằm xuống giữa rừng sâu, các anh chỉ có tấm tăng bạt bó thân” - cụ Sô Hỗn, cựu giao liên năm nay đã 95 tuổi, sống tại thôn Phước Tân (xã Tây Sơn, Đắk Lắk bùi ngùi.

Nằm xuống giữa rừng sâu, các anh chỉ có tấm tăng bạt bó thân.
Cụ Sô Hỗn

Theo lời kể của cụ Sô Hỗn, vào những năm tháng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ác liệt nhất (khoảng năm 1968-1969), cụ là giao liên thông thuộc từng gốc cây, ngọn cỏ tại khu vực rừng núi nơi Bệnh xá Trúc Bạch đóng quân. Bệnh xá nằm bên dòng suối Cà Lúi, thuộc thôn Gia Trụ, xã Phước Tân, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên (theo địa giới hành chính cũ).

Aid Visit at the Rustic Doorway

Ban Chỉ huy Đội K51 và cụ Sô Hỗn (ở giữa).

Ban Chỉ huy Đội K51 và cụ Sô Hỗn (ở giữa).

Cụ bảo, tuổi mình đã cao, như ngọn đèn trước gió, nếu không nói ra, không tìm lại các anh thì thế hệ mai sau sẽ khó lòng biết được các anh đang nằm ở đâu. Dù đã ở tuổi bách niên, sức khỏe đã suy giảm nhiều, nhưng cụ Sô Hỗn đã nhiều lần trực tiếp dẫn đường cho cán bộ, chiến sĩ Đội quy tập hài cốt liệt sĩ K51 (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đắk Lắk) băng rừng, lội suối, lật tìm từng gốc cây, hốc đá để xác định chính xác vị trí chôn cất đồng đội năm xưa.

Ngày 7/7/2026 trở thành một ngày không thể quên đối với lực lượng quy tập. Sau nhiều lần khảo sát kỹ lưỡng và nhận được sự khẳng định chắc chắn từ cụ Sô Hỗn, Đội K51 phối hợp chặt chẽ cùng cấp ủy, chính quyền địa phương triển khai lực lượng khai quật tại các vị trí nghi vấn. 

Hành trình tìm kiếm vô cùng gian nan. Để đến được hiện trường, các chiến sĩ cùng lực lượng phối hợp phải vượt qua chặng đường hơn 5km đường rừng hiểm trở, leo núi cao, lội qua những con suối chảy xiết trong suốt gần 2 giờ đồng hồ. Dưới cái nắng gắt và muỗi rừng, cán bộ, chiến sĩ Đội K51 đã cẩn trọng, tỉ mỉ đào từng lớp đất sâu.

Các hài cốt liệt sĩ được bọc vẹn nguyên trong túi tử sĩ.

Các hài cốt liệt sĩ được bọc vẹn nguyên trong túi tử sĩ.

Sau một ngày ròng rã tìm kiếm bằng cả mệnh lệnh trái tim, niềm xúc động vỡ òa khi ở độ sâu dưới lòng đất, lực lượng chức năng đã tìm thấy và quy tập được 2 hài cốt liệt sĩ (chưa rõ danh tính). Các anh được bọc vẹn nguyên trong túi tử sĩ. Khi lớp đất bọc ngoài được gạt bỏ, những mảnh xương cẳng chân, những chiếc răng và các di vật thân thương của người lính hiện ra, khiến những người chứng kiến không kìm được nước mắt.

Khi lớp đất bọc ngoài được gạt bỏ, những mảnh xương cẳng chân, những chiếc răng và các di vật thân thương của người lính hiện ra, khiến những người chứng kiến không kìm được nước mắt.

Hiện 2 hài cốt liệt sĩ đã được các cơ quan chuyên môn tiến hành lấy mẫu sinh phẩm để phục vụ công tác giám định ADN xác định danh tính.

Đưa các anh về đất mẹ.

Đưa các anh về đất mẹ.

Trên thực tế, không phải đợi tới Chiến dịch 500 ngày đêm, hàng chục năm qua, từng có nhiều đoàn cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ quay trở lại khu vực từng là Bệnh xá Trúc Bạch tìm kiếm đồng đội. Nhưng giống như câu chuyện của cựu chiến binh Hoàng Đình Trọng và liệt sĩ Kiều Đăng Khoa, do địa hình thay đổi quá lớn nên hầu hết các đợt tìm kiếm chưa mang lại nhiều kết quả. Chỉ đến khi đội K51 tìm được những người như cụ Sô Hỗn, cộng với “chút duyên” thì đội mới chạm vào được những di vật thiêng liêng, đưa các anh trở về với đồng đội, với nhân dân.

