Thân thế và sự nghiệp cách mạng
Cụ nguyễn Văn Tố, hiệu Ứng Hòe, sinh ngày 5/6/1889 trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Đông Thành, tổng Tiến Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Bát Sứ, thành phố Hà Nội).
Cụ không những uyên thâm Hán học mà tinh thông cả Tây học. Tốt nghiệp trường thông ngôn, cụ được nhận vào làm việc tại Học viện Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu lịch sử-văn hóa của người Pháp ở 26 phố Lý Thường Kiệt. Tuy chỉ giữ chức Tham tá, nhưng cụ đã giành được sự nể trọng của những thành viên trong Học viện bởi sự uyên bác về kiến thức.
Cụ là tác giả của hai bộ sử học đồ sộ “Đại Nam dật sử” và “Sử ta so với sử Tàu”; đồng thời là tác giả của nhiều bài báo đề cập đến nhiều lĩnh vực như lịch sử, văn học, ngôn ngữ, nghệ thuật, khảo cổ… đăng trên các tạp chí Tri tân, Đông Thanh, Thanh Nghị… bằng tiếng Việt và tiếng Pháp.
Những công trình nghiên cứu về lịch sử-văn hóa của cụ đều có tính giáo dục, khích lệ và khơi dậy lòng yêu nước. Bằng con đường hoạt động văn hóa, cụ đã cùng Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Vũ Đình Hòe… phát động cuộc cách mạng quốc ngữ, nhằm nâng cao dân trí.
Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố.
Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố.
Năm 1938, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Xứ ủy Bắc kỳ đã giao nhiệm vụ cho các đồng chí Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh cùng một số nhân sĩ, trí thức tiến bộ thành lập tổ chức công khai xóa nạn mù chữ lấy tên là Hội truyền bá quốc ngữ, đặt trụ sở tại Hội quán Trí Tri, số nhà 59 phố Hàng Quạt, Hà Nội. Ngày 25/5/1938, Hội chính thức ra mắt quốc dân, cụ Nguyễn Văn Tố được cử giữ chức Hội trưởng.
Quang cảnh Lễ thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ, tháng 5/1938.
Quang cảnh Lễ thành lập Hội truyền bá Quốc ngữ, tháng 5/1938.
Tháng 8/1945, cách mạng thành công, trở về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh có điều kiện gặp gỡ cụ Nguyễn Văn Tố. Mến vì đức, trọng vì tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia việc nước. Ngày 25/8/1945, theo đề nghị của Người, cụ được mời tham gia Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội.
Trong những ngày đầu chính quyền cách mạng còn non trẻ, trên cương vị Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội, cụ Nguyễn Văn Tố đã làm việc không mệt mỏi, tổ chức, động viên nhân dân tích cực tham gia diệt giặc đói, giặc dốt và chống ngoại xâm là ba nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của chính quyền cách mạng lúc bấy giờ; tổ chức Tuần lễ vàng để quyên góp tài lực cho cách mạng; tổ chức cứu tế đồng bào vùng lũ lụt, đồng bào bị đói, rét…
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ Nguyễn Văn Tố vinh dự được đứng cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh trên lễ đài. Hình ảnh và tên tuổi của cụ đã được ghi đậm nét trong lịch sử dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố (ngoài cùng bên phải hàng dưới) và các thành viên Chính phủ Cách mạng lâm thời, năm 1945.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội Nguyễn Văn Tố (ngoài cùng bên phải hàng dưới) và các thành viên Chính phủ Cách mạng lâm thời, năm 1945.
Ngày 6/1/1946, trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ được giới thiệu ra ứng cử tại thành phố Nam Định và đã trúng cử đại biểu Quốc hội khóa I.
Ngày 2/3/1946, Quốc hội khóa I họp Kỳ thứ nhất tại Thủ đô Hà Nội. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã quyết định bầu Ban Thường trực gồm 15 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết, cụ Nguyễn Văn Tố được Quốc hội bầu giữ chức Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên của Chính phủ tuyên thệ nhậm chức tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Ngày 3/11/1946, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I, cụ Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu tham gia Chính phủ mới và được bầu giữ chức Bộ trưởng không bộ.
Ngày 7/10/1947, cụ bị thực dân Pháp bắt và sát hại tại Bắc Kạn. Để ghi nhận công lao đóng góp của cụ vì sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, Đảng và Nhà nước đã truy tặng cụ Bằng Tổ quốc ghi công.
