DU LỊCH Y TẾ:
Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam
Du lịch y tế đang trở thành một ngành kinh tế trị giá hàng trăm tỷ USD và là cuộc cạnh tranh mới giữa các quốc gia. Nếu trước đây, lợi thế chỉ nằm ở chi phí điều trị hay tay nghề bác sĩ, thì nay, sức hút của một điểm đến còn được quyết định bởi cả một hệ sinh thái chăm sóc sức khỏe: từ bệnh viện, dịch vụ phục hồi, bảo hiểm, hàng không, nghỉ dưỡng đến năng lực ứng phó y tế khẩn cấp và sự an toàn của cộng đồng.
Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để tham gia cuộc đua này. Nhiều kỹ thuật y khoa đã tiệm cận trình độ khu vực, chi phí cạnh tranh, thời gian chờ ngắn và ngày càng có nhiều bệnh viện thu hút bệnh nhân quốc tế. Tuy nhiên, để biến những "điểm sáng" riêng lẻ thành một ngành kinh tế thực sự, Việt Nam sẽ cần nhiều hơn chứ không chỉ là những bệnh viện chất lượng.
Loạt bài "Du lịch y tế: Cuộc đua mới của các quốc gia và cơ hội của Việt Nam" sẽ đi từ những câu chuyện người nước ngoài lựa chọn Việt Nam để điều trị, phân tích kinh nghiệm của các quốc gia thành công, chỉ ra những khoảng trống cần tháo gỡ và đề xuất giải pháp xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến an toàn về sức khỏe trong khu vực.
Du lịch y tế đang chuyển từ một dịch vụ bổ trợ sang ngành kinh tế cạnh tranh trực tiếp giữa các quốc gia. Việt Nam bước vào giai đoạn quyết định khi năng lực chuyên môn đã tiệm cận khu vực, nhưng bài toán đặt ra là cần tổ chức được một hệ sinh thái đủ sức giữ chân và thu hút người bệnh quốc tế.
Trong cuộc trao đổi với phóng viên, Thứ trưởng Y tế Trần Văn Thuấn nhấn mạnh, muốn đi đường dài, Việt Nam phải chuyển từ lợi thế đơn lẻ sang năng lực cạnh tranh hệ thống.
Giai đoạn
2026-2030
“Cửa sổ vàng” để Việt Nam bước vào thị trường tỷ USD
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Giai đoạn từ nay đến năm 2030 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi đây là thời điểm hội tụ đồng thời ba điều kiện lớn: chủ trương, đường lối đã rõ; nhu cầu thị trường đang mở rộng nhanh; và năng lực thực tiễn của hệ thống y tế Việt Nam đã có bước phát triển đủ mạnh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị dịch vụ y tế khu vực và quốc tế.
Trước hết, về định hướng chính trị, phát triển du lịch y tế phù hợp với các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã đặt ra yêu cầu phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, chất lượng cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, gắn với thu hút người bệnh quốc tế và phát triển du lịch chữa bệnh tại Việt Nam. Đây là định hướng mới, rất quan trọng, mở ra không gian phát triển rộng hơn cho ngành y tế.
Cùng với đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo nền tảng để ngành y tế phát triển các mô hình dịch vụ mới, quản trị thông minh, hồ sơ sức khỏe điện tử, tư vấn từ xa, kết nối dữ liệu xuyên biên giới. Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực hội nhập của đất nước, trong đó y tế không chỉ là lĩnh vực bảo đảm an sinh mà còn là một kênh hợp tác, kết nối và khẳng định vị thế quốc gia. Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân cũng mở ra cơ hội huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy hợp tác công tư, hình thành hệ sinh thái dịch vụ y tế chất lượng cao. Các chiến lược, chương trình của Chính phủ về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững và kinh tế dịch vụ cũng là nền tảng quan trọng để du lịch y tế phát triển theo hướng hiện đại, nhân văn và có trách nhiệm.
Du lịch y tế đang trở thành một lĩnh vực tăng trưởng nhanh trên thế giới.
