Gần 60 năm sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ vẫn tiếp tục. Dưới lòng đất từng là nghĩa địa Chí Hòa, những bộ hài cốt đang dần được đưa lên, nhưng phía sau mỗi cuộc tìm kiếm là một cuộc chờ đợi kéo dài gần trọn đời người.

Đó là những người vợ chờ chồng, những người con chờ cha, những người phụ nữ chờ người yêu trở về và những người đồng đội vẫn đau đáu đi tìm nhau. Có người đã không thể chờ đợi được nữa.

Loạt bài “58 năm chờ một ngày đoàn tụ ” kể về những thân nhân chưa bao giờ thôi hy vọng và hành trình đưa những người đã hy sinh trở về với gia đình, với quê hương, với tên tuổi của mình.

Ở tuổi 82, bác sĩ quân y Trần Văn Bản vẫn có mặt từ sáng sớm tại khu vực khai quật Công viên Lê Thị Riêng. Ông cặm cụi lấy tay sờ lần vào từng góc đất, tìm kiếm từng mảnh xương, phủi lớp đất bám trên đó rồi chỉ cho những người lính trẻ cách nhận diện. Gần nửa thế kỷ đi tìm đồng đội đã khiến những thao tác ấy trở thành bản năng. Với ông, mỗi mẩu xương được đưa lên đều mang theo sự chờ đợi mòn mỏi suốt 58 năm qua.

“Đừng để sót
bất kỳ mảnh xương nào”

Nắng, mưa thất thường của Thành phố Hồ Chí Minh những ngày tháng 7, 8 không làm người chiến sĩ già ở tuổi 82 ngần ngại. Hằng ngày, ông có mặt tại Công viên Lê Thị Riêng từ đầu giờ sáng, như một điểm tựa về kinh nghiệm cho các chiến sĩ trẻ đang thực hiện nhiệm vụ quan trọng và thần tốc bóc từng lớp đất, tìm kiếm hài cốt liệt sĩ đã bị vùi lấp suốt 58 năm qua.

Ngày 6/7, Công viên Lê Thị Riêng bóc từng lớp đất đầu tiên. Ông Bản, bằng một lá đơn xin làm tình nguyện viên trực tiếp tham gia đội quy tập, biết hành trình này rất đặc biệt trong đời mình.

Ngày 6/7, Công viên Lê Thị Riêng bóc từng lớp đất đầu tiên. Ông Bản, bằng một lá đơn xin làm tình nguyện viên trực tiếp tham gia đội quy tập, biết hành trình này rất đặc biệt trong đời mình.

Những ngày đầu khi ông Bản có mặt thường trực, các chiến sĩ trẻ gọi ông là một chiếc máy đọc cơ thể người bởi những thao tác nhanh nhẹn trong tìm kiếm và kiến thức ông cung cấp bồi đắp mỗi ngày. Những kiến thức y học và xúc giác nhạy bén được mài giũa qua nhiều năm đã giúp ông có khả năng “đọc” xương qua cảm giác tay, phân biệt chính xác đâu là xương liệt sĩ, đâu là đất đá trong các cuộc quy tập sau này. “Sờ trơn tay là đất, còn nham nhám thì là xương”, ông nói với các chiến sĩ.

Những ngày đầu khi ông Bản có mặt thường trực, các chiến sĩ trẻ gọi ông là một chiếc máy đọc cơ thể người bởi những thao tác nhanh nhẹn trong tìm kiếm và kiến thức ông cung cấp bồi đắp mỗi ngày.

Những ngày đầu khi ông Bản có mặt thường trực, các chiến sĩ trẻ gọi ông là một chiếc máy đọc cơ thể người bởi những thao tác nhanh nhẹn trong tìm kiếm và kiến thức ông cung cấp bồi đắp mỗi ngày.

