Thân thế và sự nghiệp cách mạng

Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng.

Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng.

Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ngày 20/8/1888, trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước tại làng Hòa An, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là phường Long Xuyên, tỉnh An Giang).
Năm 1906, học xong bậc tiểu học, không có điều kiện tiếp tục học bậc trung học, đồng chí quyết định rời quê hương lên Sài Gòn sinh sống và học nghề ở Trường Bách Nghệ, sau làm công nhân một xưởng máy của Hải quân Pháp ở Sài Gòn.
Năm 1912, đồng chí tham gia vào phong trào yêu nước của thợ thuyền và trở thành hạt nhân lãnh đạo các cuộc bãi khóa của học sinh Trường Bách Nghệ; đồng thời, là người tổ chức các cuộc bãi công của công nhân sửa chữa tàu thuỷ ở nhà máy Ba Son.
Giữa năm 1916, đồng chí xuống tàu đi Pháp trong cuộc tổng động viên vào quân đội lính thợ và làm việc trong một chiến hạm của Hải quân Pháp bên bờ Địa Trung Hải. Ngày 20/4/1919, đồng chí tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở Biển Đen, kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm France để phản đối sự can thiệp vũ trang của đế quốc, ủng hộ nước Nga Xô Viết - nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới.
Năm 1920, sau vụ binh biến ở Biển Đen, đồng chí bị buộc phải rời khỏi nước Pháp. Trở về Việt Nam giữa lúc phong trào đấu tranh của công nhân đang phát triển mạnh, đồng chí tiếp tục hướng hoạt động của mình vào giai cấp công nhân. Với mong muốn gây dựng và tổ chức phong trào cách mạng trong lực lượng tiên tiến nhất của xã hội để làm nòng cốt cho các cuộc đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, đồng chí đã cùng những người bạn thân thiết đứng ra thành lập tổ chức Công hội đỏ - tổ chức bí mật đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ Đoàn đại biểu thanh niên 5 xung phong miền nam, do Anh hùng Lực lượng Vũ trang giải phóng Phan Hành Sơn dẫn đầu, ra Hà Nội dự Đại hội Ba sẵn sàng toàn miền bắc, tháng 5/1973.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng gặp gỡ Đoàn đại biểu thanh niên 5 xung phong miền nam, do Anh hùng Lực lượng Vũ trang giải phóng Phan Hành Sơn dẫn đầu, ra Hà Nội dự Đại hội Ba sẵn sàng toàn miền bắc, tháng 5/1973.

Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí được mở ra vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí nhanh chóng gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã nâng lòng yêu nước chân chính của đồng chí lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh vào hoạt động cách mạng.
Năm 1927, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập bắt đầu hoạt động và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin ở Nam Bộ, đồng chí Tôn Đức Thắng đã gia nhập tổ chức này và trở thành một trong những người lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vùng Sài Gòn-Chợ Lớn.
Cuối năm 1929, giữa những ngày hoạt động sôi nổi trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Bộ, đồng chí bị mật thám Pháp bắt, giam và tù đày ở Khám lớn Sài Gòn rồi chuyển sang nhà ngục Côn Đảo. Gần 17 năm bị đọa đầy ở các nhà tù, đồng chí luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường và giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, từ Côn Đảo trở về Sài Gòn đúng vào ngày thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, đồng chí lại hòa mình vào cuộc chiến đấu của đồng bào Nam Bộ, cùng nhân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược.

Hồ Chủ tịch chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất (tháng 7/1960) bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước.

Hồ Chủ tịch chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được Quốc hội khóa II, kỳ họp thứ nhất (tháng 7/1960) bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng thăm và chúc tết cán bộ, công nhân nhà máy điện Yên Phụ, Tết Quý Sửu (năm 1973).

Chủ tịch Tôn Đức Thắng thăm và chúc tết cán bộ, công nhân nhà máy điện Yên Phụ, Tết Quý Sửu (năm 1973).