Về cơ hội thị trường, du lịch y tế đang trở thành một lĩnh vực tăng trưởng nhanh trên thế giới. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, thẩm mỹ, nha khoa, hỗ trợ sinh sản, y học cổ truyền, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và nghỉ dưỡng phục hồi sau điều trị ngày càng tăng. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang nổi lên là một trong những trung tâm năng động nhất của lĩnh vực này. Nếu không chuẩn bị kịp thời từ bây giờ, Việt Nam có thể bỏ lỡ một giai đoạn rất quan trọng khi các quốc gia trong khu vực đang định vị rất mạnh mẽ thương hiệu du lịch y tế của mình.
Về năng lực trong nước, hệ thống y tế Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ rõ rệt. Nhiều chuyên ngành đã làm chủ các kỹ thuật chuyên sâu, nhiều bệnh viện công lập và ngoài công lập đã từng bước tiếp cận các tiêu chuẩn quản trị, chất lượng, an toàn người bệnh và dịch vụ theo chuẩn mực quốc tế như JCI, ACHS... Cùng với đó, hạ tầng du lịch, hàng không, lưu trú, công nghệ số và các dịch vụ hỗ trợ tại Việt Nam cũng đang phát triển nhanh, tạo điều kiện thuận lợi để hình thành các sản phẩm du lịch y tế có chất lượng.
Vì vậy, Bộ Y tế đang hoàn thiện dự thảo Phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030 để trình Chính phủ xem xét, phê duyệt. Mục tiêu không chỉ là phát triển thêm một sản phẩm du lịch, mà là từng bước hình thành một lĩnh vực dịch vụ y tế chất lượng cao, có giá trị gia tăng lớn, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân và khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ y tế khu vực.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Dự thảo Đề án hướng tới mục tiêu tổng quát là từng bước đưa Việt Nam trở thành điểm đến du lịch y tế có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực Đông Nam Á, tiến tới khẳng định vị trí trong một số lĩnh vực có thế mạnh tại châu Á. Tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận mục tiêu này theo một cách rất căn bản, muốn thu hút được người bệnh quốc tế thì trước hết hệ thống y tế phải đủ tốt để phục vụ người dân Việt Nam với chất lượng ngày càng cao.
Đề án hướng tới 3 nhóm mục tiêu chủ yếu.
Thứ nhất là phát triển các sản phẩm, dịch vụ du lịch y tế có chất lượng, có tính cạnh tranh và có khả năng hội nhập quốc tế. Trọng tâm là các lĩnh vực Việt Nam có lợi thế hoặc có tiềm năng phát triển nhanh như nha khoa, thẩm mỹ, hỗ trợ sinh sản, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, điều trị một số bệnh lý chuyên sâu kết hợp nghỉ dưỡng và theo dõi sau điều trị.
Thứ hai là nâng cao chất lượng hệ thống khám bệnh, chữa bệnh trong nước. Đây là mục tiêu có ý nghĩa nền tảng. Phát triển du lịch y tế phải gắn với chuẩn hóa chất lượng bệnh viện, nâng cao an toàn người bệnh, công khai minh bạch thông tin, cải thiện quy trình phục vụ, phát triển nhân lực, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới quản trị.
Thứ ba là hình thành một ngành kinh tế dịch vụ y tế hiện đại, có khả năng kết nối với du lịch, hàng không, khách sạn, bảo hiểm, công nghệ số, dược phẩm, thiết bị y tế và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đây là hướng phát triển phù hợp với yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng giá trị gia tăng cao, phát triển xanh, bền vững và dựa trên tri thức.
Điểm khác biệt của Việt Nam là khả năng kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, giữa điều trị với phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe toàn diện và trải nghiệm văn hóa bản địa.
Điểm khác biệt của Việt Nam là khả năng kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, giữa điều trị với phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe toàn diện và trải nghiệm văn hóa bản địa.
Về định vị thương hiệu, Việt Nam không nên và không thể chỉ cạnh tranh bằng giá thấp. Giá dịch vụ hợp lý là một lợi thế, nhưng không phải là nền tảng bền vững nhất. Thương hiệu “Du lịch y tế Việt Nam” cần được xây dựng trên bốn giá trị cốt lõi: chất lượng chuyên môn đáng tin cậy, chi phí hợp lý, môi trường an toàn, thân thiện và trải nghiệm chăm sóc sức khỏe giàu bản sắc văn hóa Việt Nam.