Những đóng góp của cụ Nguyễn Văn Tố trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội
Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước ta, cụ Nguyễn Văn Tố được nhân dân tín nhiệm bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I. Tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội vào ngày 2/3/1946, cụ được Quốc hội bầu làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội (nay là Chủ tịch Quốc hội). Đây là một trọng trách lớn và thể hiện sự tín nhiệm cao đối với cụ - một trí thức có uy tín lớn trong xã hội, tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết dân tộc lúc bấy giờ.
Trên cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ Nguyễn Văn Tố đã điều hành hoạt động của Quốc hội trong bối cảnh đất nước mới giành độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ và đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài nước.
Trên cương vị Trưởng ban Thường trực Quốc hội, cụ Nguyễn Văn Tố đã điều hành hoạt động của Quốc hội trong bối cảnh đất nước mới giành độc lập, chính quyền cách mạng còn non trẻ và đang phải đối mặt với nhiều thách thức cả trong và ngoài nước. Cụ có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đoàn kết giữa các thành phần, các giới trong Quốc hội, góp phần củng cố chính thể dân chủ mới thành lập. Cụ cũng là người góp phần thúc đẩy các hoạt động lập pháp đầu tiên của Quốc hội khóa I, chuẩn bị cho việc xây dựng bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta - Hiến pháp năm 1946.
Quang cảnh buổi khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Quang cảnh buổi khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Sau Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, đất nước đang trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để giành thắng lợi, cần tập trung quyền lực vào một cơ quan điều hành quốc gia mạnh mẽ nhằm thống nhất tất cả các lực lượng của dân tộc. Vì thế, Quốc hội đã công nhận và trao quyền bính cho Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Theo quy định, Chính phủ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Quốc hội và quốc dân đồng bào. Bên cạnh Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội có quyền hạn góp ý kiến với Chính phủ, phê bình Chính phủ nếu Chính phủ làm trái với lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Trong tình thế đặc biệt của nước nhà, những vấn đề đối nội và đối ngoại quan trọng vẫn phải được thống nhất và giải quyết nhanh chóng, nên trong nhiều phiên họp thường kỳ hoặc đặc biệt của Hội đồng Chính phủ đều có sự tham dự, góp ý kiến của Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và G.Xanhtơni (đứng giữa) đại diện Chính phủ Pháp cùng đại diện các nước Đồng minh nghe đọc văn bản Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 trước khi ký kết (Hà Nội, 1946).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và G.Xanhtơni (đứng giữa) đại diện Chính phủ Pháp cùng đại diện các nước Đồng minh nghe đọc văn bản Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 trước khi ký kết (Hà Nội, 1946).
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại diện của Chính phủ Pháp sau lễ ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 tại trụ sở Câu lạc bộ Cercle de l’Union, nay là Cung văn hóa thiếu nhi Hà Nội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại diện của Chính phủ Pháp sau lễ ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 tại trụ sở Câu lạc bộ Cercle de l’Union, nay là Cung văn hóa thiếu nhi Hà Nội.
Đầu tháng 3/1946, thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về việc “giảng hòa với Pháp nhằm dành được giây phút nghỉ ngơi để sửa soạn cuộc chiến đấu mới”, Chính phủ dự định ký với đại diện của Chính phủ Pháp một hiệp định để thực hiện sự hòa hoãn, nhằm tranh thủ thêm thời gian hòa bình, củng cố và phát triển lực lượng. Chiểu theo nghị quyết của Quốc hội, sáng ngày 6/3/1946 tại dinh Chủ tịch, cụ Nguyễn Văn Tố - Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đã cùng Hội đồng Chính phủ họp bàn về nội dung của hiệp định.
Biên bản cuộc họp đặc biệt sáng 6/3/1946, có chữ ký của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố cùng các thành viên Chính phủ và Ủy ban kháng chiến, tán thành ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946; Quốc hội ủy quyền cho phái đoàn Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định này.
Biên bản cuộc họp đặc biệt sáng 6/3/1946, có chữ ký của Trưởng ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố cùng các thành viên Chính phủ và Ủy ban kháng chiến, tán thành ký Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946; Quốc hội ủy quyền cho phái đoàn Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định này.
Sau khi nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh báo cáo về chính sách ngoại giao và nội dung của hiệp định, Hội đồng đã thảo luận và nhất trí tán thành việc ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp theo những điều kiện mà hai bên đã thỏa thuận, bao gồm những điều khoản quan hệ đến vận mệnh của dân tộc và chủ quyền của quốc gia. Thay mặt Ban Thường trực, cụ Nguyễn Văn Tố đã tán thành đường lối chính trị của Chính phủ và cùng ký vào biên bản. Kết quả là một bản Hiệp định Sơ bộ Việt-Pháp đã được ký, mở đầu cho một giai đoạn mới trong việc giao thiệp Việt-Pháp.
