Từ một vị quan thanh liêm của triều đình phong kiến đến Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I, cụ Bùi Bằng Đoàn đã trọn đời tận tụy cống hiến vì nước, vì dân. Đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng kháng chiến cam go, cụ để lại dấu ấn sâu đậm trong xây dựng Nhà nước và Quốc hội non trẻ của nước Việt Nam độc lập.

Thân thế và sự nghiệp cách mạng

Cụ Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 17/8/1889 trong một gia đình nho học tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Đông (nay là xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội) - làng quê nổi danh bởi truyền thống văn hiến, với những danh nhân khoa bảng được ghi tên trong sử sách nước nhà.
Cụ đỗ cử nhân năm 1906. Năm 1911, cụ được bổ làm Tri huyện rồi Tuần phủ các tỉnh Cao bằng, Ninh Bình. Năm 1933, làm Thượng thư Bộ hình (Tư pháp); đồng thời tham gia Viện Cơ mật của triều đình Huế.
Trong thời gian làm quan đại thần của triều đình Huế, cụ nổi tiếng là ông quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân. Cụ được Nhà vua tín nhiệm, các quan trong triều kính trọng, ngưỡng mộ, nhân dân kính trọng và tin cậy.
Trên cương vị Thượng thư Bộ hình, cụ đã có công lớn trong việc cải cách tư pháp, sửa đổi luật pháp, bãi bỏ nhiều quy định lỗi thời của hệ thống tư pháp cổ xưa trên 17 tỉnh, đạo thuộc Trung kỳ. Cụ đã tấu trình và được Nhà vua chấp thuận việc biên soạn, ban hành một số đạo luật mới có nội dung tiến bộ; đồng thời tổ chức các Tòa án và quy định cơ chế tư pháp tân tiến; lựa chọn, đào tạo thẩm phán và đội ngũ nhân viên chuyên môn… sau này, nhiều người được tiếp tục phục vụ trong các cơ quan pháp luật của cách mạng.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ thân Nhật, cụ đã cáo quan về sống ở quê nhà. Cụ được bà con hàng xóm quý mến bởi đức độ, tác phong giản dị, gần gũi quần chúng. Ở thời điểm “đêm trước” của cuộc cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc, gặp gỡ và mời cụ tham gia cuộc vận động khởi nghĩa. Cụ đã đến với Việt minh, đến với cách mạng một cách tự nhiên như phẩm chất vốn có trong con người cụ.

Cụ Bùi Bằng Ðoàn (Ảnh chụp tại Huế năm 1942).

Cụ Bùi Bằng Ðoàn (Ảnh chụp tại Huế năm 1942).

Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong việc hưng lợi trừ hại cho nước nhà, dân tộc…
Trích thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời cụ Bùi Bằng Đoàn ra gánh vác việc nước.
Cách mạng Tháng tám năm 1945 thành công đã làm nức lòng nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới. Trong bối cảnh đó, những người yêu nước thương dân và giàu tài năng, đức độ lại có uy tín trong xã hội như cụ có dịp thể hiện và có cơ hội để cống hiến cho dân, cho nước.
Ngày 2/9/1945, cụ được mời tham dự lễ Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình. Tại buổi lễ, cụ đã gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, kính phục đạo đức, tài năng của Người, cụ hoàn toàn tin tưởng vào vận mệnh nước nhà.
Ngày 17/11/1945, cụ nhận được thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ra gánh vác việc nước. Bức thư do chính tay Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy có đoạn: “Tôi tài đức ít ỏi, mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Ngài học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú. Vậy nên, tôi mời Ngài Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong việc hưng lợi trừ hại cho nước nhà, dân tộc…”.
Từ một ông quan thanh liêm, chính trực, làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức rõ đường lối cách mạng và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ lại rời quê dấn thân vào con đường cách mạng. Tham gia chính quyền mới, cụ được cử vào Ủy ban Kiến thiết quốc gia, rồi cử làm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ.

Tuy mới tham gia hoạt động trong chính quyền cách mạng, nhưng cụ đã chứng tỏ là một trí thức có trí tuệ và rất nhạy bén với công việc. Từ kinh nghiệm và thực tiễn, cụ đã đúc kết để xây dựng thành những điều luật giúp Ban Thanh tra đặc biệt giải quyết các vụ việc oan trái được nhanh chóng. Cụ là một trong những thành viên của Ban Thanh tra đặc biệt đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng tư tưởng thanh tra nhân dân, thanh tra cách mạng của Nhà nước Việt Nam.

Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, cụ đã trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I của tỉnh Hà Đông. Tại Kỳ họp đầu tiên ngày 2/3/1946, cụ Bùi Bằng Đoàn được bầu làm ủy viên chính thức của Ban Thường trực Quốc hội.

Tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I (tháng 11/1946) theo sự giới thiệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ được bầu giữ chức Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.

Ngày 8/5/1946, Hội nghị thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên-Việt hay Mặt trận Liên-Việt) được tổ chức tại Hà Nội nhằm thu hút các thành viên trong các đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, cụ là một trong những thành viên tham gia sáng lập Hội.

Ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cụ được Ban Thường trực Quốc hội ủy nhiệm ở bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ để góp ý kiến với Chính phủ trong mọi công tác kháng chiến. Từ đây, mối liên hệ giữa Chính phủ với Quốc hội ngày càng mật thiết và khăng khít.

Sắc lệnh số 80 ngày 31/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cử ông Bùi Bằng Đoàn và ông Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt.

Sắc lệnh số 80 ngày 31/12/1945 của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc cử ông Bùi Bằng Đoàn và ông Cù Huy Cận vào Ban Thanh tra đặc biệt.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tôn trọng Ban Thường trực Quốc hội và tạo mọi điều kiện để Ban Thường trực làm tròn nhiệm vụ mà Quốc hội giao phó. Mỗi dự thảo sắc luật trước khi Hội đồng Chính phủ thông qua đều được gửi xin ý kiến Ban Thường trực Quốc hội. Mỗi lần Hội đồng Chính phủ họp đều có sự tham dự của cụ Bùi Bằng Đoàn ngồi bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước khi kết luận về một vấn đề gì, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hỏi ý kiến cụ Bùi. Có lần, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội đồng Chính phủ phải hoãn một kỳ họp vì cụ Bùi Bằng Đoàn đi vắng.

Cụ Bùi Bằng Đoàn (bên phải), cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Định Hóa, Thái Nguyên.

Cụ Bùi Bằng Đoàn (bên phải), cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Định Hóa, Thái Nguyên.

Giữa năm 1948, cụ Bùi Bằng Đoàn lâm bệnh không thể làm việc được, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng quyết định đưa cụ từ chiến khu Việt Bắc về vùng tự do Liên khu III (tỉnh Ninh Bình), rồi Liên khu IV (tỉnh Thanh Hóa) để chữa bệnh. Tuy xa Trung ương, xa Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng cụ vẫn thường xuyên liên hệ với chiến khu, vẫn thư từ và góp ý cho Trung ương và Chính phủ về những vấn đề mà cụ quan tâm. Thỉnh thoảng cụ vẫn trả lời phỏng vấn hoặc viết báo để động viên quân, dân tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Hòa bình lập lại, cụ Bùi Bằng Đoàn được đưa về dưỡng bệnh tại bệnh viện Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân y 108). Do tuổi cao, sức yếu, bệnh tình ngày càng trầm trọng, cụ từ trần ngày 13/4/1955, hưởng thọ 66 tuổi. Tang lễ của cụ được cử hành trọng thể tại quê hương cụ, làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội). Ghi nhận công lao và đóng góp của cụ cho sự nghiệp cách mạng, Hội đồng Chính phủ đã truy tặng cụ Huân chương Độc lập hạng Nhất.

Những đóng góp của Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn đối với hoạt động của Quốc hội Việt Nam

Đầu tháng 12/1946, bất chấp những thỏa thuận đã ký với Chính phủ Việt Nam, thực dân Pháp đã không ngừng tăng thêm lực lượng cả về quân số và vũ khí, ngang nhiên đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn, gây hấn ở Hà Nội. Tình thế rất khẩn trương đòi hỏi phải có một quyết định chiến lược, một quốc sách có ý nghĩa quan hệ đến vận mệnh của Tổ quốc, đến tự do của nhân dân và chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam. Chiểu theo Điều 38 của Hiến pháp năm 1946 “Khi Nghị viện không họp được, Ban Thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã báo cáo Hội đồng Chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội để thống nhất quyết định phát động cuộc kháng chiến chống xâm lược trong cả nước.

Sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc chính thức bắt đầu, cuối tháng 12/1946 Ban Thường trực Quốc hội đã nhóm họp toàn thể với gần như đầy đủ các thành viên của Ban tại địa điểm sơ tán, đó chính là ngôi nhà của Trưởng Ban Thường trực Bùi Bằng Đoàn. Tại cuộc họp, Ban Thường trực đã bàn bạc và đi đến quyết định:

1. Trong thời kỳ kháng chiến, vì tình thế khó khăn nên chỉ có Trưởng Ban Thường trực Quốc hội ở cùng với Chính phủ để giúp và theo dõi đường lối chính trị, cùng với Chính phủ chỉ đạo cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện;

2. Các đại biểu Quốc hội sẽ tủy năng lực và địa vị mà tham gia vào mọi công tác kháng chiến;

3. Ban Thường trực thay mặt toàn thể Quốc hội hiệu triệu và nhận các ý nguyện của nhân dân, sửa soạn triệu tập Quốc hội.

Theo quyết định trên, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn đã luôn luôn ở bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và tham dự các cuộc họp của Hội đồng Chính phủ để góp ý kiến với Chính phủ và giám sát các hoạt động của Chính phủ trong mọi công tác kháng chiến.

Tiết mục văn nghệ tái hiện lịch sử tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Tiết mục văn nghệ tái hiện lịch sử tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Trong những ngày ở chiến khu Việt Bắc (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), cụ Bùi Bằng Đoàn đã không phụ lòng tin của Quốc hội và nhân dân cả nước. Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, cụ đã cùng Hội đồng Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách nhằm thực hiện nhiệm vụ kháng chiến trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, cụ Bùi Bằng Đoàn đã cùng Hội đồng Chính phủ đề ra các chủ trương, chính sách nhằm thực hiện nhiệm vụ kháng chiến trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội.

Là một nhà trí thức, nhà nho lớn, cụ thường xuyên trả lời phỏng vấn của các nhà báo về những vấn đề trọng đại của đất nước, đặc biệt là vấn đề chủ quyền của Việt Nam. Khi được các nhà báo hỏi về tinh thần chiến đấu của quân dân cả nước, cụ đã trả lời: “tại khắp các mặt trận, bộ đội ta kháng chiến cực kỳ anh dũng. Ai nấy đều cương quyết và giàu lòng hy sinh, vừa anh dũng, vừa kiên nhẫn. Tinh thần dân chúng ở hậu phương cũng rất cao; không cứ già hay trẻ, trai hay gái, lương hay giáo, giàu hay nghèo, đồng bào đa số hay thiểu số, ai nấy đều đồng tâm nỗ lực, tuỳ khả năng, tuỳ hoàn cảnh, góp sức vào cuộc kháng chiến là vì chính nghĩa, là vì công lý, là để giữ chủ quyền của dân tộc, là để bảo vệ lãnh thổ cho Tổ quốc, là để giữ quyền tự do của đồng bào”.

Lời khẳng định đanh thép của cụ được truyền đi trên các đài, báo lúc đó đã làm nức lòng nhân dân cả nước, khơi dậy lòng dũng cảm, niềm khát khao cháy bỏng nền độc lập tự do của dân tộc. Niềm tin chiến thắng đã được cụ nói thay cho những chiến sĩ đang chiến đấu trên khắp các chiến trường.

Cụ Bùi Bằng Đoàn đã có nhiều ý kiến đóng góp cùng Ban Thường trực Quốc hội sắp xếp lại tổ chức và điều hành mọi hoạt động của Quốc hội nhằm triển khai công việc kiến quốc theo chủ trương của Đảng và nguyện vọng của nhân dân.

Tháng 8/1948, cụ Bùi Bằng Đoàn lâm bệnh nặng phải về chữa bệnh ở vùng tự do Liên khu III, rồi Liên khu IV, mọi công việc điều hành Ban Thường trực Quốc hội được giao lại cho cụ Tôn Đức Thắng - Phó Trưởng Ban Thường trực. Tuy nghỉ dưỡng bệnh, nhưng cụ vẫn theo dõi tình hình quốc tế và trong nước, cụ thường xuyên gửi thư thăm hỏi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội và đóng góp nhiều ý kiến mưu lợi ích cho nhân dân.

Hiệp định Geneva được ký kết, ngày 10/10/1954 Thủ đô Hà Nội hoàn toàn giải phóng, cụ trở về Hà Nội trong sự đón tiếp nồng nhiệt của Trung ương Đảng, Chính phủ và Quốc hội. Thời gian này, công việc của Quốc hội cũng như công việc của các cơ quan trung ương và địa phương rất bề bộn, với trách nhiệm của mình, cụ đã có nhiều ý kiến đóng góp cùng Ban Thường trực Quốc hội sắp xếp lại tổ chức và điều hành mọi hoạt động của Quốc hội nhằm triển khai công việc kiến quốc theo chủ trương của Đảng và nguyện vọng của nhân dân.

Cụ Bùi Bằng Đoàn - một nhà trí thức, một nhà nho lớn có công với cách mạng đã đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng Nhà nước, xây dựng Quốc hội từ khóa đầu tiên. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của cụ là cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân lịch sử và văn hóa có nhân cách lớn ở nước ta.