Vừa làm, ông vừa chia sẻ với tâm huyết của một người đã dành hơn 40 năm đi tìm hài cốt liệt sĩ rằng: “Những người nằm dưới lòng đất này khi ra đi cũng từng là những thanh niên khỏe mạnh. Sau hàng chục năm, có những bộ hài cốt chỉ còn lại khoảng 60% xương, thậm chí có bộ chỉ còn khoảng 30%. Với những trường hợp như vậy, việc xác định danh tính càng khó khăn. Vì thế, các cháu phải cố gắng tìm từng mảnh xương, dù nhỏ nhất. Bởi nếu không xác định được danh tính, người đã hy sinh có thể mãi mãi không có tên và một gia đình có thể vĩnh viễn không biết con mình nằm ở đâu”.

Mỗi khi tham gia công tác khai quật, ông để ý cả những dấu tích nhỏ nhất có thể kể lại câu chuyện về những người đã từng sống, từng chiến đấu rồi nằm xuống: một sợi tóc, chiếc nhẫn, món đồ trang sức, chiếc gương, cây lược hay chai dầu thơm...

Nếu không xác định được danh tính, người đã hy sinh có thể mãi mãi không có tên và một gia đình có thể vĩnh viễn không biết con mình nằm ở đâu. Ảnh: Nhật Thành

Nếu không xác định được danh tính, người đã hy sinh có thể mãi mãi không có tên và một gia đình có thể vĩnh viễn không biết con mình nằm ở đâu. Ảnh: Nhật Thành

Mỗi ngày, tại Công viên này quy tập được hàng chục hài cốt. Có những bộ hài cốt khiến người lính già kỳ cựu cũng phải rớt nước mắt. “Đau thương của chiến tranh một thời khiến chúng tôi ai cũng đau xót”, ông Bản nói, đôi mắt mờ đục.

Những ngày ở Công viên Lê Thị Riêng, ông chứng kiến quá nhiều chuyện buồn thương khi khai quật những bộ hài cốt còn để lại dấu tích của vết trói tay, những mảnh đạn găm trên cơ thể, hay những bộ hài cốt “quấn” lấy nhau như thể các chiến sĩ đã ôm chặt nhau trước khi hy sinh…

Với ông Bản, tìm thấy hài cốt mới chỉ là bước đầu. Điều ông đau đáu hơn là phải trả lại cho người đã khuất một cái tên.

Với ông Bản, tìm thấy hài cốt mới chỉ là bước đầu. Điều ông đau đáu hơn là phải trả lại cho người đã khuất một cái tên.

Phòng lấy mẫu đặt phía sau Nhà Truyền thống tại Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng (phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh) là nơi ông đứng nhiều giờ để cùng các chiến sĩ trẻ sắp xếp lai phần hài cốt theo đúng vị trí giải phẫu. Trước khi chuyển sang đội pháp y, mọi thứ được ông Bản sắp xếp đúng trình tự.

Với ông Bản, tìm thấy hài cốt mới chỉ là bước đầu. Điều ông đau đáu hơn là phải trả lại cho người đã khuất một cái tên. Ông bảo, nếu có thân nhân để đối chiếu ADN, việc xác định danh tính có thể thực hiện khi mẫu ADN tương đồng. Nhưng nếu không còn thông tin về gia đình, không có mẫu đối chứng, việc xác định danh tính sẽ vô cùng khó khăn. Bởi nếu không tìm được tên, người đã hy sinh có thể sẽ mãi mãi nằm lại vô danh dưới lòng đất.

Từ bức huyết thư
đến lời hứa với đồng đội

Tuổi thơ mồ côi cha từ bé khiến cậu bé Trần Văn Bản có một bản lĩnh can trường và sự thấu cảm sâu sắc với những nỗi đau chia lìa. Ba lần xin nhập ngũ không thành vì quá gầy gò, ông đã viết huyết thư, thể hiện ý chí sắt đá muốn được cống hiến cho Tổ quốc. Quyết tâm đó đã giúp cho chàng thanh niên trẻ được đồng ý gia nhập quân ngũ, khoác lên mình màu áo lính thuộc Tiểu đoàn 342, Trung đoàn 42, Bộ Tư lệnh 350 (hay còn gọi Quân khu Tả Ngạn) vào năm 1967.