Hiệp định Sơ bộ 6/3 được ký, nhưng ở Nam bộ và Nam Trung bộ, quân Pháp vẫn luôn luôn có hành động khiêu khích nhằm phá hoại Hiệp định Sơ bộ. Để có cơ sở pháp lý làm căn cứ đấu tranh, thay mặt Ban Thường trực Quốc hội, cụ Nguyễn Văn Tố đã phát đi bản hiệu triệu kêu gọi quốc dân đồng bào phải “chuẩn bị”, “đoàn kết”, “bình tĩnh”, “tránh khiêu khích” và tuân theo “mệnh lệnh của Chính phủ” nhằm chống lại những hành động vi phạm Hiệp định Sơ bộ của thực dân Pháp. Lời kêu gọi của Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đã được quốc dân đồng bào hưởng ứng, tin tưởng và tôn trọng.
Dù ở hoàn cảnh nào, trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, cụ Nguyễn Văn Tố cũng quan tâm đến quyền lợi của quốc gia và nhân dân, luôn giúp Chính phủ trong việc thi hành những phương sách thích hợp để chăm lo, nâng cao đời sống cho nhân dân.
Sau khi bản Hiệp định Sơ bộ được ký kết, tình thế cách mạng có nhiều thay đổi, bộ máy nhà nước, đặc biệt là bộ máy chính quyền các cấp đã dần dần được củng cố. Để tham gia vào công cuộc kiến thiết đất nước, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố đã dành nhiều thời gian chỉ đạo các tiểu ban của Quốc hội cho ý kiến về các dự án sắc lệnh của Chính phủ; đồng thời tích cực phối hợp với các bộ, ngành trong việc hoàn thành các nhiệm vụ cứu đói, phòng chống thiên tai, bình dân học vụ…; cử linh mục Phạm Bá Trực, ủy viên Ban Thường trực Quốc hội cùng đi với phái đoàn Chính phủ vào Trung bộ để giải thích cho toàn thể đồng bào chính sách quốc gia liên hiệp của Chính phủ Hồ Chí Minh.
Dù ở hoàn cảnh nào, trên cương vị Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, cụ Nguyễn Văn Tố cũng quan tâm đến quyền lợi của quốc gia và nhân dân, luôn giúp Chính phủ trong việc thi hành những phương sách thích hợp để chăm lo, nâng cao đời sống cho nhân dân.
Cuối năm 1946, tình hình đất nước hết sức căng thẳng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Song, chúng ta càng nhân nhượng thực dân Pháp càng lấn tới”. Trên thực tế, thực dân Pháp đã liên tục mở các cuộc hành quân lấn chiếm ở Nam bộ, Nam Trung bộ và lập ra cái gọi là “Chính phủ Nam Kỳ tự trị” nhằm thực hiện âm mưu tách Nam bộ ra khỏi Việt Nam. Trong bối cảnh đó, theo yêu cầu của Chính phủ, Ban Thường trực Quốc hội đã triệu tập Kỳ họp thứ 2 tại Nhà hát Lớn, Hà Nội từ ngày 28/10 đến 9/11/1946 để thảo luận và thông qua các nghị quyết về nội trị, ngoại giao, về lập Chính phủ mới và thông qua các đạo luật quan trọng…
Tại phiên khai mạc, cụ Nguyễn Văn Tố đã báo cáo trước Quốc hội những kết quả đạt được của Chính phủ và Quốc hội trong 8 tháng qua và nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của quốc dân đồng bào lúc này là ra công xây dựng nước nhà để thực hiện nền độc lập cho Tổ quốc”, rằng “Nước ta với sự đồng tâm nhất trí của toàn thể đồng bào, sẽ giành được độc lập và đi tới vinh quang, hạnh phúc…”
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 (hàng đầu, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng)
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 (hàng đầu, từ trái sang phải: Cụ Nguyễn Văn Tố, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cụ Huỳnh Thúc Kháng)
Cũng tại kỳ họp này, thay mặt Ban Thường trực, cụ Nguyễn Văn Tố đã trả lời các câu chất vấn của đại biểu Quốc hội về công tác của Ban Thường trực Quốc hội, về vấn đề Quốc kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau phần trả lời chất vấn, Quốc hội chấp nhận sự từ chức của Chính phủ liên hiệp kháng chiến và ủy nhiệm cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập Chính phủ mới. Thực hiện nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không phân biệt đảng phái, Chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập đã được Quốc hội nhất trí thông qua gồm 12 bộ. Cụ Nguyễn Văn Tố được Chủ tịch Hồ Chí Minh giới thiệu tham gia Chính phủ và giữ chức Bộ trưởng không bộ.
