Ngày 28/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới. Không chỉ tiếp nối những định hướng về phát triển vùng, Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển: từ cách tiếp cận chủ yếu theo địa giới hành chính sang tổ chức không gian phát triển dựa trên chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị và khả năng liên kết; từ khai thác những nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, khơi thông và kết nối các nguồn lực để tạo ra những động lực tăng trưởng mới. Đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia”.
Bước chuyển ấy đặt ra một yêu cầu lớn: mỗi địa phương không thể phát triển như một không gian biệt lập, mà phải xác định rõ vị trí, chức năng và đóng góp của mình trong tổng thể vùng và quốc gia. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh được xác định là những động lực quan trọng; xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng mạnh, thực chất, hiệu quả là một khâu đột phá.
Hạ tầng giao thông, logistics phải tạo nên những hành lang kết nối thông suốt; những lợi thế đặc thù phải được chuyển hóa thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng mới; các đô thị lớn, cực tăng trưởng phải thực sự trở thành những hạt nhân kết nối, dẫn dắt và lan tỏa phát triển.
Đồng thời, những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế điều phối, phân bổ nguồn lực và chất lượng nhân lực phải được tháo gỡ để liên kết vùng đi từ chủ trương đến hiệu quả thực chất.
Qua khảo sát thực địa tại nhiều địa phương, đối thoại với các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và từ những chuyển động đang diễn ra trong thực tiễn, loạt 5 bài của Báo Nhân Dân đi tìm lời giải cho một vấn đề có ý nghĩa chiến lược: "Làm thế nào để những lợi thế còn phân tán được kết nối thành sức mạnh chung, mở rộng không gian phát triển và tạo thêm năng lực cạnh tranh cho đất nước?"
Đó cũng là sứ mệnh của từng vùng, từng địa phương trong việc đưa lợi thế vùng thành sức mạnh quốc gia, để những định hướng lớn của Nghị quyết số 27-NQ/TW từng bước trở thành những chuyển biến có thể nhìn thấy, đo đếm bằng kết quả trong thực tiễn.
Mang lợi thế, bản sắc và nguồn lực riêng, mỗi vùng kinh tế sẽ góp phần tạo nên sức mạnh chung trong tiến trình phát triển đất nước. Phát huy đầy đủ những giá trị ấy trong một không gian phát triển thống nhất là yêu cầu đặt ra khi đất nước bước vào giai đoạn mới, với mục tiêu tăng trưởng cao, bền vững và nâng cao năng lực tự chủ quốc gia.
Trước bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều chuyển biến sâu sắc, việc Bộ Chính trị khóa XIV ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy, tầm nhìn và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với phát triển đất nước, xác định phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, gắn với tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
"Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới."
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước TÔ LÂM
(Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026)
Tầm nhìn mới trong định hình không gian và động lực phát triển
Quy hoạch phát triển vùng luôn là một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước. Sau hơn 3 năm thực hiện các nghị quyết về sáu vùng kinh tế, nhận thức về vai trò phát triển vùng được nâng lên; liên kết vùng được tăng cường; tiềm năng, lợi thế của địa phương và vùng từng bước được phát huy; phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh các vùng đã xác lập định hướng phát triển gắn với đặc điểm, tiềm năng từng địa bàn.
Những yêu cầu về liên kết, phát huy vai trò các trung tâm động lực, kết nối hạ tầng và đổi mới mô hình tăng trưởng đã được đặt ra từ nền tảng đó. Tuy nhiên, trên thực tế, việc phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra; nguồn lực xã hội chưa được khơi thông hiệu quả; quy hoạch thiếu đồng bộ, thiếu liên kết; hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành phát triển chậm; một số đô thị lớn, cực tăng trưởng chưa phát huy vai trò hạt nhân, lan tỏa.
Nhận thức rõ các vấn đề tồn tại, đồng thời tìm lời giải cho yêu cầu “tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia”, Bộ Chính trị khóa XIV đã xây dựng định hướng phù hợp với giai đoạn phát triển mới khi “chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới”.