Ngày 15/10/1945, tại Hội nghị cán bộ Đảng toàn xứ Nam kỳ họp ở Mỹ Tho, đồng chí đã được bầu làm Bí thư Xứ ủy. Ngày 25/10/1945, đồng chí tham dự Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ mở rộng do đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Ban Thường vụ Trung ương Đảng chủ trì. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, trên cương vị của mình đồng chí đã góp phần cùng tập thể Xứ ủy Nam Bộ nêu ra phương hướng chỉ đạo và nhiệm vụ cấp bách cho cuộc chiến đấu ở Nam Bộ. Đồng chí đã cùng với những cán bộ của Đảng đi xuống từng cơ sở xây dựng phong trào, củng cố và phát triển chính quyền cách mạng, xây dựng cơ sở vũ trang, thành lập những khu du kích và đơn vị vũ trang cách mạng, đẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Tháng 12/1945, tại Hội nghị quân sự của Xứ ủy, đồng chí được phân công phụ trách hậu cần cho Ủy ban kháng chiến, chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ.
Ngày 23/12/1945, nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn đã giành thắng lợi lớn trong việc tiến hành cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I. Với sự tín nhiệm cao và lòng quý mến sâu sắc, đồng chí được nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn đồng tâm, nhất trí bầu làm người đại biểu, đại diện cho đồng bào miền nam tham gia vào Quốc hội.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng phát biểu tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IV, tháng 6/1971.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng phát biểu tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa IV, tháng 6/1971.

Tháng 2/1946, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng đồng bào Nam Bộ danh hiệu vẻ vang “Thành đồng Tổ quốc”. Trong thời điểm lịch sử đó, đồng chí được điều động ra Hà Nội để cùng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc.

Thời gian làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí được giao đảm nhiệm nhiều trọng trách: Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Phó Hội trưởng và Hội trưởng Hội Liên-Việt; Bộ trưởng Bộ Nội vụ; Chủ tịch Mặt trận Liên Việt; Trưởng Ban Thường trực Quốc hội; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sau này là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Chủ tịch danh dự Ủy ban Thiếu niên và Nhi đồng Việt Nam.

Dù ở cương vị nào, đồng chí Tôn Đức Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Đảng; hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.

Trên cương vị là Ủy viên Hội đồng hoà bình thế giới, Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt-Xô, đồng chí đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh bảo vệ hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc.
Dù ở cương vị nào, đồng chí Tôn Đức Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất cách mạng, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Đảng; hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Khiêm tốn và giản dị, tình nghĩa và trong sáng là những đức tính quý báu của đồng chí Tôn Đức Thắng.
Dâng hiến cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc và cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng chí Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng của tinh thần cách mạng bất khuất, đạo đức và chí công vô tư. Với công lao và cống hiến to lớn cho Đảng, cho nhân dân, đồng chí là niềm tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam.

Do những cống hiến xuất sắc trong kháng chiến chống thực dân Pháp và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày 20/8/1958, nhân dịp đồng chí tròn 70 tuổi, Đảng, Nhà nước quyết định tặng thưởng Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý của Nhà nước ta. Đồng chí là người đầu tiên được tặng thưởng danh hiệu cao quý này. Trong lời phát biểu tại buổi lễ, đồng chí xúc động nói: "Trong buổi lễ vinh quang này, tôi nghĩ đến thời kỳ tôi còn ấu trĩ, nghĩ đến những lúc khó khăn hiểm nghèo, Đảng đã dìu dắt, giáo dục tôi, nhân dân đã rèn luyện và giúp đỡ tôi để có được ngày hôm nay”.

Sau một thời gian lâm bệnh nặng, ngày 30/3/1980 đồng chí trút hơi thở cuối cùng tại Viện Quân y 108 - Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

Dâng hiến cả cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc và cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng chí là tấm gương sáng của tinh thần cách mạng bất khuất, đạo đức và chí công vô tư. Với công lao và cống hiến to lớn cho Đảng, cho nhân dân, đồng chí là niềm tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huân chương Sao Vàng cho đồng chí Tôn Đức Thắng (tháng 8/1958).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huân chương Sao Vàng cho đồng chí Tôn Đức Thắng (tháng 8/1958).

Những cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng cho hoạt động của Quốc hội Việt Nam

Ngày 2/3/1946, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá I đã quyết định bầu Ban Thường trực gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết để giúp Quốc hội giải quyết mọi công việc. Nhưng do thành viên Ban Thường trực chưa có đại biểu Nam Bộ, nên ngay sau kỳ họp, Ban Thường trực đã được bổ sung thêm 4 đại biểu và đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu bổ sung làm ủy viên chính thức Ban Thường trực Quốc hội.

Đầu năm 1946, tình hình đất nước cực kỳ khó khăn, vận mệnh Tổ quốc như “nghìn cân treo sợi tóc”. Chủ trương của Đảng lúc này là phải ra sức củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc làm động lực cho cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược; đồng thời đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhằm đề cao chính nghĩa của cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Tháng 11/1973, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến thăm liên đội tự vệ khu phố K và T (nay thuộc hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng) Hà Nội, đơn vị chiến đấu dũng cảm bắn rơi một máy bay F.111 của Mỹ đêm 22/12/1972.