Điểm khác biệt của Việt Nam là khả năng kết hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền, giữa điều trị với phục hồi chức năng, nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe toàn diện và trải nghiệm văn hóa bản địa. Đặc biệt, với lợi thế thiên nhiên phong phú, có biển, có núi, có rừng, có sông, có hồ, có nhiều vùng sinh thái và khí hậu khác nhau, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển các sản phẩm chăm sóc sức khỏe gắn với nghỉ dưỡng, dưỡng sinh, phục hồi sau điều trị, chăm sóc người cao tuổi và nâng cao sức khỏe tinh thần. Một người bệnh quốc tế đến Việt Nam không chỉ để thực hiện một kỹ thuật y tế đơn lẻ, mà có thể được tiếp cận một hành trình chăm sóc sức khỏe toàn diện, nhân văn, an toàn và giàu cảm xúc.
Điều kiện để
"giữ và hút" bệnh nhân quốc tế
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Đây là một thực tế rất đáng suy nghĩ. Trong nhiều năm qua, một bộ phận người dân Việt Nam lựa chọn ra nước ngoài khám, chữa bệnh, nhất là đối với các dịch vụ chuyên sâu, như điều trị ung thư, tim mạch, hỗ trợ sinh sản, thẩm mỹ hoặc chăm sóc sức khỏe cao cấp. Tổng chi phí ước tính lên tới hàng tỷ USD mỗi năm. Trong khi đó, số lượng người bệnh quốc tế đến Việt Nam sử dụng dịch vụ y tế vẫn còn khiêm tốn so với tiềm năng.
Thực tế này cho thấy 2 vấn đề. Một mặt, nhu cầu chăm sóc sức khỏe chất lượng cao của người dân Việt Nam là rất lớn và hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, hệ thống y tế trong nước cần tiếp tục nâng cao chất lượng chuyên môn, chất lượng dịch vụ, tính minh bạch và trải nghiệm người bệnh để củng cố niềm tin của người dân.
Điều đáng nói là nhiều kỹ thuật mà trước đây người dân phải ra nước ngoài điều trị thì hiện nay các bệnh viện trong nước đã làm chủ được. Nhiều chuyên ngành của Việt Nam đã đạt trình độ tốt trong khu vực, thậm chí có những kỹ thuật rất chuyên sâu được thực hiện thường quy tại các bệnh viện lớn.
Tuy nhiên, trong cạnh tranh dịch vụ y tế, năng lực kỹ thuật chỉ là một phần. Người bệnh còn quan tâm đến thời gian chờ đợi, quy trình tiếp cận, thái độ phục vụ, thông tin chi phí, trải nghiệm riêng tư, cơ sở vật chất, khả năng tư vấn y khoa, quản lý rủi ro và chăm sóc sau điều trị.
Dự thảo Đề án không chỉ đặt mục tiêu thu hút người bệnh quốc tế mà còn nhằm “giữ niềm tin” của người dân Việt Nam đối với hệ thống y tế trong nước.
- Thứ trưởng Trần Văn Thuấn
Vì vậy, dự thảo Đề án không chỉ đặt mục tiêu thu hút người bệnh quốc tế mà còn nhằm “giữ niềm tin” của người dân Việt Nam đối với hệ thống y tế trong nước. Khi người dân Việt Nam có thể tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng cao ngay trong nước với chi phí hợp lý, thông tin minh bạch và trải nghiệm tốt hơn, chúng ta sẽ giảm được dòng chi phí khám, chữa bệnh ra nước ngoài. Nguồn lực đó nếu được giữ lại trong nước sẽ tiếp tục tái đầu tư cho bệnh viện, nhân lực y tế, thiết bị, nghiên cứu, đào tạo và cải tiến chất lượng.
Đây là lợi ích kép của Đề án, vừa nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân Việt Nam, vừa tạo nền tảng để thu hút người bệnh quốc tế. Nói cách khác, muốn đón người bệnh quốc tế đến Việt Nam thì trước hết phải làm cho người dân Việt Nam tin tưởng hơn, hài lòng hơn và tự hào hơn về chính nền y tế của mình.