Tháng 12/1946, thực dân Pháp bội ước, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Trung ương Đảng và Chính phủ phải rời Thủ đô Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc, cụ Nguyễn Văn Tố đã cùng các thành viên của Chính phủ tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Tháng 10/1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến, cụ Nguyễn Văn Tố không may sa vào tay giặc và bị chúng sát hại tại Bắc Kạn ngày 7/10/1947.
Có thể khẳng định, cụ Nguyễn Văn Tố, một trong những nhân sĩ trí thức tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX, đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Cụ không chỉ là nhà hoạt động tích cực trong sự nghiệp giáo dục, văn hóa và phong trào yêu nước, mà còn để lại dấu ấn quan trọng trong những năm đầu hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Do hoàn cảnh kháng chiến, lễ Truy điệu cụ Nguyễn Văn Tố được Chính phủ, Quốc hội và Mặt trận tổ chức sau khi chiến dịch Thu - Đông năm 1947 kết thúc thắng lợi. Tại lễ Truy điệu cụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc “Lời điếu cụ Tố” với lời lẽ trân trọng, sâu sắc. Trong Lời điếu có đoạn:
“Quân địch ào ào tấn công
Trong vùng cụ đang làm việc
Chúng tra tấn cụ, cực kỳ tàn khốc, dã man,
Cụ trả lời chúng bằng một nụ cười oanh liệt
Chúng làm hại cụ, lịch sử nước Pháp muôn đời thêm một vết xấu xa
Cụ dù hi sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt
Với cụ dân tộc mất một người chiến sĩ,
thế giới mất một người danh nho.
Cho nên, Chính phủ khôn xiết nỗi buồn rầu, đồng bào khôn xiết lòng thương tiếc…"
Có thể khẳng định, cụ Nguyễn Văn Tố, một trong những nhân sĩ trí thức tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX, đã có những đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam trên nhiều lĩnh vực. Cụ không chỉ là nhà hoạt động tích cực trong sự nghiệp giáo dục, văn hóa và phong trào yêu nước, mà còn để lại dấu ấn quan trọng trong những năm đầu hoạt động của Quốc hội Việt Nam.
Giáo viên và học sinh tham quan không gian trưng bày phát huy giá trị văn hóa lịch sử “Hội Truyền bá chữ quốc ngữ và danh nhân Nguyễn Văn Tố” tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố (số 47 Hàng Quạt), Hoàn Kiếm (Hà Nội).
Giáo viên và học sinh tham quan không gian trưng bày phát huy giá trị văn hóa lịch sử “Hội Truyền bá chữ quốc ngữ và danh nhân Nguyễn Văn Tố” tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên Nguyễn Văn Tố (số 47 Hàng Quạt), Hoàn Kiếm (Hà Nội).
Sự hy sinh của cụ là mất mát lớn đối với đất nước và Quốc hội nước ta. Cụ Nguyễn Văn Tố không chỉ là nhà hoạt động văn hóa, giáo dục mà còn là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Những đóng góp của cụ được ghi nhớ như một tấm gương trí thức yêu nước tiêu biểu, tận tâm vì dân vì nước.
Trưởng Ban Thường trực Quốc hội Nguyễn Văn Tố - một nhà trí thức lớn, một nhân sĩ yêu nước, người đại biểu của nhân dân lao động đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Tuy thời gian giữ chức Trưởng Ban Thường trực Quốc hội (tức Chủ tịch Quốc hội) của cụ không dài, nhưng đó là quãng thời gian nước nhà đang ở vào tình thế nghiêm trọng, nạn xâm lăng đe doạ nền độc lập quốc gia, cụ đã có nhiều đóng góp cùng Chính phủ làm tròn nhiệm vụ mà Quốc hội đã giao phó. Chúng ta có quyền tự hào về cụ, một danh nho chiến sĩ, Bộ trưởng, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày xuất bản: 11/3/2026
Tổ chức thực hiện: TRƯỜNG SƠN
Nội dung: HẢO THI - VĂN TOẢN
Trình bày: LÝ LÊ
Ảnh: TTXVN, Bảo tàng lịch sử Quốc gia, Cổng thông tin điện tử Quốc hội