Sau những tháng ngày huấn luyện chăm chỉ tại vùng núi rừng Yên Tử, Quảng Ninh, đơn vị của ông Trần Văn Bản bắt đầu cuộc hành quân băng rừng cao, lội suối sâu, vào chiến trường miền nam khốc liệt.

Hành trình ấy kéo dài ròng rã 6 tháng 13 ngày mới đặt chân tới địa bàn Trảng Bàng, Tây Ninh, một trong những trận địa ác liệt nhất nằm trong vùng “tam giác sắt” Củ Chi-Bến Cát-Trảng Bàng.

Vừa đến nơi vào lúc 19 giờ tối, thì ngay 7 giờ sáng hôm sau, ông và đồng đội đã phải đối mặt với trận đánh đầu tiên với quân đội Hoa Kỳ. Trong thế trận không cân sức, đơn vị ông đã hy sinh 14 người nhưng vẫn kiên cường tiêu diệt được 3 xe tăng địch, một sự khởi đầu đầy máu và lửa cho cuộc đời binh nghiệp của chàng trai Trần Văn Bản.

Ông Bản lặng lẽ hoàn thành hàng trăm sơ đồ thực địa, đánh dấu tỉ mỉ từng vị trí chôn cất các đồng đội

Ông Bản lặng lẽ hoàn thành hàng trăm sơ đồ thực địa, đánh dấu tỉ mỉ từng vị trí chôn cất các đồng đội

Sau khi bị thương nặng năm 1969, do lạc mất tin tức, đơn vị đã gửi giấy báo tử về quê Hải Phòng. Suốt 7 năm liền, ông Trần Văn Bản bỗng trở thành “liệt sĩ” khi được gia đình lập ban thờ. Đến tháng 12 năm 1976, sau khi đất nước đã thống nhất và hoàn thành công tác, ông Bản mới có dịp nghỉ phép về thăm nhà.

Khoảnh khắc ông bước qua cổng làng, người mẹ già và hai người em của ông Bản xúc động đến mức chẳng đứng vững nổi. Thế nhưng, niềm vui đoàn tụ của gia đình ông lại khơi dậy nỗi đau của biết bao người mẹ khác. Thấy ông “từ cõi chết trở về”, 28 gia đình đồng đội cùng đi năm ấy đã tìm đến nhà ông với một tia hy vọng mong manh rằng con họ cũng có thể còn sống đâu đó. “Bản ơi, con mẹ chết rồi đành chịu, nhưng mẹ muốn nhìn thấy xương con mẹ. Con có giúp mẹ không?”, ông kể, giọng nấc nghẹn.

Ông Bản tham gia ông tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng

Ông Bản tham gia ông tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng

Nỗi đau đớn hơn với ông, đó là hai người bạn mà ông luôn xem như một phần của chính mình trong “tổ tam tam” là Nguyễn Bá Hòa, Nguyễn Đình Kiên, cùng quê, cùng cảnh mồ côi cha, cùng học một trường, cùng ngày nhập ngũ rồi lại cùng sát cánh nơi chiến trường đã không may mắn trở về. Nước mắt của mẹ liệt sĩ Hòa, liệt sĩ Kiên khiến ông nhói đau trong lồng ngực. Ông cố gượng, nhưng không nén được tiếng khóc khi nhớ lời người bạn thân trước lúc hy sinh: “Nếu mày còn sống, sau này cố đem tao về cho mẹ tao...”.