Mặt trận B3 là chiến trường trọng điểm trong mọi cuộc kháng chiến. Theo hồ sơ, Gia Lai có 54.455 liệt sĩ, Đắk Lắk có 23.166 liệt sĩ. Số liệt sĩ chưa được quy tập hài cốt của cả hai tỉnh lên tới gần 30.000. Thế nên, những thông tin mà ông Trọng cung cấp cho Đội quy tập hài cốt liệt sĩ K51 thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đắk Lắk là vô cùng đáng quý.

Các thành viên Đội K51 và các lực lượng cẩn thận đào từng lớp đất để tìm hài cốt đồng đội.

Các thành viên Đội K51 và các lực lượng cẩn thận đào từng lớp đất để tìm hài cốt đồng đội.

Tuy nhiên, hành trình tìm lại vị trí ngôi mộ liệt sĩ Kiều Đăng Khoa, cũng như phần lớn trong số gần 30.000 liệt sĩ, đang gặp phải vô vàn trở ngại. Khó khăn lớn nhất chính là sự khắc nghiệt của thời gian. Cụ Hoàng Đình Trọng nay đã tuổi 80, cụ Sô Hỗn thậm chí đã 95. Tai cụ Trọng đã lãng, trí nhớ chẳng còn liền mạch dẫn đến sự chồng chéo giữa những ký ức chợt thoáng qua trong đầu, rồi giọng nói khó khăn sau lần tai biến nhẹ, khiến việc truyền đạt thông tin trở nên trắc trở. 

Rồi như đã nói, địa hình xưa kia là những bãi cỏ tranh, bụi rậm mênh mông, nay đã thay đổi hoàn toàn bởi sự canh tác của người dân. Nhiều khu vực trong trí nhớ của những người lính già nay đã bị thời gian làm xói mòn, san ủi hoặc xây mới, làm thay đổi dấu vết thực địa. 

Những cánh rừng già năm xưa nơi từng diễn ra các trận đánh oanh liệt, giờ đây có thể đã trở thành kế sinh nhai của bà con cao nguyên đất đỏ, chuyển đổi thành rẫy cà phê hay vườn cao su. Những lối mòn băng rừng nay đã trở thành con đường kết nối dân sinh đông đúc phục vụ sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều mảnh hài cốt được đội K51 quy tập trong thời gian qua là từ các rẫy cà-phê, qua những lần canh tác, đào xới của người dân.

Đại tá Phan Anh Khoa, Phó Chủ tịch Hội Cựu chiến binh tỉnh Đắk Lắk cho biết: Ngày xưa, các chiến sĩ thường ghi nhớ vị trí dựa vào các đặc điểm tự nhiên như gốc cây to, dòng suối, khe nước hay một quả đồi.

Thế nhưng bây giờ, cây không còn, suối vơi cạn, con nước đổi dòng, cảnh vật hoàn toàn thay đổi. Việc tìm kiếm vì thế cũng trở nên khó khăn. Thậm chí, nhiều thông tin được cung cấp thêm từ chính người dân và người thân của liệt sĩ, sau khi xác minh kỹ lưỡng lại chưa đem lại kết quả chính xác.

Đại tá Đỗ Văn Thiệu, Chính trị viên Đội K51, chia sẻ rằng họ đang phải thực hiện nhiều cuộc “chạy đua”.

  • CHẠY ĐUA khi quỹ thời gian của các cựu chiến binh không còn nhiều.
  • CHẠY ĐUA khi trí nhớ các cụ đều đã suy giảm.
  • CHẠY ĐUA khi địa hình, địa mạo đã thay đổi quá nhiều qua thời gian.

Trực tiếp chỉ huy tổ công tác, Đại tá Đỗ Văn Thiệu, Chính trị viên Đội K51, chia sẻ rằng họ đang phải thực hiện nhiều cuộc “chạy đua”. Chạy đua khi quỹ thời gian của các cựu chiến binh như cụ Trọng hay cụ Sô Hỗn không còn nhiều. Chạy đua khi trí nhớ các cụ đều đã suy giảm. Chạy đua khi địa hình, địa mạo thay đổi quá nhiều qua thời gian.

Nhưng quá trình tìm kiếm thì không thể là cuộc chạy đua tốc độ, bởi từng tấc đất bazan của chiến trường B3 đều chất chứa biết bao nỗi đau. Trong quá trình tìm kiếm, chính các chiến sĩ thế hệ sau này cũng phải chịu những tổn thất, hy sinh do bom mìn chiến tranh.