Tiết mục văn nghệ tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Tiết mục văn nghệ tại Lễ kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Tháng 3/1955, Quốc hội họp kỳ thứ tư tại Hà Nội, cụ Bùi Bằng Đoàn đã gửi đến Quốc hội và đồng bào cả nước bức thư với nội dung như sau:

Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn.

Kính gửi Quốc hội,

Kính gửi đồng bào cả nước,

Sau 8, 9 năm kháng chiến, lần đầu tiên Quốc hội họp ở thủ đô, trong hoàn cảnh hòa bình để thảo luận những việc quan hệ đến tương lai của dân tộc.

Tiếc rằng vì đau yếu không thể tới dự đại hội được, tôi xin tỏ bày mấy ý kiến:

Quốc hội ta do phổ thông đầu phiếu của nhân dân từ nam chí bắc bầu ra là tiêu biểu cho nền thống nhất nước nhà. Nhờ sự đấu tranh anh dũng của quân và dân ta, chúng ta đã giành lại hòa bình. Nhưng hòa bình chưa được củng cố; nước ta còn tạm chia thành hai vùng. Nhân dân ta sẽ bền bỉ đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử tự do thống nhất nước nhà, thống nhất lãnh thổ.

Đồng bào ta phải đoàn kết chặt chẽ, không phân biệt tôn giáo, tầng lớp, chủng tộc. Đồng bào miền bắc sống trong hòa bình lo hàn gắn những vết thương chiến tranh, không bao giờ quên anh em ruột thịt của chúng ta ở miền nam đang tiếp tục đấu tranh gian khổ và anh dũng. Đồng bào miền nam đang hướng về Hồ Chủ tịch và Chính phủ trung ương, quyết phấn đấu đến cùng để đồng bào toàn quốc giữ gìn hòa bình, thực hiện thống nhất.

Nhiệm vụ toàn dân lúc này rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang. Trong cuộc đấu tranh vĩ đại của toàn dân, các vị lão thành, các vị nhân sĩ trí thức, các vị lãnh đạo các tôn giáo đã góp phần xứng đáng. Tôi mong các vị sẽ cố gắng hơn nữa.

Tôi thiết tha kêu gọi các vị đại biểu Quốc hội, các vị nhân sĩ trí thức, toàn thể quân đội và đồng bào đoàn kết chặt chẽ dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, kiên quyết đấu tranh củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc”.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dâng hương, tưởng nhớ Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn ngày 27/1/2026 tại Khu lưu niệm ở xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dâng hương, tưởng nhớ Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Bùi Bằng Đoàn ngày 27/1/2026 tại Khu lưu niệm ở xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.

Do tuổi cao, sức yếu, bệnh tình của cụ ngày càng trầm trọng, mặc dù đã được các bác sĩ tận tình cứu chữa, nhưng cụ không qua khỏi. Cụ từ trần ngày 13/4/1955. Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã tổ chức trọng thể lễ tang cụ tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông.

Ngày 15/9/1955, trong diễn văn khai mạc Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa I, Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng đã có lời thương tiếc cụ như sau: “Tất cả chúng ta hết sức tiếc nhớ cụ Bùi Bằng Đoàn, đại biểu tỉnh Hà Đông và Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đã tạ thế ngày 13/4/1955. Trong mấy năm đau bệnh nặng, cụ vẫn luôn cố gắng góp phần vào công việc của Quốc hội, vào công cuộc kháng chiến của toàn dân để giành độc lập và thống nhất cho nước nhà. Cụ đã làm tròn nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân cho tới phút cuối cùng...”.

Sắc lệnh số 224-SL ngày 14/4/1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sắc lệnh số 224-SL ngày 14/4/1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Để ghi nhận công lao của cụ đối với sự nghiệp cách mạng, Hội đồng Chính phủ đã truy tặng cụ Huân chương Độc lập hạng nhất.

Cụ Bùi Bằng Đoàn - một nhà trí thức, một nhà nho lớn có công với cách mạng đã đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng Nhà nước, xây dựng Quốc hội từ khóa đầu tiên. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của cụ là cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân lịch sử và văn hóa có nhân cách lớn ở nước ta. Tấm gương sáng về đức độ thanh liêm và sự tận tụy với Tổ quốc của cụ là niềm tự hào cho mọi thế hệ người Việt Nam.

Ngày xuất bản: 11/3/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: KHÁNH DUY - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh tư liệu, TTXVN, Báo Đại biểu Nhân dân