Nước mắt của mẹ liệt sĩ Hòa, liệt sĩ Kiên khiến ông nhói đau trong lồng ngực. Ông cố gượng, nhưng không nén được tiếng khóc khi nhớ lời người bạn thân trước lúc hy sinh: “Nếu mày còn sống, sau này cố đem tao về cho mẹ tao...”.

Ông trở lại chiến trường, lần theo từng dấu vết để tìm Hòa, tìm Kiên. Hành trình tìm kiếm đồng đội của bác sĩ Bản chính thức bắt đầu từ tháng 3/1979 với phương tiện duy nhất là chiếc xe đạp cũ kỹ. Thời điểm ấy kinh tế đất nước còn muôn vàn khó khăn, ông phải trích từng đồng lương ít ỏi, đạp xe 70-80 cây số mỗi ngày từ 3 giờ sáng, mang theo bo bo làm lương thực để trở lại chiến trường xưa ở Củ Chi, Dầu Tiếng, Tây Ninh.

Có những lần gặp mương sâu không cầu, ông phải bẻ cành cây buộc túi nylon làm phao để bơi kéo xe sang bờ bên kia. Sự kiên trì không mệt mỏi ấy đã mang lại kết quả đầu tiên, khi tìm thấy hài cốt liệt sĩ Nguyễn Bá Hòa. Nhưng để chắc chắn đưa được đồng đội Nguyễn Bá Hòa trở về, ông Bản đã phải khảo sát thực địa tới 13 lần. Đến khi bộ hài cốt được đưa lên, một chiếc lọ penicillin nằm lại trong lòng đất đã giúp cái tên Nguyễn Bá Hòa trở về cùng những mẩu xương. Sau đó, ông tiếp tục tìm thấy liệt sĩ Nguyễn Văn Kiên (hay Phùng Bá Kiên) dựa vào một gốc tre già còn sót lại giữa cánh đồng đã bị bom đạn san phẳng.

“Tổ tam tam mình tìm được rồi, nhưng có những đồng đội 8-9 năm vẫn không thể tìm. Có những mộ tìm được, nhưng biết được là ai với ai. Có những nơi tìm được, đồng đội của mình chỉ còn quần áo, chẳng còn mảnh xương cốt”, ông xót xa nói.

Có lẽ vì thế, hơn 40 năm sau, khi đứng giữa khu vực khai quật ở Công viên Lê Thị Riêng, ông vẫn không chỉ nhìn những mảnh xương như những dấu tích của một cuộc chiến đã lùi xa. Ông nhìn thấy ở đó những người lính trẻ như ông, Hòa và Kiên năm nào và nghĩ đến những người thân đã chờ đợi mòn mỏi suốt 58 năm qua.

Những cuốn sổ chỉ đường cho ông tìm thấy đồng đội

Trong nhà ông Bản, 5 cuốn sổ tay ngả màu vàng úa là tài sản quý giá nhất trong đời làm bác sĩ quân y của ông. Ông lật từng cuốn sổ, chỉ cho chúng tôi xem thông tin hơn 2.300 hài cốt ông đã cùng đồng đội tìm thấy nơi chôn cất, có những thông tin lùi xa cả 47 năm trước.

Ông kể, thời gian làm Ban Quân y Quân khu Sài Gòn-Gia Định với nhiệm vụ thống kê thương binh, bệnh binh và tử sĩ đã khiến cho ông nung nấu ý định, phải ghi chép lại tất cả những cứ liệu quan trọng, vẽ lại hơn 200 sơ đồ và đánh dấu từng vị trí chôn cất đồng đội. Ông lặng lẽ hoàn thành hàng trăm sơ đồ thực địa, đánh dấu tỉ mỉ từng vị trí chôn cất dựa trên các mốc tiêu biểu như gốc cây, bờ mương hay hướng ánh trăng, bởi ông bảo: “Địa hình chiến trường vùng “tam giác sắt” Củ Chi-Bến Cát-Trảng Bàng biến đổi rất nhanh dưới sự cày xới của bom đạn, nếu không ghi lại ngay, dấu tích của các Anh hùng liệt sĩ nằm lại nơi chiến trận sẽ vĩnh viễn bị xóa nhòa”.  