Đây chính là những nội dung định hướng quan trọng của Đảng đã được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9/2026. Cụ thể, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh quan điểm: “Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương”.
Quan điểm này được minh triết bằng những chỉ đạo rất cụ thể: Với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi. Đầu tư công tập trung vào hạ tầng nền tảng, hạ tầng liên vùng, hạ tầng số, khoa học, công nghệ, năng lượng, logistics; không dàn trải. Phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế.
Cũng tại hội nghị quan trọng này, khi trình bày những phân tích, nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 27-NQ/TW, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, chỉ rõ, không chỉ kế thừa những định hướng về phát triển vùng qua các thời kỳ, Nghị quyết quan trọng này đã xác lập một bước phát triển trong tư duy chiến lược của Đảng: định hình phương thức tổ chức lại không gian, khơi thông nguồn lực và tạo thêm năng lực cạnh tranh từ sự liên kết, bổ trợ giữa các vùng, các địa phương, phát huy tiềm năng từng vùng, đồng thời khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên cơ sở bảo đảm không gian phát triển của địa phương, các vùng và cả nước được kết nối chặt chẽ, thông suốt trên quy mô quốc gia.
Là người từng công tác ở Ban Kinh tế Trung ương, tiền thân của Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương hiện nay, trong những năm 90 của thế kỷ trước, Tiến sĩ Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, đã từng tham gia nghiên cứu về tổ chức kinh tế theo vùng lãnh thổ trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội quốc gia với việc xây dựng và phát triển ba vùng kinh tế trọng điểm ở phía bắc, miền trung và phía nam. Khi được tiếp cận Nghị quyết 27-NQ/TW, Tiến sĩ Trần Văn đã rất tâm đắc với bước chuyển mạnh mẽ trong tư duy hoạch định, xây dựng các định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về kinh tế vùng trong tình hình mới.
Theo Tiến sĩ Trần Văn, điều đặc biệt thể hiện ở quan điểm về cực tăng trưởng, vùng động lực, lan tỏa, coi hạ tầng kết nối và hành lang kinh tế là trụ cột và yêu cầu phát huy “ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc” của từng vùng.
Quan điểm này khá đồng nhất với ý kiến của đồng chí Phạm Hồng Hải, Vụ trưởng Vụ Kinh tế vùng và địa phương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, người trực tiếp tham gia nghiên cứu và xây dựng định hướng chiến lược mới, khi chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân về vấn đề này. Cụ thể, đồng chí Phạm Hồng Hải cho rằng, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới thì việc ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW còn có ý nghĩa quan trọng nhằm đổi mới tư duy về phát triển vùng, cấu trúc lại không gian phát triển vùng để phát huy tối đa ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc văn hóa của vùng, địa phương; bảo đảm các yêu cầu về liên kết vùng và ngành về tự chủ chiến lược; về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh và độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Vụ trưởng Vụ Kinh tế vùng và địa phương, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương
Theo đồng chí Phạm Hồng Hải, các vùng khi phát triển đúng định hướng sẽ thực hiện được vai trò, sứ mệnh của mình, tạo thành sức mạnh tổng thể cho quốc gia, là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Bởi “điểm có ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết số 27-NQ/TW là tổ chức lại để phát triển các vùng bảo đảm để không gian quốc gia được triển khai theo hướng lấy không gian biển, hành lang kinh tế hướng biển và đại dương làm trục phát triển chủ đạo, chiến lược, lan tỏa đến trung du, miền núi và biên giới, trong đó xác định rõ vai trò quan trọng của các đô thị lớn, các hành lang kinh tế và cực tăng trưởng”.
Đồng chí Phạm Hồng Hải phân tích, vùng cần được nhìn nhận như một không gian kinh tế để tổ chức phân công lao động, phân bổ nguồn lực và hình thành các chuỗi giá trị. Lợi thế của một địa phương phải được xem xét trong khả năng kết hợp, bổ trợ với những địa phương khác; việc lựa chọn hướng phát triển phải hướng đến hiệu quả chung. Đó cũng là bước chuyển từ tư duy chủ yếu khai thác nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt các nguồn lực phát triển.