Nhiều kỹ thuật mà trước đây người dân phải ra nước ngoài điều trị thì hiện nay các bệnh viện trong nước đã làm chủ được.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Đúng là Việt Nam có một số lợi thế rất rõ về chi phí dịch vụ và năng lực chuyên môn, tuy nhiên, lợi thế chỉ trở thành sức hút thực tế khi được chuyển hóa thành niềm tin của người bệnh.
Đối với người bệnh quốc tế, họ không chỉ đặt câu hỏi dịch vụ có rẻ hơn hay không, mà quan trọng hơn là dịch vụ có an toàn không, chất lượng có được kiểm chứng không, thông tin có minh bạch không, đội ngũ chuyên môn có đáng tin cậy không, quy trình điều trị có thuận lợi không, sau điều trị có được theo dõi tiếp không, và khi có tình huống phát sinh thì trách nhiệm thuộc về ai. Vì vậy, phát triển du lịch y tế trước hết là phát triển một hệ sinh thái niềm tin.
Dự thảo Đề án của Bộ Y tế xác định cần tập trung vào một số nhóm giải pháp cụ thể. Trước hết là lựa chọn đúng các dịch vụ mũi nhọn, không phát triển dàn trải. Những dịch vụ đưa ra thị trường quốc tế phải là những dịch vụ mà Việt Nam có năng lực chuyên môn thật, có đội ngũ chuyên gia tốt, có quy trình rõ ràng, có khả năng kiểm soát chất lượng và có thể chuẩn hóa thành các gói dịch vụ minh bạch.
Phát triển du lịch y tế trước hết là phát triển một hệ sinh thái niềm tin.
Tiếp theo là nâng cao khả năng kiểm chứng chất lượng. Cơ sở y tế tham gia du lịch y tế cần công khai rõ phạm vi chuyên môn, năng lực kỹ thuật, đội ngũ chuyên gia, quy trình điều trị, chi phí dự kiến, thời gian lưu trú, khả năng phục hồi, nguy cơ có thể gặp và cơ chế theo dõi sau điều trị, hướng đến đạt những tiêu chuẩn quốc tế công nhận. Người bệnh quốc tế cần được tiếp cận thông tin bằng ngôn ngữ phù hợp, dễ hiểu, chính xác và có trách nhiệm.
Thứ ba là chuẩn hóa hành trình dịch vụ. Một người bệnh quốc tế cần được hỗ trợ từ trước khi đến Việt Nam, trong quá trình điều trị và sau khi trở về nước. Điều này bao gồm tư vấn từ xa, hỗ trợ hồ sơ y tế, nhập cảnh, đặt lịch, phiên dịch y khoa, lưu trú, vận chuyển, thanh toán, bảo hiểm, phục hồi chức năng và tái khám từ xa. Nếu chỉ có chuyên môn tốt nhưng dịch vụ rời rạc, không có đầu mối điều phối, thì rất khó tạo ra trải nghiệm cạnh tranh.
Thứ tư là kết nối với bảo hiểm và các đối tác quốc tế. Về lâu dài, muốn thu hút người bệnh quốc tế một cách bền vững, các cơ sở y tế Việt Nam cần từng bước kết nối với hệ thống bảo hiểm quốc tế, các công ty điều phối y tế, các tổ chức kiểm định chất lượng và mạng lưới chuyên gia quốc tế. Đây là một nội dung khó nhưng rất quan trọng để đưa dịch vụ y tế Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Lợi thế cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam, theo tôi, là sự kết hợp giữa chất lượng chuyên môn ngày càng được nâng cao, chi phí hợp lý, môi trường xã hội an toàn, bản sắc văn hóa giàu tính nhân văn với thiên nhiên ưu đãi và tiềm năng tích hợp giữa y học hiện đại với y học cổ truyền. Đây là lợi thế mà không phải quốc gia nào cũng có. Tuy nhiên, lợi thế bền vững nhất vẫn là chất lượng và niềm tin. Khi người bệnh quốc tế tin rằng đến Việt Nam là an toàn, hiệu quả, minh bạch, được tôn trọng và được chăm sóc chu đáo, khi đó du lịch y tế Việt Nam mới thật sự có sức hút lâu dài.