Tháng 11/1973, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã đến thăm liên đội tự vệ khu phố K và T (nay thuộc hai quận Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng) Hà Nội, đơn vị chiến đấu dũng cảm bắn rơi một máy bay F.111 của Mỹ đêm 22/12/1972.

Do tình thế đặc biệt cấp bách về ngoại giao, nhất là sau khi Hiệp ước Pháp-Hoa được ký kết (ngày 28/2/1946), Chính phủ Việt Nam quyết định mở cuộc đàm phán với đại diện của Chính phủ Pháp, mục đích “giảng hòa với Pháp nhằm giành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới…”. Thể theo đề nghị của Chính phủ, giữa tháng 4/1946, Ban Thường trực Quốc hội đã tổ chức một phái đoàn gồm 10 đại biểu do đồng chí Phạm Văn Đồng, Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội dẫn đầu sang thăm Pháp. Là đại biểu đại diện cho đồng bào Nam Bộ, đồng chí Tôn Đức Thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Thường vụ Trung ương Đảng cử tham gia phái đoàn với tư cách là Phó Trưởng đoàn Quốc hội.

Lần thứ hai trong đời đặt chân lên đất Pháp, đồng chí đã cùng đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam gặp gỡ thân mật với các chính giới để gây mối thiện cảm giữa 2 dân tộc Việt-Pháp; đồng thời làm cho số đông chính khách Pháp, nhất là nhân dân Pháp hiểu rõ cuộc đấu tranh vì độc lập của Việt Nam và mong muốn quan hệ giữa hai dân tộc Việt-Pháp được thân thiện trên nền tảng thừa nhận ý nguyện về độc lập và thống nhất của Việt Nam.

Ngày 28/10/1946, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I khai mạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã bàn và nhất trí tán thành đường lối, chính sách của Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; phê chuẩn bản Tạm ước ngày 14/9 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Chính phủ Pháp. Đồng chí và đoàn đại biểu Nam Bộ đã đề nghị Quốc hội và được toàn thể Quốc hội nhất trí thông qua việc suy tôn Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người công dân số 1 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vì đã lãnh đạo nhân dân xoá bỏ xiềng xích của thực dân, phong kiến. Đồng chí đã cùng Quốc hội nhất trí thông qua Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chính thức xác nhận các quyền làm chủ và nghĩa vụ của nhân dân.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói chuyện với cử tri Nguyễn Thị Bình (18 tuổi), lần đầu tiên tham gia bầu cử tại Hội đồng nhân dân các cấp tại khu vực bỏ phiếu số 14, đơn vị bầu cử 2, khu phố Ba Đình, Hà Nội, tháng 5/1977.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói chuyện với cử tri Nguyễn Thị Bình (18 tuổi), lần đầu tiên tham gia bầu cử tại Hội đồng nhân dân các cấp tại khu vực bỏ phiếu số 14, đơn vị bầu cử 2, khu phố Ba Đình, Hà Nội, tháng 5/1977.

Trong thời gian diễn ra Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa I, với tư cách là Trưởng đoàn Chủ tịch của kỳ họp và Phó Hội trưởng Hội Liên Việt, đồng chí đã đưa vấn đề nhìn nhận Đạo Cao Đài là đạo chính thức để các đại biểu thảo luận. Kết quả là các đại biểu Quốc hội đã nhất trí tán thành việc Đạo Cao Đài được tự do hoạt động như các đạo khác. Ngày 9/11/1946, tại phiên bế mạc kỳ họp, Quốc hội đã thảo luận sôi nổi về nhiệm vụ của Ban Thường trực Quốc hội và đã nhất trí thông qua danh sách Ban Thường trực Quốc hội gồm 18 vị, trong đó có tên đồng chí.

Ngày 11/11/1946, ngay sau kỳ họp, Ban Thường trực Quốc hội đã họp để bầu ra Ban Thường vụ, đồng chí Tôn Đức Thắng vinh dự được bầu làm Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.