Trong bút ký “Gió vẫn thổi qua mùa khô và vị tướng có mái đầu mây trắng” (Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 2024), nhà văn Đỗ Tiến Thụy kể: “Nhưng ám ảnh chúng tôi nhất là những bãi mìn. Trước khi tháo chạy, quân đội Sài Gòn đã gài mìn dày đặc xung quanh các căn cứ, qua thời gian cây cỏ mọc trùm lên, công binh rất khó khăn dò gỡ. Thế nên khu vực đóng quân của đơn vị tôi hầu như ngày nào cũng có tiếng nổ. Sau mỗi tiếng nổ thường là một con bò cụt chân nhảy tễnh ra đường với ánh mắt hoảng loạn. Có những tiếng nổ khiến một vài người dân đi tìm phế liệu bỏ mạng, thịt xương văng tóe lẫn vào cỏ cây, quạ đen lập tức lượn tới rầm trời. Và đau đớn hơn, có cả những tiếng nổ lấy đi sinh mạng của những người lính trẻ”.

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Vậy mà đến tận bây giờ, vẫn có những người lính trẻ còn chưa kịp nhìn thấy biển.

Đại tá Phan Anh Khoa, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh Đắk Lắk hào hứng chia sẻ về việc sử dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo của các ban liên lạc đơn vị cũ để tìm kiếm đồng đội. Thông qua các nền tảng này, Hội có thể liên lạc với những cựu chiến binh đang sinh sống ở khắp mọi miền đất nước. Nhiều người lính bạc đầu từ nhiều địa phương ở phía bắc cũng đã từng tình nguyện gác bút sách, bỏ việc riêng để lên đường tham gia chiến đấu tại chiến trường Phú Yên, Đắk Lắk năm xưa. 

Biết đâu, một thông tin được đăng tải lại có thể góp phần kích thích trí nhớ của nhiều người khác, tạo nên một mạng lưới thông tin rộng khắp. Đây là kênh tiếp cận trực tiếp và hiệu quả, giúp Hội nắm bắt được những chi tiết quý giá mà có thể các báo cáo hành chính chưa kịp cập nhật.
-- Đại tá Phan Anh Khoa --

"Tôi muốn dành ít trang để nói về chiến trường Tây Nguyên trong thời khắc lịch sử này. Tây Nguyên, một vùng đất ở phía Tây Trung Bộ, với những cao nguyên rộng lớn và những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn chiếm một phần ba diện tích rừng cả nước, lại ở độ cao có thể ví như mái nhà của Nam Đông Dương.

Chiến trường này, trong kháng chiến chống Mỹ gồm ba tỉnh: Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk với diện tích 36.000 km², dân số khoảng 1 triệu người.

Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên đã nhanh chóng phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung. Trong ảnh: Pháo binh và xe tăng quân giải phóng trên đường hành quân vào giải phóng Quy Nhơn. Ảnh: TTXVN

Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên đã nhanh chóng phát triển xuống các tỉnh ven biển miền Trung. Trong ảnh: Pháo binh và xe tăng quân giải phóng trên đường hành quân vào giải phóng Quy Nhơn. Ảnh: TTXVN

Tây Nguyên có những điểm mạnh rất cơ bản, đó là tinh thần cách mạng của nhân dân và địa thế hiểm trở. Nói cách khác đó là con người và địa thế. Từ các hướng muốn đến Tây Nguyên đều phải vượt qua các dãy núi cao, những đường đèo quanh co, khúc khuỷu.

Từ lâu thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã đánh giá rất đúng vị trí chiến lược của Tây Nguyên. Chúng cho rằng, ai chiếm được Tây Nguyên sẽ làm chủ được Đông Dương. Vì vậy, Tây Nguyên trở thành mục tiêu chiến lược và chiến trường rất quan trọng trong cả hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ. Chín năm kháng chiến chống Pháp và 20 năm chống Mỹ, cứu nước, có nhiều khu vực chưa bao giờ quân thù dám đặt chân đến như Ngọc Linh, vùng đầu nguồn sông Ba và đầu nguồn sông Sê-rê-pốk, v.v…”

(Trích “Ký ức Tây Nguyên” - Đặng Vũ Hiệp năm 2002)

Ngày xuất bản: Tháng 7/2026
Thực hiện: Hoàng Nhật-Công Lý-Ngọc Duy-Ngọc Diệp
(Một số chi tiết trong bài viết đã được đăng tải trên Báo Nhân Dân ngày 8/7/2026)

Kỳ tới: Chuyện về đội tìm kiếm K51