Địa hình chiến trường vùng “tam giác sắt” Củ Chi-Bến Cát-Trảng Bàng biến đổi rất nhanh dưới sự cày xới của bom đạn, nếu không ghi lại ngay, dấu tích của các Anh hùng liệt sĩ nằm lại nơi chiến trận sẽ vĩnh viễn bị xóa nhòa.

- Bác sĩ quân y Trần Văn Bản -

Tập tài liệu vô giá ấy tưởng chừng có lúc “bay” theo bom đạn. Có lần, khi suýt bị bắt trong một trận càn của quân đội Mỹ, ông buộc phải bỏ lại chiếc thùng đựng toàn bộ sơ đồ xuống hố bom để thoát thân. Dù sau đó, bom B-52 đã san phẳng khu vực ấy khiến chiếc thùng đựng những sơ đồ đã mất, nhưng những đường nét của nó thì không biến mất khỏi trí nhớ ông. Sau hàng chục năm, ông vẫn có thể phác lại khoảng 80% những gì từng ghi trên đó.

Trong nhà ông Bản, 5 cuốn sổ tay ngả màu vàng úa là tài sản quý giá nhất trong đời làm bác sĩ quân y của ông.

Trong nhà ông Bản, 5 cuốn sổ tay ngả màu vàng úa là tài sản quý giá nhất trong đời làm bác sĩ quân y của ông.

Không dừng lại ở việc lập sơ đồ, người bác sĩ quân y trẻ tuổi ngày ấy còn đau đáu về việc làm sao để đồng đội không phải chịu cảnh vô danh khi được tìm thấy. Một trong những đóng góp rất nhân văn của bác sĩ Trần Văn Bản trong công tác tìm kiếm hài cốt liệt sĩ chính là việc sử dụng lọ penicillin rỗng để lưu giữ danh tính.

Ông đã từng chứng kiến cảnh nhiều đồng đội ngã xuống và sau đó việc tìm kiếm trở nên khó khăn do thiếu đi các yếu tố nhận diện. Cuối năm 1969, ông đã đề xuất và thực hiện nhiều cách để đánh dấu vị trí các liệt sĩ hy sinh. Một trong những phương pháp hiệu quả được áp dụng là viết tên lên giấy, trét mỡ bò lên để nước mưa không ngấm được, rồi bỏ vào lọ penicillin, buộc kín bằng nilon và đặt vào miệng liệt sĩ trước khi chôn cất. Nhờ thế, nhiều năm sau khi khai quật, những thông tin về liệt sĩ vẫn còn được lưu giữ, giúp xác định danh tính và đưa các anh trở về với gia đình.

Một trong những phương pháp hiệu quả được áp dụng là viết tên lên giấy, trét mỡ bò lên để nước mưa không ngấm được, rồi bỏ vào lọ penicillin, buộc kín bằng nilon và đặt vào miệng liệt sĩ trước khi chôn cất.

Một trong những phương pháp hiệu quả được áp dụng là viết tên lên giấy, trét mỡ bò lên để nước mưa không ngấm được, rồi bỏ vào lọ penicillin, buộc kín bằng nilon và đặt vào miệng liệt sĩ trước khi chôn cất.

Hòa bình, ông về công tác tại Bệnh viện Thống Nhất, nhưng trong lòng vẫn chưa một ngày nguôi ngoai nghĩ về những đồng đội đã hy sinh: “Nếu những người từng biết vị trí chôn cất đồng đội lần lượt mất đi, ai sẽ tiếp tục công việc này? Có những người nằm dưới chiến hào, dưới địa đạo suốt hàng chục năm mà vẫn chưa được tìm thấy. Người trẻ hôm nay không thể biết trận đánh năm xưa diễn ra ở đâu, đồng đội được chôn ở vị trí nào nếu những câu chuyện ấy không được ghi lại”.