Cuối tháng 11/1946, nguy cơ cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đang đến gần, theo tinh thần “Công việc khẩn cấp bây giờ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thường vụ Trung ương Đảng quyết định cử một phái đoàn của Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận Liên Việt đi về địa phương làm công tác dân vận. Đồng chí Tôn Đức Thắng được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử thay mặt Quốc hội đi hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây là địa bàn hoạt động trước mắt của Chính phủ và Trung ương. Tại đây, đồng chí đã tổ chức nói chuyện với nhân dân địa phương về tình hình nhiệm vụ trước mắt của nước nhà, về cuộc kháng chiến toàn quốc chuẩn bị xảy ra sẽ lâu dài và gian khổ. Bằng những lời lẽ chân thành và giản dị có sức thuyết phục, đồng chí đã động viên nhân dân đoàn kết chặt chẽ, sẵn sàng chiến đấu và quyết tâm chiến đấu cho đến thắng lợi cuối cùng.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng hỏi thăm cụ Nguyễn Thị Hun (Hợp tác xã Việt Trung, ngoại thành Hà Nội), 77 tuổi, có 1 con và 1 cháu đang tham gia kháng chiến chống Mỹ, năm 1970.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng hỏi thăm cụ Nguyễn Thị Hun (Hợp tác xã Việt Trung, ngoại thành Hà Nội), 77 tuổi, có 1 con và 1 cháu đang tham gia kháng chiến chống Mỹ, năm 1970.

Cuối năm 1946, trước hành động bội ước của thực dân Pháp, trong hai ngày 18 và 19/12/1946, tại làng Vạn Phúc, Hà Đông dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị mở rộng để cùng thống nhất chủ trương phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên phạm vi cả nước. Thay mặt Quốc hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn và Phó Trưởng Ban Thường trực Phạm Bá Trực tham dự hội nghị.
Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Để sự lãnh đạo và điều hành được tập trung thống nhất, Quốc hội đã giao quyền bính tập trung vào Chính phủ. Lúc này, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn và đồng chí Tôn Đức Thắng đã luôn sát cánh cùng Chính phủ để bàn bạc, tham gia ý kiến trong mọi công tác kháng chiến.
Tháng 11/1948, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn ốm phải đi nghỉ dưỡng bệnh, đồng chí được giao Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, thay mặt toàn Ban giải quyết công việc hàng ngày và giữ liên lạc với Chính phủ. Thời kỳ này đồng chí cùng Ban Thường trực Quốc hội luôn ở cạnh Hội đồng Chính phủ, theo dõi và chỉ đạo cuộc kháng chiến.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công, ngày 19/12/1950 nhân dịp kỷ niệm 4 năm Ngày toàn quốc kháng chiến, trên cương vị Quyền Trưởng Ban Thường trực, đồng chí đã thay mặt Quốc hội đọc Lời hiệu triệu, kêu gọi đồng bào: “Ở tiền tuyến, ở hậu phương, ở trong nước, ở ngoài nước, già, trẻ, gái, trai, không kể tôn giáo gì, chính kiến gì, đều phải thi đua bằng mọi cách để giết giặc cứu nước, để giải phóng cho dân tộc và góp phần vào sự nghiệp xây dựng hòa bình chung của thế giới”.

Bước sang năm 1951, cục diện chiến tranh ở Đông Dương và Việt Nam có những biến đổi quan trọng. Căn cứ vào các nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ và yêu cầu cấp bách của việc bồi dưỡng sức dân, củng cố hậu phương, chi viện cho tiền tuyến. Theo đề nghị của Chính phủ, ngày 20/2/1953 Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Mặt trận Liên Việt toàn quốc được triệu tập để thảo luận bản đề án “Phóng tay phát động quần chúng, triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức” của Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự chủ trì của đồng chí Tôn Đức Thắng, Hội nghị đã nhanh chóng nhất trí với bản đề án của Đảng và ra Lời hiệu triệu quốc dân tích cực thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng và Chính phủ.

Đồng chí Tôn Đức Thắng và cán bộ, chiến sỹ đơn vị X, Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Mậu Thân 1968.

Đồng chí Tôn Đức Thắng và cán bộ, chiến sỹ đơn vị X, Cảnh sát nhân dân Hà Nội nhân dịp Tết Mậu Thân 1968.

Tháng 11/1953, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất của Đảng đã nhất trí thông qua Cương lĩnh ruộng đất và quyết định tiến hành cải cách ruộng đất. Để thực hiện nhiệm vụ lịch sử đó, từ ngày 1 đến 4/12/1953 Ban Thường trực Quốc hội đã quyết định triệu tập Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá I tại chiến khu Việt Bắc.
Trong diễn văn khai mạc kỳ họp, Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng đã nêu rõ hoàn cảnh họp Quốc hội và mục đích của kỳ họp là để thông qua Dự án Luật Cải cách ruộng đất do Chính phủ để ra; đồng thời khẳng định: đó là một quyết sách để bảo đảm cho kháng chiến thắng lợi, là một nhiệm vụ căn bản của cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.
Ngày 4/12/1953, toàn thể Quốc hội đã nhất trí biểu quyết tán thành thông qua Luật Cải cách ruộng đất. Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện triệt để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Trên cương vị Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần quan trọng vào thành công của kỳ họp, cùng Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ chuẩn bị những điều kiện cơ bản để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

Trên cương vị Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần quan trọng vào thành công của kỳ họp, cùng Ban Thường trực Quốc hội và Chính phủ chuẩn bị những điều kiện cơ bản để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi.