Những “điều kiện bắt buộc”
để du lịch y tế vận hành
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Du lịch y tế là lĩnh vực liên ngành điển hình. Một ca điều trị cho người bệnh quốc tế không chỉ liên quan đến bệnh viện, mà còn liên quan đến nhập cảnh, ngoại giao, du lịch, hàng không, lưu trú, bảo hiểm, thanh toán quốc tế, phiên dịch, chuyển đổi số, an ninh, truyền thông và quản lý chất lượng dịch vụ. Vì vậy, nếu chỉ ngành y tế làm thì không thể thành công.
Trong đề án Bộ Y tế đang xây dựng cũng xác định rõ cơ chế phối hợp liên ngành đủ mạnh, đủ rõ và đủ linh hoạt. Bộ Y tế sẽ phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong xây dựng sản phẩm du lịch y tế, quảng bá điểm đến và kết nối với hệ sinh thái du lịch. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Ngoại giao và các cơ quan liên quan để nghiên cứu cơ chế tạo thuận lợi về nhập cảnh, lưu trú, xuất nhập cảnh cho người bệnh quốc tế, người đi cùng và các trường hợp cần tái khám, phục hồi sau điều trị. Phối hợp với Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các cơ quan liên quan trong các vấn đề về giá dịch vụ, thanh toán, bảo hiểm, thuế, phí và cơ chế tài chính phù hợp. Phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, các doanh nghiệp công nghệ trong xây dựng nền tảng số, cổng thông tin, kết nối dữ liệu, tư vấn từ xa và quản lý hành trình người bệnh.
Robot phẫu thuật.
Robot phẫu thuật.
Về thị thực y tế, đây là nội dung cần được nghiên cứu kỹ, bảo đảm vừa tạo thuận lợi cho người bệnh quốc tế, vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước. Người bệnh đến khám, chữa bệnh có đặc thù khác với khách du lịch thông thường. Họ có thể cần thời gian lưu trú dài hơn, có người thân đi cùng, có nhu cầu tái khám, phục hồi chức năng hoặc theo dõi sau điều trị. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp, có căn cứ y tế rõ ràng, có xác nhận của cơ sở khám, chữa bệnh và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng.
Bên cạnh đó, để tạo đột phá, cần nghiên cứu thí điểm một số cơ chế đặc thù tại các địa bàn có điều kiện thuận lợi, nhất là những địa phương có tiềm năng phát triển mạnh về du lịch, nghỉ dưỡng, hàng không quốc tế và dịch vụ y tế chất lượng cao như Hà Nôi, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng hay một số đặc khu như Phú Quốc, Vân Đồn hay một số địa bàn phù hợp khác.
Đây có thể là những không gian thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), cho phép thí điểm một số cơ chế mới về thu hút chuyên gia quốc tế, hợp tác công tư, chuyển giao kỹ thuật cao, ứng dụng kỹ thuật mới, thuốc mới, thiết bị y tế mới, cũng như các thủ tục thuận lợi hơn về thị thực, lưu trú, cấp phép lao động, cấp phép hành nghề có thời hạn đối với chuyên gia nước ngoài, trên cơ sở bảo đảm an toàn người bệnh, kiểm soát chất lượng và tuân thủ pháp luật.
Về chuỗi giá trị, mỗi địa phương cần lựa chọn sản phẩm phù hợp với lợi thế thật của mình. Như Hà Nội có lợi thế về các bệnh viện tuyến cuối, chuyên gia đầu ngành, y học cổ truyền, khám sức khỏe chuyên sâu và dịch vụ chất lượng cao. Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế về hệ thống bệnh viện đa dạng, khu vực tư nhân năng động, kết nối quốc tế và nhu cầu dịch vụ lớn. Đà Nẵng có lợi thế về du lịch, lưu trú, nghỉ dưỡng, kết nối hàng không và khả năng phát triển các mô hình chăm sóc sức khỏe kết hợp nghỉ dưỡng...
Điều quan trọng là phải hình thành được chuỗi dịch vụ khép kín như đã phân tích ở trên. Khi các mắt xích này được kết nối chặt chẽ, du lịch y tế mới trở thành một ngành dịch vụ chuyên nghiệp, thay vì chỉ là hoạt động riêng lẻ của từng bệnh viện hoặc từng doanh nghiệp.