Vì thế, xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng và sứ mệnh từng vùng có ý nghĩa vượt ra ngoài việc phân chia địa bàn. Đó là cơ sở để lựa chọn nơi tập trung nguồn lực, nhận diện những mối liên kết cần tạo lập, những lợi thế cần bảo vệ và những trùng lặp cần khắc phục. Mỗi vùng có một hướng phát triển phù hợp, cùng đóng góp vào năng lực tự chủ và sức cạnh tranh quốc gia. Ý nghĩa cấp thiết của bước chuyển này thể hiện rõ sau sắp xếp đơn vị hành chính. Ranh giới quản lý được điều chỉnh, tạo điều kiện tổ chức lại nguồn lực trên phạm vi rộng hơn.
Nghị quyết số 27-NQ/TW, bởi vậy, đặt ra một yêu cầu đổi mới sâu hơn cách tổ chức tăng trưởng. “Tầm nhìn quốc gia phải dẫn dắt sự lựa chọn của từng vùng, từng địa phương; lợi ích riêng được phát huy trong quan hệ bổ trợ với lợi ích chung. Đây là cơ sở để chuyển những tiềm năng đang phân tán thành động lực phát triển có sức lan tỏa”, đồng chí Phạm Hồng Hải khẳng định.
Điều đặc biệt thể hiện ở quan điểm về cực tăng trưởng, vùng động lực, lan tỏa, coi hạ tầng kết nối và hành lang kinh tế là trụ cột và yêu cầu phát huy “ưu điểm nổi trội, lợi thế cạnh tranh, bản sắc” của từng vùng.
Đây là cơ sở để chuyển những tiềm năng đang phân tán thành động lực phát triển có sức lan tỏa.
Không gian vận hành của nền kinh tế thường vượt qua ranh giới hành chính, trong khi nhiều quyết định về đầu tư, phân bổ ngân sách, thu hút dự án lại được xem xét trong phạm vi từng địa phương
Kiến tạo sức mạnh chung từ những lợi thế khác biệt
Vì sao sự kết nối có thể tạo thêm nguồn lực, dù đất đai, lao động hay tài nguyên của từng địa phương không tự nhiên tăng lên? Câu trả lời nằm ở khả năng tổ chức lại những nguồn lực ấy để tạo ra giá trị cao hơn.
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại Trường Đại học VinUni và từng công tác tại Ban Kinh tế Trung ương, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương chỉ ra một vấn đề có tính nền tảng: "Không gian vận hành của nền kinh tế thường vượt qua ranh giới hành chính, trong khi nhiều quyết định về đầu tư, phân bổ ngân sách, thu hút dự án lại được xem xét trong phạm vi từng địa phương”. Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh nhận xét, mỗi tỉnh có thể hành xử hợp lý trong phạm vi của mình, nhưng tổng hợp lại chưa chắc tạo ra kết quả hợp lý nhất ở cấp quốc gia.
Lập luận ấy cho thấy hạn chế của cách nhìn riêng rẽ. Một dự án có thể hấp dẫn đối với địa phương tiếp nhận, nhưng chưa chắc là lựa chọn hiệu quả nhất khi xét đến hạ tầng, nguồn nhân lực, chuỗi cung ứng và nhu cầu của toàn vùng. Ngược lại, một công trình nằm trên địa bàn này có thể tạo phần lớn lợi ích cho hoạt động sản xuất ở địa bàn khác. Nếu chỉ tính phần thu được trong ranh giới của mình, động lực đầu tư cho lợi ích chung dễ bị suy giảm.
Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại Trường Đại học VinUni
Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, sự phân công và bổ trợ giữa các địa phương có thể tạo thêm năng suất thông qua chuyên môn hóa, dùng chung thị trường lao động, mạng lưới nhà cung cấp và dịch vụ. Khi được kết nối với quy mô đủ lớn, doanh nghiệp có thêm điều kiện tiếp cận đầu vào, tri thức và thị trường; chi phí giao dịch giảm xuống, khả năng tham gia chuỗi giá trị được nâng lên. Lợi thế riêng vì thế có thể phát huy thành sức cạnh tranh của cả mạng lưới. Đặt trong cách tiếp cận ấy, việc một địa phương không phát triển đủ mọi ngành, không có đầy đủ mọi loại công trình, có thể là một lựa chọn hợp lý. Điều quan trọng là địa phương đảm nhiệm tốt chức năng nào trong tổng thể, kết nối với những đối tác nào để nâng cao giá trị. Một vùng nguyên liệu được gắn với cơ sở chế biến, dịch vụ bảo quản và cửa ngõ xuất khẩu sẽ có cơ hội phát triển khác với khi từng khâu tự tìm cách vận hành riêng.
Thực tiễn tại tỉnh Lào Cai cho thấy rõ yêu cầu nhìn một lợi thế trong cả chuỗi kết nối. Trong 9 tháng năm 2026, tổng giá trị giao thương đạt gần 3 tỷ USD, tăng 34,83% so cùng kỳ. Kết quả này là minh chứng cho thấy quy mô giao thương và vai trò kết nối thị trường của địa phương có vị trí đặc biệt trong phát triển kinh tế mậu biên và là đầu mối giao thương quốc tế quan trọng của cả nước. Tuy nhiên, khi trao đổi với Báo Nhân Dân, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thành Sinh cho biết, tỉnh Lào Cai cũng còn nhiều hạn chế về kết nối đường sắt, dịch vụ logistics, kho lạnh và năng lực phục vụ hàng hóa…
Một góc tỉnh Lào Cai. (Ảnh: Cổng thông tin tỉnh Lào Cai)
LÀO CAI
Trong
9
tháng năm 2026
Tổng giá trị giao thương đạt gần
3 tỷ
USD
tăng
34,83%
so cùng kỳ
Bởi theo đồng chí Nguyễn Thành Sinh, sức cạnh tranh của cửa khẩu phụ thuộc vào khả năng kết nối với vùng sản xuất, trung tâm tiêu thụ, các phương thức vận tải và dịch vụ trên cả tuyến. Khơi thông một mắt xích tại Lào Cai vì thế có thể tạo thêm cơ hội cho hàng hóa của nhiều địa phương; hiệu quả đầu tư cần được nhìn nhận trong phạm vi rộng hơn nơi công trình được xây dựng.
Với thành phố Quảng Ninh, định hướng liên kết vùng được đồng chí Quản Minh Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Quảng Ninh, chia sẻ với Báo Nhân Dân lại là “chuyển từ khai thác lợi thế sẵn có sang nâng cao giá trị và tạo lập lợi thế cạnh tranh mới”.
Đáng chú ý, Bí thư Quản Minh Cường nhấn mạnh: “Yêu cầu chuyển từ phát huy lợi thế riêng sang kết nối những lợi thế bổ sung giữa các địa phương”.
Cách đặt vấn đề này gợi mở một tiêu chí lựa chọn phát triển: mỗi nguồn lực được huy động phải góp phần làm sâu thêm sự liên kết và nâng cao vị thế của địa phương trong không gian vùng. Kết nối cũng đang mở rộng sang những không gian mới. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo điều kiện nhận diện nguồn lực, kết nối cung-cầu và tổ chức các hoạt động kinh tế vượt qua khoảng cách địa lý. Dữ liệu được chia sẻ có thể giúp nhìn rõ vùng nguyên liệu, nhu cầu chế biến, năng lực vận chuyển và thị trường tiêu thụ, qua đó hỗ trợ quyết định đầu tư phù hợp hơn.
“Giá trị của chuyển đổi số trong phát triển vùng cần được đặt trong khả năng tạo ra những kết nối thực chất ấy. Một nền tảng chỉ có ý nghĩa khi giúp doanh nghiệp tiếp cận được đối tác, người sản xuất mở rộng được thị trường, cơ quan quản lý phối hợp hiệu quả hơn. Công nghệ phải đi cùng đổi mới cách tổ chức phát triển để nguồn lực được lưu chuyển thuận lợi, cơ hội được mở rộng và giá trị gia tăng được giữ lại nhiều hơn trong nền kinh tế”, Bí thư Quản Minh Cường cho biết thêm.