Ngày 21/7/1954, Hiệp định Geneva được ký kết, vì chưa đủ điều kiện để triệu tập họp Quốc hội, thay mặt Ban Thường trực đồng chí đã ra Lời kêu gọi gửi đồng bào toàn quốc. Trong nội dung Lời kêu gọi, đồng chí đã nhận định những bước đường thắng lợi đã qua và kêu gọi đồng bào toàn quốc cùng nhau đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm nhất trí thực hiện những nhiệm vụ do tình hình mới đặt ra, đó là: củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ.
Sau khi hòa bình được lập lại, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội đã trở về Thủ đô tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ, hoàn thành thống nhất nước nhà. Điều kiện cho phép, với tư cách Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị nội dung cho Kỳ họp thứ 4 (tháng 3/1955) và Kỳ họp thứ 5 (tháng 9/1955) của Quốc hội khoá I.
Ngày 20/9/1955, tại Kỳ họp thứ 5, ngoài việc quyết định một số vấn đề về tổ chức bộ máy nhà nước, quy định thống nhất về Quốc ca, Quốc kỳ và Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Quốc hội đã nhất trí bầu đồng chí giữ chức Trưởng Ban Thường trực Quốc hội thay cho cụ Bùi Bằng Đoàn đã từ trần ngày 13/4/1955.

Đồng chí Tôn Đức Thắng và các đại biểu tham gia kỳ họp lần 4 của Ban Thường trực Quốc hội khóa I, năm 1955.

Đồng chí Tôn Đức Thắng và các đại biểu tham gia kỳ họp lần 4 của Ban Thường trực Quốc hội khóa I, năm 1955.

Hoạt động trong hoàn cảnh hoà bình, từ năm 1955 đến năm 1960, Quốc hội có nhiều thuận lợi để triển khai ngày càng sâu rộng các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đồng chí đã tham gia chỉ đạo soạn thảo và công bố nhiều đạo luật quan trọng, trong đó có Hiến pháp năm 1959, góp phần thực hiện có hiệu lực chức năng của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đồng chí còn tham gia nhiều ý kiến cùng Trung ương Đảng và Chính phủ ban hành các chính sách phục vụ đắc lực công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc, góp sức chi viện cho cuộc kháng chiến của đồng bào miền nam.

Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia chỉ đạo soạn thảo và công bố nhiều đạo luật quan trọng, trong đó có Hiến pháp năm 1959, góp phần thực hiện có hiệu lực chức năng của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những năm đầu khi hoà bình lập lại, đồng chí là một trong những người có vai trò quan trọng cùng Quốc hội thông qua các kế hoạch khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, đưa miền bắc tiến dần từng bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Trung ương kiểm tra tình hình chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa II tại Thái Nguyên ngày 27/4/1960.

Đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hội đồng bầu cử Trung ương kiểm tra tình hình chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa II tại Thái Nguyên ngày 27/4/1960.

Bước vào đầu năm 1960, miền bắc đã giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, đời sống, an ninh quốc phòng. Cách mạng trên cả hai miền nam-bắc giành được những thắng lợi ngày càng lớn. Hoàn cảnh mới của đất nước trên cả hai miền đòi hỏi phải bầu Quốc hội mới; bởi vì, Quốc hội khoá I do Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 bầu ra là Quốc hội đoàn kết thống nhất dân tộc, Quốc hội kháng chiến đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử do Tổ quốc giao phó.

Ngày 16/2/1960, Ban Thường trực Quốc hội đã quyết định chọn ngày 8/5/1960 là ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khoá II trên toàn miền bắc. Là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí đã lãnh đạo, vận động các ngành các cấp tham gia bầu cử và giới thiệu những người ưu tú ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đóng góp một phần quan trọng cho thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội khóa II.

Là Trưởng Ban Thường trực Quốc hội và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng đã lãnh đạo, vận động các ngành các cấp tham gia bầu cử và giới thiệu những người ưu tú ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đóng góp một phần quan trọng cho thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội khóa II.