Điều quan trọng là phải hình thành được chuỗi dịch vụ khép kín như đã phân tích ở trên. Khi các mắt xích này được kết nối chặt chẽ, du lịch y tế mới trở thành một ngành dịch vụ chuyên nghiệp, thay vì chỉ là hoạt động riêng lẻ của từng bệnh viện hoặc từng doanh nghiệp.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Nâng cao chất lượng bệnh viện là điều kiện tiên quyết để phát triển du lịch y tế. Nhưng cần nói rất rõ: mục tiêu cao nhất của nâng chuẩn bệnh viện không chỉ là để có thêm các chứng nhận quốc tế, mà là để người dân được chăm sóc an toàn hơn, hiệu quả hơn, thuận tiện hơn và nhân văn hơn.
Đối với các bệnh viện công lập, đây vừa là thách thức vừa là cơ hội. Thách thức là bệnh viện công đang chịu áp lực rất lớn về quá tải, nhân lực, cơ sở vật chất, tự chủ tài chính và yêu cầu ngày càng cao của người bệnh. Nhưng cơ hội cũng rất lớn, bởi phần lớn năng lực chuyên môn kỹ thuật cao nhất của đất nước hiện đang tập trung trong hệ thống công lập, đặc biệt là các bệnh viện trung ương và các trung tâm chuyên sâu.
Bộ Y tế dự kiến hỗ trợ các bệnh viện công lập theo một số hướng chính.
Trước hết là tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện của Việt Nam theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện cần được phát triển lên cấp độ cao hơn, không chỉ đánh giá cơ sở vật chất hay quy trình hành chính, mà phải đi sâu vào an toàn người bệnh, quản trị rủi ro, kiểm soát nhiễm khuẩn, sử dụng thuốc an toàn, chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, quản lý dữ liệu, chỉ số kết quả điều trị và văn hóa cải tiến liên tục.
Thứ hai là xây dựng lộ trình phân tầng để các bệnh viện từng bước tiếp cận chuẩn quốc tế. Không phải bệnh viện nào cũng có thể đạt chứng nhận quốc tế ngay, nhưng bệnh viện nào cũng phải có kế hoạch nâng chất lượng. Những bệnh viện có thế mạnh, có năng lực chuyên môn, có đội ngũ quản trị tốt và có định hướng tham gia du lịch y tế cần được lựa chọn làm mô hình tiên phong.
Thứ ba là hỗ trợ đào tạo và phát triển năng lực quản trị bệnh viện. Muốn đạt chuẩn quốc tế không chỉ cần bác sĩ giỏi, mà cần hệ thống quản trị tốt. Giám đốc bệnh viện, trưởng khoa, điều dưỡng trưởng, cán bộ quản lý chất lượng, kiểm soát nhiễm khuẩn, công nghệ thông tin, tài chính, chăm sóc khách hàng đều phải được đào tạo theo tư duy quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu, dựa trên bằng chứng và hướng tới kết quả đầu ra.
Mô hình bệnh viện không giấy tờ giúp nâng cao dịch vụ y tế và tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh.
Mô hình bệnh viện không giấy tờ giúp nâng cao dịch vụ y tế và tiết kiệm chi phí khám chữa bệnh.
Thứ tư là thúc đẩy chuyển đổi số trong bệnh viện. Du lịch y tế đòi hỏi khả năng kết nối thông tin nhanh, chính xác, bảo mật và liên thông. Bệnh viện cần phát triển hồ sơ bệnh án điện tử, đặt lịch trực tuyến, tư vấn từ xa, thanh toán không tiền mặt, dữ liệu chất lượng, hệ thống phản hồi và theo dõi sau điều trị. Đây là điều kiện không thể thiếu nếu muốn phục vụ người bệnh quốc tế.
Thứ năm là từng bước hoàn thiện cơ chế tài chính và dịch vụ theo yêu cầu trong khuôn khổ pháp luật. Các bệnh viện công lập cần có điều kiện để phát triển dịch vụ chất lượng cao, tái đầu tư cơ sở vật chất, thu hút và giữ chân nhân lực chất lượng cao, đồng thời vẫn phải bảo đảm nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ an sinh và phục vụ người bệnh bảo hiểm y tế. Phát triển dịch vụ chất lượng cao không được làm suy giảm trách nhiệm phục vụ nhân dân, mà phải tạo thêm nguồn lực để nâng chất lượng chung của bệnh viện.