Bí thư Thành ủy Quảng Ninh
Trở lại với vấn đề tại sao dù được thực hiện khá đầy đủ các nghị quyết phát triển vùng từng có từ năm 2022, song “việc phát triển các vùng chưa đạt mục tiêu đề ra”, theo Tiến sĩ Trần Văn, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã gọi đúng tên căn bệnh khi xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.
“Gọi đúng tên bệnh mới là một nửa. Nửa còn lại là phải trao cho thiết chế vùng ba thứ: quyền quyết định danh mục dự án liên vùng, một phần nguồn vốn đầu tư công phân bổ theo vùng chứ không theo tỉnh, và một công thức chia sẻ nguồn thu, chi phí được luật hóa. Thiếu ba thứ đó thì sẽ đến lúc ta lại phải sơ kết và lại thấy “chưa đạt mục tiêu”, Tiến sĩ Trần Văn thẳng thắn chỉ rõ.
Trung du và miền núi phía Bắc
9 tỉnh sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Đồng bằng sông Hồng
6 tỉnh, thành phố sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh, thành phố để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Bắc Trung Bộ
5 tỉnh, thành phố sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh, thành phố để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
6 tỉnh, thành phố sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh, thành phố để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Đông Nam Bộ
3 tỉnh, thành phố sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh, thành phố để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Đồng bằng sông Cửu Long
5 tỉnh, thành phố sau sáp nhập
So sánh tăng trưởng
Bảng số liệu tương tác
Bấm tiêu đề cột để sắp xếp tăng hoặc giảm; chọn tên tỉnh, thành phố để xem chi tiết. Thứ hạng toàn quốc.
Lợi ích quốc gia là mạch nối xuyên suốt
Những lợi thế bổ trợ chỉ trở thành sức mạnh chung khi các chủ thể có động lực cùng hành động. Một dự án liên vùng có thể mang lại hiệu quả kinh tế lớn, nhưng vẫn chậm triển khai nếu trách nhiệm không rõ, nguồn lực thiếu thống nhất hoặc lợi ích chưa được chia sẻ hợp lý. Bởi vậy, liên kết cần được tổ chức bằng cơ chế thực chất và những cam kết có thể kiểm chứng.
Nhìn nhận vấn đề này từ cách lựa chọn ưu tiên và đánh giá kết quả, theo Tiến sĩ Trần Văn, cần chuyển câu hỏi từ “tỉnh tôi muốn có gì?” sang “vùng cần gì và tỉnh tôi đóng vai trò gì?”. Khi đã xác định được chức năng trong chuỗi giá trị, địa phương mới có căn cứ lựa chọn lĩnh vực tập trung nguồn lực và những dự án cần gác lại.
Khi thước đo đổi, cách chọn ưu tiên sẽ đổi theo.
Một gợi ý đáng chú ý của Tiến sĩ Trần Văn chính là chuyển từ chọn dự án sang chọn điểm nghẽn. Thay vì bắt đầu bằng danh mục công trình mong muốn, cần nhận diện điều gì đang làm chi phí sản xuất, kinh doanh của cả vùng cao lên. Đó có thể là một đoạn đường nối cảng còn thiếu, hệ thống kho lạnh cho nông sản, tuyến truyền tải điện hay nguồn lao động có kỹ năng phù hợp. Giải quyết đúng điểm nghẽn sẽ giúp nhiều chủ thể cùng hưởng lợi và nâng cao hiệu quả nguồn lực đã đầu tư.
Để sự lựa chọn ấy có động lực thực hiện, Tiến sĩ Trần Văn đề xuất, đổi mới tiêu chí đánh giá lãnh đạo địa phương, đưa vào đó kết quả phát triển vùng và hiệu quả liên kết. Nếu chỉ chú trọng những kết quả thu được trên địa bàn mình, sẽ khó khuyến khích một địa phương dành nguồn lực cho công trình mang lợi ích sang địa bàn khác. “Khi thước đo đổi, cách chọn ưu tiên sẽ đổi theo”, ông Trần Văn nhấn mạnh.