Do được chuẩn bị chu đáo, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa II đã thành công rực rỡ. Thực hiện điều 46 của Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 6/7/1960 Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa II được khai mạc tại Hà Nội. Trong diễn băn khai mạc, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng đã nhận định: “Kỳ họp Quốc hội này giải quyết những vấn đề rất căn bản để kiện toàn Nhà nước ta, đáp ứng một yêu cầu hết sức thiết yếu của cách mạng”.

Cùng với việc thông qua các đạo luật cơ bản về tổ chức nhà nước là Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Quốc hội đã bầu những người đứng đầu các cơ quan cao nhất của Nhà nước và thành lập Chính phủ mới. Ngày 15/7/1960, đồng chí vinh dự được Quốc hội bầu giữ chức Phó Chủ tịch nước.

Tháng 8/1958, Ủy ban giải thưởng hòa bình Quốc tế Lê-nin trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Giải thưởng hòa bình Quốc tế Lê-nin nhân dịp đồng chí tròn 70 tuổi. Trong ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được nhận giải thưởng.

Tháng 8/1958, Ủy ban giải thưởng hòa bình Quốc tế Lê-nin trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Giải thưởng hòa bình Quốc tế Lê-nin nhân dịp đồng chí tròn 70 tuổi. Trong ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng được nhận giải thưởng.

Năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá III (ngày 22/9/1969) đồng chí Tôn Đức Thắng đã được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Khi nhận trách nhiệm này đồng chí đã phát biểu cảm ơn sự tín nhiệm của Quốc hội và hứa sẽ cố gắng hết sức làm tròn trọng trách Quốc hội giao phó, không sợ hy sinh gian khổ, luôn kề vai sát cánh cùng đồng bào miền nam thực hiện lời di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, bảo vệ và xây dựng miền bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền nam, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.

Ngay sau ngày giải phóng miền nam thống nhất đất nước, đồng chí lại bận rộn cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuẩn bị tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước để bầu ra Quốc hội chung thống nhất. Ngày 25/4/1976, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI đã thành công tốt đẹp. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Hà Nội là thủ đô của cả nước; thành phố Sài Gòn được chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đánh giá đúng công lao và những đóng góp to lớn của đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước, đồng chí đã được Quốc hội nhất trí bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói chuyện với đại biểu dự Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IV (tháng 2/1973), tại Hội trường Ba Đình.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói chuyện với đại biểu dự Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa IV (tháng 2/1973), tại Hội trường Ba Đình.

Được nhân dân tín nhiệm, đồng chí Tôn Đức Thắng liên tục được bầu làm đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VI. Trong thời gian giữ cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I (từ năm 1955 đến năm 1960), đồng chí đã có những đóng góp quan trọng đối với hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đồng chí đã cùng tập thể Ban Thường trực Quốc hội tổ chức triển khai thực hiện Hiến pháp năm 1946, xây dựng Hiến pháp năm 1959 góp phần củng cố bộ máy nhà nước, tăng cường công tác giám sát, phối hợp chặt chẽ với Chính phủ trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, duy trì sự ổn định và liên tục trong hoạt động của Quốc hội, bảo đảm vai trò của Quốc hội trong quản lý đất nước, xây dựng nền dân chủ mới, thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa Quốc hội và Chính phủ.

Với phẩm chất cách mạng mẫu mực, lối sống giản dị, gần gũi với nhân dân, đồng chí là hình mẫu người đại biểu Quốc hội gương mẫu, đại diện tiêu biểu của giai cấp công nhân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những đóng góp của đồng chí đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định vai trò, vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, đồng thời đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong các nhiệm kỳ tiếp theo.

Với phẩm chất cách mạng mẫu mực, lối sống giản dị, gần gũi với nhân dân, đồng chí Tôn Đức Thắng là hình mẫu người đại biểu Quốc hội gương mẫu, đại diện tiêu biểu của giai cấp công nhân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Những đóng góp của đồng chí đã góp phần quan trọng vào việc khẳng định vai trò, vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước dân chủ nhân dân, đồng thời đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong các nhiệm kỳ tiếp theo.

Chủ tịch Tôn Đức Thắng thăm các cháu nhà trẻ 20/10 Hà Nội nhân dịp Tết Trung thu của thiếu nhi năm 1977.

Ngày xuất bản: 12/3/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: HẢO THI - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh: TTXVN, Bảo tàng lịch sử Quốc gia