Thứ sáu là khuyến khích hợp tác quốc tế, hợp tác công tư và chia sẻ kinh nghiệm giữa các bệnh viện. Những bệnh viện đã tiếp cận hoặc đạt các chứng nhận chất lượng quốc tế cần chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ các bệnh viện khác. Các cơ sở y tế tư nhân có mô hình quản trị tốt cũng cần được kết nối trong một hệ sinh thái chung, bởi du lịch y tế không phân biệt công lập hay ngoài công lập, mà phải lấy chất lượng, an toàn và uy tín làm chuẩn.
Tôi cho rằng quá trình đạt chuẩn quốc tế phải được nhìn nhận như một quá trình nâng cấp thực chất. Chứng nhận là cần thiết, nhưng điều quan trọng hơn là sau chứng nhận, người bệnh có thực sự an toàn hơn không, quy trình có tốt hơn không, nhân viên y tế có chuyên nghiệp hơn không, dữ liệu có minh bạch hơn không và người dân có tin tưởng hơn không. Đó mới là giá trị cốt lõi của phát triển du lịch y tế bền vững.
Thứ trưởng Trần Văn Thuấn: Trong du lịch y tế, bác sĩ giỏi là điều kiện cốt lõi nhưng chưa đủ. Người bệnh quốc tế cần một hành trình chăm sóc trọn vẹn. Họ cần được tư vấn trước khi đến Việt Nam, được hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ y tế, được hướng dẫn thủ tục nhập cảnh, được đón tiếp, phiên dịch, kết nối với bác sĩ, hỗ trợ lưu trú, thanh toán, bảo hiểm, phục hồi chức năng và theo dõi sau điều trị. Nếu không có một lực lượng điều phối chuyên nghiệp, hành trình đó rất dễ bị đứt đoạn.
Vì vậy, việc nghiên cứu xây dựng vị trí điều phối viên du lịch y tế là cần thiết. Đây có thể là cầu nối giữa người bệnh quốc tế với bệnh viện, doanh nghiệp du lịch, cơ sở lưu trú, bảo hiểm, phiên dịch, vận chuyển và các dịch vụ hỗ trợ khác. Điều phối viên không thay thế bác sĩ, nhưng đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý hành trình người bệnh, bảo đảm thông tin thông suốt, giảm rủi ro giao tiếp và nâng cao trải nghiệm dịch vụ.
Theo định hướng của dự thảo Đề án, đội ngũ điều phối viên du lịch y tế cần được chuẩn hóa về ngoại ngữ, giao tiếp y khoa, bảo mật thông tin, xử lý tình huống và phối hợp liên ngành. Đây không chỉ là lực lượng hỗ trợ dịch vụ, mà là cầu nối giữa người bệnh quốc tế với bệnh viện và các đơn vị liên quan trong toàn bộ hành trình chăm sóc. Do người bệnh quốc tế có nhu cầu, tâm lý và rủi ro khác với khách du lịch thông thường, kỹ năng giao tiếp phải rõ ràng, trung thực, nhân văn và có trách nhiệm. Đồng thời, các bệnh viện tham gia du lịch y tế cũng cần nâng cao văn hóa phục vụ cho toàn bộ đội ngũ, bởi trải nghiệm của người bệnh được hình thành từ mọi điểm chạm với cơ sở y tế.
Trong cạnh tranh quốc tế, công nghệ và cơ sở vật chất rất quan trọng, nhưng sự tận tâm, chuyên nghiệp, chuẩn mực và lòng nhân ái của nhân viên y tế mới là điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất.
Tôi đặc biệt nhấn mạnh yếu tố con người. Trong cạnh tranh quốc tế, công nghệ và cơ sở vật chất rất quan trọng, nhưng sự tận tâm, chuyên nghiệp, chuẩn mực và lòng nhân ái của nhân viên y tế mới là điều để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Mỗi bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên điều phối và nhân viên hỗ trợ dịch vụ đều là một đại sứ thương hiệu của y tế Việt Nam.
Xin cảm ơn Thứ trưởng Trần Văn Thuấn!
Loạt bài