Trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, công tác cán bộ luôn được xác định là “then chốt của then chốt” [1]. Cán bộ là người trực tiếp tổ chức, thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vì vậy việc lựa chọn, bố trí cán bộ đúng người, đúng việc để cán bộ phát huy được năng lực sở trường có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả hoạt động của tổ chức. Trao quyền phải đi liền với trao trách nhiệm, quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng cao, chức vụ càng cao thì yêu cầu kiểm soát quyền lực càng phải chặt chẽ. Nếu quyền lực không được ràng buộc bằng cơ chế, kiểm soát bằng pháp luật và đặt dưới sự giám sát chặt chẽ gắn với trách nhiệm giải trình, rất dễ bị tha hóa, bị lạm dụng và trở thành mảnh đất nảy sinh tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm. Vì vậy, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hôm nay không thể chỉ dừng ở việc làm cho cán bộ “không dám” vi phạm, mà phải tiến tới hoàn thiện cơ chế để không thể lợi dụng quyền lực, xây dựng môi trường để "không muốn" và "không cần" tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đó là bước chuyển từ răn đe sang phòng ngừa, từ xử lý sai phạm sang chủ động bịt kín những “kẽ hở” của quyền lực, hướng tới một nền quản trị liêm chính, nơi quyền lực được sử dụng đúng mục đích: Vì Nhân dân và vì lợi ích chung.

QUYỀN LỰC CÀNG LỚN,
YÊU CẦU KIỂM SOÁT CÀNG CHẶT CHẼ

Kiểm soát quyền lực là yêu cầu xuyên suốt, tất yếu và không thể tách rời trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”, nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của đảng” [2]. Cùng với yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng xác định phải xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, siết chặt kỷ luật, kỷ cương; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đây không chỉ là yêu cầu đối với công tác cán bộ, mà còn là nguyên tắc trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.

Thực tiễn cho thấy, nơi nào quyền lực gắn với nhiều nguồn lực, nhiều quyền quyết định và thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả, nơi đó trở thành môi trường phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm. Những sai phạm trong quản lý đất đai, tài chính, ngân sách, đầu tư công, đấu thầu, mua sắm tài sản công... qua nhiều vụ án thời gian qua cho thấy, phía sau một hành vi tham nhũng thường không chỉ là sự tha hóa của một cá nhân, mà còn có thể là những sơ hở trong quản lý, những khoảng trống trong kiểm tra, giám sát và những khâu chưa được kiểm soát chặt chẽ. Bởi vậy, kiểm soát quyền lực không thể chỉ đặt ra khi sai phạm đã xảy ra. Quan trọng hơn là phải nhận diện được nguy cơ, kiểm soát từ nơi quyền lực được trao và thu hẹp những khoảng trống có thể bị lợi dụng. Đây cũng là tinh thần được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh khi yêu cầu phải kiểm soát quyền lực bằng cơ chế, không để quyền lực bị lạm dụng, lợi dụng; phải “nhốt quyền lực vào trong lồng cơ chế”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị.

Trong giai đoạn mới, yêu cầu kiểm soát quyền lực còn đặt ra bài toán cân bằng giữa kỷ luật và đổi mới, kiểm soát và hành động. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Kiểm soát quyền lực là để đổi mới đúng hướng, không làm tê liệt sáng tạo”. Kiểm soát quyền lực, vì thế, không phải để tạo ra tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, càng không phải dựng lên những “hàng rào” khiến cán bộ không dám nghĩ, không dám làm, không dám đổi mới, sáng tạo. Kiểm soát quyền lực phải đi cùng với kiến tạo một hành lang pháp lý, cơ chế và môi trường công tác minh bạch, rõ ràng, đủ rộng để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; khuyến khích những cách làm mới, những giải pháp đột phá xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và vì lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Trong lĩnh vực tư pháp, kiểm soát quyền lực càng có ý nghĩa đặc biệt, bởi mỗi quyết định tố tụng đều tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân và số phận pháp lý của tổ chức, cá nhân. Nếu quyền lực tư pháp được thực thi đúng pháp luật thì công lý được bảo đảm; ngược lại, một quyền lực thiếu kiểm soát có thể dẫn đến oan, sai, xâm phạm quyền con người và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào công lý. Vì vậy, kiểm soát quyền lực tư pháp phải được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên, từ sớm, từ xa, bảo đảm mọi quyền lực đều được thực thi trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm của người thực thi.

Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị chính là một “hàng rào” quan trọng để kiểm soát quyền lực trong hoạt động tư pháp, từ điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án; nhận diện, ngăn chặn và xử lý những biểu hiện lạm quyền, can thiệp, tác động trái pháp luật, qua đó bảo đảm quyền lực tư pháp được thực thi đúng pháp luật, công minh và vì công lý.

Đối với Viện Kiểm sát nhân dân, kiểm soát quyền lực vừa là yêu cầu khách quan, vừa là yêu cầu tự thân. Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp là thực hiện quyền lực được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; vì vậy, mỗi cán bộ, kiểm sát viên phải đặt quyền lực ấy trong khuôn khổ pháp luật, quy trình nghiệp vụ và trách nhiệm nghề nghiệp. Kiểm soát quyền lực của người khác trước hết phải bắt đầu từ kiểm soát quyền lực của chính mình. Đó không chỉ là giới hạn nghề nghiệp, mà còn là thước đo bản lĩnh, đạo đức và uy tín của người cán bộ kiểm sát.

