Giữa tháng 2 âm lịch, thôn Hồng Ba, xã Hồng Thái vẫn mù sương, giăng kín lối đi. Cách 2m, chúng tôi chẳng nhìn rõ mặt người, chỉ thấy tiếng bi bô của những đứa trẻ lẫn tiếng chuông kêu leng keng của những chú bò đang gặm cỏ bên vệ đường. Phía trong xưởng trà, ông Đàm Xuân Trân một mình đang lúi húi quay hương – công đoạn cuối cùng quyết định chất lượng mẻ trà. Từ những bản làng nghèo chỉ quen với nương rẫy, cuộc sống của người dân vùng cao đang dần thay đổi rõ rệt nhờ cây trà Shan Tuyết.
"Lộc rừng" của người Dao Tiền
Chúng tôi đến Hồng Thái vào cuối giờ sáng, sau khi vượt qua quãng đường gần 150km từ thành phố Tuyên Quang. Mấy bà, mấy chị vừa tháo gùi nặng trĩu đựng các búp trà, nhanh tay đưa vào xưởng cân, ghi sổ. “Nay thời tiết mù sương hơn, chị em bảo nhau cố hái thêm nên gần trưa mới về”, chị Triệu Thị Chiêu (53 tuổi, thôn Pác Khoang, xã Hồng Thái) nói.
Nhà chị Chiêu có 2ha chè, nằm trên hai quả đồi. Đồi chè cha ông để lại, cứ trồng vậy, chẳng bao giờ nghĩ đến ngày nó lại mang lộc cho quê hương Pác Khoang. Phải hơn 10 năm trở lại đây, khi có xưởng thu mua và chế biến chè trong vùng, cuộc sống mới dần thay đổi và bà con mới “sống khỏe” nhờ chè.
Nghề hái chè tưởng chừng đơn giản, nhưng chị Chiêu bảo, cũng phải rất nhanh tay mới hái được sản lượng lớn. Trong các loại, khó nhất là hái loại chè “một tôm một lá” vì búp nhỏ, đòi hỏi sự tỉ mỉ. Nếu không kịp hái, búp chè lớn nhanh, phải chuyển sang loại 2-3, giá sẽ thấp hơn.
Những cây trà Shan Tuyết nằm sâu trên núi, từ những cây cổ thụ cả trăm tuổi hay những cây non mới được trồng, đều như “nhả ngọc” mỗi ngày. Bây giờ đang là vụ trà xuân, công việc hái trà của chị Chiêu thường diễn ra vào buổi sáng từ 8 giờ đến 11 giờ, khi sương mù còn đọng trên lá để giữ độ tươi và lớp "tuyết" trên búp.
Một năm có khoảng 7-8 tháng, người nông dân trồng trà làm việc không nghỉ, chỉ chừng vào đông và khi mưa rào, búp trà chất lượng không tốt thì họ mới xoay sang làm các việc nông nhàn khác. Làm chừng 7 tháng, mỗi ngày chỉ làm buổi sáng, nhưng thu nhập của bà con rất đáng mơ ước.
Nhà chị Chiêu, xưa làm cả năm chắc được khoảng 20 triệu đồng. Giờ đây, chè trở thành nguồn thu nhập chính. Chị Chiêu một năm cũng để được 60-70 triệu đồng từ bán chè. Nếu hái được nhiều búp chè “một tôm một lá” - loại có giá cao nhất được thu mua tới 50 nghìn đồng/kg, thì thu nhập có thể lên tới cả trăm triệu đồng/năm.
Phía trong xưởng trà của Hợp tác xã Sơn Trà, anh Đàm Xuân Trân đang tập trung cao độ để chỉnh nhiệt và kiên nhẫn trong quá trình quay hương (lấy hương) cho trà. Vừa thoăn thoắt quay trà, anh vừa kể cho chúng tôi nghe về cây “lộc rừng” đã giúp bà con ở đây đổi đời.
Hàng chục năm về trước, trà Shan Tuyết chỉ là thứ nước trà chan chát, hậu vị ngọt, quen thuộc với bà con người Dao Tiền. Ngoài bà con ở vùng này, trà không được chào đón ở dưới xuôi, cũng không ra được các sạp tạp hóa. “Người ta quen với vị chát đậm của trà Thái Nguyên rồi, nên trà Shan Tuyết chẳng ai hỏi mua”, anh Trân thở dài. Khi đó, máy sao chè ban đầu cũng rất thủ công, đun bằng củi, cân nhiệt hoàn toàn bằng cảm giác, không có máy móc. Giá chè lúc đó chỉ khoảng 150.000 đồng/kg chè khô, rất khó bán. “Nhiều người được cho còn bỏ đi, không dám uống. Họ sợ mình cho gì vào chè”, ông Trân tiếp lời.