Nghĩ vậy, suốt thời gian công tác, ông tranh thủ từng ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết để trở lại chiến trường tìm đồng đội. Ông đã dành trọn cuộc đời mình, để đi khắp các mảnh đất từ Củ Chi, Bến Cát và Trảng Bàng đến Tây Ninh, Nha Trang… từ những nơi ông từng chiến đấu, cho đến những mảnh đất mà ông biết đã có hàng trăm chiến sĩ ngã xuống. Mỗi nơi ông đến đều cố gắng vận dụng kinh nghiệm của mình để hỗ trợ tìm kiếm.

Ông lật từng trang sổ, chỉ cho chúng tôi xem thông tin hơn 2.300 hài cốt ông đã cùng đồng đội tìm thấy nơi chôn cất.

Ông lật từng trang sổ, chỉ cho chúng tôi xem thông tin hơn 2.300 hài cốt ông đã cùng đồng đội tìm thấy nơi chôn cất.

Có lần ở Long An, một gia đình đã nhiều năm tìm kiếm một liệt sĩ nhưng 3 lần khai quật đều không có kết quả. Sau khi báo chí đăng thông tin về công việc tìm kiếm của bác sĩ Bản, người chị của liệt sĩ tìm đến nhờ giúp đỡ.

Ông tìm lại 8 người đồng đội từng trực tiếp tham gia chôn cất người liệt sĩ này và chuẩn bị 18 câu hỏi để hỏi riêng từng người. Sau khi đối chiếu câu trả lời của tám người, có 12 câu hỏi nhận được những câu trả lời trùng khớp. Từ những dữ kiện đó, ông xác định một khu vực để trở lại hiện trường.

Khi ấy, điều kiện tìm kiếm rất khác bây giờ. Công cụ duy nhất chỉ có cuốc, xẻng và bay. Vì lực lượng ít, ông không chọn cách đào rộng mà tổ chức đào các rãnh nhỏ, rộng khoảng hai gang tay, đào sâu xuống rồi kéo dài theo hướng nghi vấn. Các rãnh cách nhau khoảng nửa mét để tránh bỏ sót nhưng vẫn bảo đảm có thể di chuyển giữa các rãnh.

“Đào đến rãnh thứ ba thì chúng tôi phát hiện hài cốt liệt sĩ. Những kinh nghiệm tích lũy hàng chục năm đã giúp chúng tôi giúp được gia đình”, ông thở nhẹ, như vừa bước ra từ hành trình giúp gia đình tìm kiếm liệt sĩ năm ấy.  

Cuộc trò chuyện bị ngắt quãng bởi một cuộc gọi có thông tin báo về ngôi mộ tập thể của liệt sĩ ở Trảng Bàng. Ông nghe máy, hỏi nhanh vài câu rồi sắp xếp lại công việc cho ngày hôm sau. “Mai chú phải đi một chuyến, biết đâu lại tìm được một mộ tập thể”, ông nói.

Ở tuổi 82, ông biết mình không còn nhiều thời gian. Ông dồn hết những kinh nghiệm có được vào cuộc khai quật giữa lòng thành phố, cúi thật gần xuống từng lớp đất, lần tìm từng mảnh xương, như thể sợ chỉ một dấu vết nhỏ của người đã nằm đó 58 năm bị bỏ lại. Cuốn sổ tay của ông có thể sẽ còn thêm những cái tên, những vị trí chôn cất mới. Còn ông, ngày nào còn đi được, vẫn muốn có mặt ở những nơi đồng đội mình có thể đang nằm lại.

Ngày xuất bản: 15/9/2026
Thực hiện:
Hoàng Nhật, Hồng Vân, Thiên Lam, Ngọc Khánh, Minh Duy, Lê Chí, Minh Đức