Đi liền với tập trung nguồn lực, theo Tiến sĩ Trần Văn, cần thiết kế cơ chế bù đắp phù hợp. Địa phương dành đất cho dự án chung, bảo vệ rừng, giữ nguồn nước hoặc gánh chịu những chi phí phục vụ phát triển vùng phải được xem xét chia sẻ lợi ích và hỗ trợ tương xứng. Đây là đề xuất nhằm tạo nền tảng hợp tác lâu dài, để trách nhiệm đóng góp gắn với quyền được thụ hưởng.
Cũng nhấn mạnh yêu cầu chia sẻ lợi ích, Tiến sĩ Trần Thị Thu Hương, Trưởng phòng Phát triển vùng và địa phương, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, đã bổ sung một yêu cầu quan trọng: “Phải xem lợi ích phát triển lan tỏa trên lãnh thổ như thế nào. Không gian rộng hơn vẫn có thể tồn tại khoảng cách giữa trung tâm và ngoại vi nếu thiếu phân công chức năng, kết nối và cơ chế quản trị phù hợp”.
Theo Tiến sĩ Trần Thị Thu Hương, khi lựa chọn ưu tiên, cần tính đến cơ hội tham gia của người dân, khả năng tạo sinh kế bền vững và chi phí môi trường dài hạn. Chẳng hạn, với một dự án du lịch liên tỉnh, doanh thu và lượng khách cần được xem xét cùng khả năng người dân có việc làm, hộ kinh doanh nhỏ tham gia chuỗi cung ứng, cảnh quan và nguồn nước được bảo vệ.
Cách đánh giá ấy giúp nhìn rõ chất lượng và sự phân bổ của thành quả phát triển. “Thước đo của phát triển vùng không chỉ là tạo ra bao nhiêu giá trị, mà còn là giá trị ấy được lan tỏa như thế nào, người dân được hưởng lợi ra sao và môi trường sống được duy trì cho tương lai đến mức nào”, Tiến sĩ Trần Thị Thu Hương nhấn mạnh.
Đưa những yêu cầu đó vào thực tiễn đòi hỏi năng lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện của cấp ủy, chính quyền. Trách nhiệm đối với vùng phải hiện diện trong quyết định của từng địa phương, trong cách bố trí nguồn lực, phối hợp triển khai và đánh giá cán bộ. Lợi ích quốc gia cần trở thành căn cứ xuyên suốt để giải quyết những khác biệt, lựa chọn ưu tiên và giữ vững kỷ luật thực hiện.
Theo đồng chí Phạm Hồng Hải, định hướng chiến lược với những bước tiến rất mạnh đã định hình rất rõ và quyết liệt. Vấn đề bây giờ là cần cụ thể hóa nghị quyết quan trọng này thành chương trình, kế hoạch hành động rõ mục tiêu, nhiệm vụ, trách nhiệm, nguồn lực, tiến độ và kết quả. Kết quả thực hiện liên kết vùng cần trở thành nội dung quan trọng trong đánh giá hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nhất là đối với người đứng đầu; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Một góc Quảng Ninh. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Một góc Quảng Ninh. (Ảnh: Báo Nhân Dân)
Khi đó, theo đồng chí Phạm Hồng Hải, việc chuyển không gian phát triển mới thành năng lực phát triển thực chất của đất nước đòi hỏi tháo gỡ những ràng buộc về thể chế, quy hoạch, khơi thông các động lực tăng trưởng, phát huy sức lan tỏa của hệ thống đô thị và chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp lợi thế từng vùng. Những nhiệm vụ ấy cần được triển khai đồng bộ, bắt đầu từ từng quyết định của cấp ủy, chính quyền. Khi lợi thế mỗi địa phương được phát huy trong sự phân công, bổ trợ và chia sẻ trách nhiệm, liên kết vùng mới tạo được sức mạnh chung cho phát triển đất nước.
Ngày xuất bản: Tháng 10/2026
Thực hiện: Việt Anh-Hoàng Nhật-Thảo Lê-Minh Phương-Khánh Lan
Trình bày: Ngọc Diệp