Chỉ trong khoảng 7-8 năm trở lại đây, khi các xưởng chế biến và hợp tác xã được hình thành, người Dao mới bắt đầu thực sự chú trọng và nhận ra giá trị của "vàng xanh" trên núi rừng. Lúc đó mới có các dòng chè bán từ 800.000 đến hơn 1 triệu đồng/kg.
Liên tục lấy tay vốc chè lên ngửi xem đạt đủ độ thơm chưa, vừa canh nhiệt độ và thời gian sao chè, ông Trân tâm sự, so với trước đây, cuộc sống của gia đình ông thật sự đổi đời. Trước kia phải làm nhiều nghề mới đủ sống, giờ có thể tập trung làm chè mà vẫn bảo đảm thu nhập.
Nhà anh Trân có khoảng 3ha trồng trà Shan Tuyết, tương đương khoảng hơn 6.000 cây chè. Vợ anh đảm nhận thu hái, còn anh làm việc sao trà tại xưởng với mức thu nhập trung bình 15 triệu đồng/tháng. Cộng với việc anh có 40% cổ phần ở Hợp tác xã Sơn Trà, mỗi năm, nhà anh đạt doanh thu lên tới con số hơn 300 triệu đồng. Một con số mơ ước của người dân tộc Dao Tiền sống gắn bó với quê hương.
“Tôi có 1 cháu đang du học ở Hàn Quốc, 1 cháu đang học Đại học Quốc gia. Nếu không có cây Trà Shan Tuyết, chắc giờ các cháu cũng chỉ ở nhà lúi húi trồng cây, nuôi bò, ngựa”, anh Trân tự hào khoe.
Thế nhưng, sao trà cũng lắm công phu. Để đạt tới trình độ “thợ cả” như anh Trân, là bao nhiêu mẻ trà phải bỏ đi, bao nhiêu mẻ thất thu lớn vì bị thương lái bắt đền.
Quy trình chế biến trà Shan Tuyết từ lá tươi thành trà khô thành phẩm thường mất khoảng 2 giờ đồng hồ cho mỗi mẻ. Sau khi thu hái về, trà được phơi trong khoảng 2 tiếng để lá trà héo đi một chút trước khi chính thức đưa vào các máy chế biến. Sau đó, người thợ sẽ tiếp tục hoàn thành các công đoạn từ ốp chè, vò chè đến sao khô cho một mẻ (khoảng 11-12kg trà khô).
Trà Shan Tuyết bắt buộc phải được chế biến ngay trong ngày để bảo đảm chất lượng nhựa trà. Thông thường, người dân hái trà vào buổi sáng (từ 8 giờ đến 11 giờ) và phải đưa vào lò sao ngay trong buổi trưa, tuyệt đối không để trà qua đêm.
“Trà Shan Tuyết bắt buộc phải được chế biến ngay trong ngày để bảo đảm chất lượng nhựa trà. Thông thường, người dân hái trà vào buổi sáng (từ 8 giờ đến 11 giờ) và phải đưa vào lò sao ngay trong buổi trưa, tuyệt đối không để trà qua đêm”, ông Trân nói.
Tùy thuộc vào sản lượng thu mua (có ngày cao điểm lên tới gần 1 tấn trà tươi), các xưởng sản xuất sẽ điều chỉnh tần suất làm việc để xử lý hết lượng trà trong ngày, chỉ nghỉ khi trời mưa do trà hái lúc mưa sẽ không đạt chất lượng.
Đổ mẻ trà vừa sao ra sàng, anh Trân cho chúng tôi ngửi thành phẩm. Anh bảo, công đoạn quay hương là khâu cuối cùng để định hình mùi thơm và độ "chín" của trà. Công đoạn này thường được thực hiện với những mẻ trà đã được làm khô từ ngày hôm qua hoặc hôm kia trước khi tiến hành đóng gói. Đây là công đoạn quan trọng nhất quyết định chất lượng trà bán ra thị trường.
Khi mới cho trà vào quay hương, lửa phải để nhỏ và giữ cho nhiệt độ đều dần. Người làm trà cần dùng tay trực tiếp sờ và nắm trà trong chảo để cảm nhận nhiệt độ. Khi thấy trà đã nóng rát lên một chút thì phải tiếp tục giữ mức lửa đều; đến khi trà bắt đầu tỏa hương, lúc này mới được tăng nhiệt độ thêm một chút nữa rồi mới cho trà ra khỏi lò. Cách làm này nhằm giúp hương thơm có đủ thời gian để thấu hết vào tận bên trong cộng trà, giúp mẻ trà đạt được độ "chín" chuẩn xác.
“Nhiều nghệ nhân trà đã về dạy bà con cách sao trà. Tuy nhiên, công đoạn này chỉ thật sự dựa vào kinh nghiệm cá nhân, cảm nhận bằng tay xem trà nóng tới độ nào và mùi hương ra sao. Trà có từng giai đoạn tỏa hương (tỏa ra rồi lại lặn đi). Nếu người thợ không biết cách điều khiển lửa để đợi hương thơm lặn đi rồi tỏa ra lần nữa mà đã cho trà ra ngay từ lần tỏa hương đầu tiên thì trà sẽ bị "non", không đạt được chất lượng tốt nhất. Sao trà không có công thức cố định và không thể nhìn bằng mắt thường”, anh Trân nói thêm.
Khi những gốc trà trăm tuổi đánh thức một vùng đất
Giữa vùng núi cao mây phủ quanh năm, nơi độ cao gần 1.000m so với mực nước biển, những cây trà Shan Tuyết cổ thụ từng bị bỏ quên, thậm chí bị chặt làm củi, đã trở thành sản phẩm hàng hóa giá trị cao, mang lại sinh kế bền vững cho người dân địa phương. Đời sống của người Dao ở các vùng trà Shan Tuyết Hồng Thái, Tuyên Quang đã trải qua những thay đổi mạnh mẽ, từ phương thức canh tác truyền thống đến sự khởi sắc về kinh tế nhờ vào việc thương mại hóa cây trà cổ thụ.
Trong thôn Pác Khoang có khoảng 30 hộ thì gần như nhà nào cũng tham gia làm chè. Một ngày, tại xưởng của Hợp tác xã Sơn Trà có thể thu 4-5 tạ chè tươi, cho ra khoảng 90-100kg chè khô. Hàng quay vòng liên tục, không tồn ngày nào. Không khí buổi sáng ở vùng đất sương mù này, lúc nào cũng nhộn nhịp, hối hả.
Phụ nữ thường đảm nhận việc hái trà trên các đồi cao hoặc cây cổ thụ (có khi phải trèo cao hoặc bắc thang), trong khi đàn ông phụ trách các khâu chế biến kỹ thuật như vận hành lò sấy, ốp trà và "quay hương".
Đời sống người Dao vẫn giữ được sự hài hòa với thiên nhiên thông qua việc canh tác trà hoàn toàn tự nhiên. Trà Shan Tuyết chẳng mất công chăm bón. Cây trồng đó, tự lớn, tự hấp thụ sương gió, tự “giăng tơ, nhả ngọc”, tự mang đến cho bà con nguồn sinh kế bền vững. Công việc chăm sóc chủ yếu là phát cỏ 2-3 lần mỗi năm và tỉa cây một lần vào cuối năm. Thế nhưng “lộc rừng” này đã làm bà con thôn Pác Khoang đổi đời.
Từ khoảng năm 2018-2019, khi sản phẩm trà Shan Tuyết đạt chứng nhận OCOP và được định vị là đặc sản (đặc biệt sau sự kiện được chọn làm quà tặng cho Thủ tướng Malaysia), thu nhập của người dân đã thay đổi rõ rệt. Mỗi hộ gia đình có diện tích từ 1-3ha có thể thu về từ 60 triệu đến hơn 100 triệu đồng mỗi năm từ việc bán trà tươi. Một người hái giỏi có thể thu hoạch được từ 70-80kg trà tươi mỗi ngày. Ngày nào mà hái đều tay là bữa đó thu được 500-600 nghìn đồng.
Sáu năm qua, con số thu nhập này khiến bà con trong vùng ai nấy đều phấn khởi. So với việc trồng ngô, lúa chỉ đủ ăn và thu về khoảng 30 triệu đồng/năm cho cả gia đình, thì cây trà mang lại giá trị cao gấp nhiều lần (khoảng 7-8 tạ trà/ha/năm mang lại 70-80 triệu đồng.
Nghề trà đã tạo ra kế sinh nhai bền vững, giúp các cặp vợ chồng trẻ yên tâm ở lại quê hương phát triển kinh tế thay vì phải đi làm thuê tại các khu công nghiệp xa nhà. Nhờ thu nhập ổn định từ trà, người dân đã có thể tích lũy để xây nhà gỗ khang trang, mua ô-tô và đặc biệt là đầu tư cho con cái đi du học nước ngoài hoặc học đại học.
Trước khi trà trở thành “vàng xanh”, từng có thời điểm những cây trà cổ thụ bị bán rẻ, chỉ vài trăm nghìn đồng mỗi cây. Người dưới xuôi lên đào cả gốc mang đi. Những gốc trà trăm tuổi, vốn là linh hồn của vùng đất đứng trước nguy cơ biến mất. Nhận thấy nguy cơ mất đi nguồn gene quý, chính quyền địa phương đã có những động thái ngăn cản việc mua bán, vận chuyển cây trà to ra khỏi vùng để giữ gìn tài nguyên cho phát triển du lịch và kinh tế bền vững.
Hợp tác xã cam kết thu mua triệt để trà tươi cho bà con, không để tình trạng thừa trà hay bị ép giá. Khi người dân thấy hái trà có thể mang lại thu nhập từ 300.000 đến 700.000 đồng một ngày công.
-- Ông Đặng Ngọc Phố, Chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Trà --
Ông Đặng Ngọc Phố, Chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Trà chia sẻ, Hợp tác xã cam kết thu mua triệt để trà tươi cho bà con, không để tình trạng thừa trà hay bị ép giá. Khi người dân thấy hái trà có thể mang lại thu nhập từ 300.000 đến 700.000 đồng một ngày công, họ đã tự giác đốn tỉa, chăm sóc và bảo vệ nương trà của mình.
Bên cạnh đó, Hợp tác xã giao lại các diện tích trà cổ thụ cho các hộ dân quản lý và thu hái, giúp họ có sinh kế ổn định đồng thời bảo đảm cây trà luôn có người trông nom. Dù đã đưa máy móc hiện đại vào để nâng cao chất lượng và sản lượng, những người làm trà vẫn giữ lại những giá trị cốt lõi của trà cổ thụ. Họ phân loại rõ ràng trà từ cây cổ thụ (có búp to, mập mạp và cọng to hơn) so với trà mới trồng để có quy trình chế biến riêng, nhằm tôn vinh hương vị đặc trưng của những búp trà "tuyết" trăm năm tuổi.
Khi cây trà bắt đầu mang lại thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm, người dân không còn chặt bỏ mà quay lại chăm sóc, bảo vệ. Những đồi ngô dần được thay bằng trà. Diện tích từ 64ha tăng lên gần 100ha – không chỉ là con số, mà là minh chứng cho sự thay đổi tư duy của cả một cộng đồng.
Trà Shan Tuyết là sản phẩm chủ lực của địa phương, không chỉ quảng bá mảnh đất Hồng Thái có sản phẩm nông sản OCOP thuần tự nhiên mà còn góp phần phát triển du lịch, tạo ra chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ và trải nghiệm.
--- Chủ tịch UBND xã Hồng Thái Lê Văn Tú ---
Chủ tịch UBND xã Hồng Thái Lê Văn Tú cho biết, trà Shan Tuyết là sản phẩm chủ lực của địa phương, không chỉ quảng bá mảnh đất Hồng Thái có sản phẩm nông sản OCOP thuần tự nhiên mà còn góp phần phát triển du lịch, tạo ra chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến, tiêu thụ và trải nghiệm.
Từ những búp chè phủ sương, người dân đã đồng lòng, cùng nhau xây dựng được một hướng đi mới bền vững hơn, chủ động hơn. Với người Dao Tiền ở Pác Khoang, Hồng Thái, những ngày chật vật bám nương, bám rẫy nay đã lùi lại phía sau. “Vàng xanh” Shan Tuyết không chỉ mang lại kế sinh nhai, mà còn mở ra một con đường sống bền vững giữa núi rừng quanh năm sương phủ. Những gốc trà cổ thụ trăm tuổi như những “thần rừng”, sừng sững bao bọc, che chở cho bà con kế sinh nhai bền vững. Dưới tán trà ấy, người trẻ không còn rời bản đi xa, mà chọn ở lại, tiếp nối nghề, làm giàu trên chính quê hương mình như anh Trân, anh Phố và nhiều người khác.
Ngày xuất bản: 28/4/2026
Chỉ đạo: Nam Đông
Tổ chức sản xuất: Hồng Vân-Xuân Bách
Thực hiện: Hải Chung-Toàn Thắng-Lam Thu-Khánh Giang