5 NĂM NHÌN LẠI TỪ THỰC TIỄN: QUYỀN LỰC TẬP TRUNG Ở ĐÂU, NGUY CƠ PHÁT SINH Ở ĐÓ

Nhìn lại nhiệm kỳ 2021-2026, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của ngành Kiểm sát nhân dân cho thấy: nơi nào nguồn lực lớn, quyền quyết định cao, tác động trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, nơi đó nguy cơ tham nhũng, tiêu cực càng lớn. Đây cũng là những “điểm nóng” đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực chặt chẽ, nhận diện rủi ro từ sớm, bịt kín kẽ hở từ cơ chế và không để quyền lực bị lợi dụng cho lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm.

Theo Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2021-2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong nhiệm kỳ, toàn Ngành đã thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết 3.223 nguồn tin về tội phạm tham nhũng, chức vụ, kinh tế; kiểm sát điều tra 7.145 vụ/16.913 bị can; thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố đối với 4.817 vụ/11.423 bị can; kiểm sát xét xử sơ thẩm 4.648 vụ/10.490 bị cáo. Thông qua công tác thi hành án dân sự, số tiền thu hồi đạt hơn 27.416 tỷ đồng[3].

Đáng chú ý, trong nhiệm kỳ, tội phạm tham nhũng, chức vụ bị khởi tố mới 3.546 vụ, tăng 151,3%. Nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp được phát hiện, điều tra, xử lý liên quan đến quản lý đất đai, tài chính, ngân hàng, đăng kiểm, khai thác tài nguyên, đầu tư dự án; cùng với đó là những sai phạm xảy ra trong lĩnh vực y tế, ngoại giao khi lợi dụng tình hình dịch bệnh[3].

Ở nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, sở hữu và môi trường, sai phạm nổi lên ở nhiều lĩnh vực có nguồn lực lớn và quyền quyết định cao như chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, đấu thầu, đấu giá, mua sắm công, cổ phần hóa, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế. Đáng lưu ý, tiêu cực còn len vào những lĩnh vực trực tiếp bảo đảm phát triển kinh tế-xã hội và an sinh của người dân như y tế, giáo dục, giảm nghèo, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Điều đó cho thấy tham nhũng, tiêu cực không chỉ nảy sinh ở nơi có “miếng bánh” lớn, mà có thể xuất hiện ở bất cứ đâu quyền lực thiếu kiểm soát và lợi ích công không được bảo vệ đầy đủ [3].

Những con số trên không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng điều tra, truy tố, xét xử, mà sâu xa hơn là yêu cầu hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực. Bởi phía sau mỗi vụ án không chỉ là một hành vi vi phạm, mà còn có thể là một quy trình quản lý chưa chặt, một thẩm quyền được trao nhưng thiếu kiểm soát, một quyết định thiếu trách nhiệm hoặc những khâu kiểm tra, giám sát chưa đủ sức ngăn ngừa sai phạm từ sớm, từ xa. Vì vậy, xử lý nghiêm người vi phạm là yêu cầu tất yếu, nhưng chưa phải điểm cuối của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Quan trọng hơn, từ mỗi vụ án, mỗi sai phạm phải nhận diện đến cùng nguyên nhân, điều kiện và những kẽ hở trong cơ chế quản lý, thực thi quyền lực để kịp thời hoàn thiện quy định, chấn chỉnh quản lý, khắc phục thiếu sót và xác định rõ trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Xử lý một vụ án phải hướng tới ngăn ngừa những vụ án tiếp theo; xử lý một người phải góp phần hoàn thiện cơ chế để không còn “đất” cho sai phạm phát sinh. Đó mới là phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, từ gốc.

Đây cũng chính là sự chuyển mạnh từ “chống” sang “phòng” trong công tác kiểm sát. Nếu chỉ dừng ở phát hiện, xử lý vi phạm thì mới giải quyết được phần “ngọn”; kiểm sát hiệu quả phải đi sâu nhận diện nguyên nhân, điều kiện, sơ hở, thiếu sót trong quản lý và thực thi quyền lực, từ đó kiến nghị khắc phục, hoàn thiện cơ chế, chấn chỉnh quản lý và phòng ngừa vi phạm tái diễn. Kiểm sát không chỉ để phát hiện sai phạm, mà còn để chỉ ra nơi sai phạm có thể phát sinh; không chỉ xử lý cái đã xảy ra, mà phải góp phần ngăn cái chưa xảy ra. Đó là cách đưa yêu cầu kiểm soát quyền lực từ “hậu kiểm” sang phòng ngừa chủ động, từ xử lý từng vụ việc sang khắc phục những nguyên nhân có tính hệ thống; qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm sát và góp phần xây dựng một nền tư pháp liêm chính, công bằng, thượng tôn pháp luật, vì Nhân dân phục vụ.

Trong nhiệm kỳ, toàn Ngành đã ban hành 84.988 kiến nghị, kháng nghị yêu cầu các cơ quan tư pháp và cơ quan hữu quan khắc phục, phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm; trong đó có 9.248 kiến nghị yêu cầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa. Theo báo cáo, các kiến nghị, kháng nghị có căn cứ, xác đáng được các cơ quan, tổ chức tiếp thu, thực hiện, góp phần hạn chế sai sót, vi phạm.

Kiểm sát viên kiểm sát thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị can phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Kiểm sát viên kiểm sát thi hành Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với bị can phạm tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Từ thực tiễn đó có thể thấy, kiểm soát quyền lực không phải là dựng thêm những “hàng rào” làm chậm hoạt động của bộ máy, mà là thiết lập những “điểm kiểm soát” đủ chặt, đúng chỗ và đúng lúc, để quyền lực được thực thi đúng thẩm quyền, đúng mục đích, minh bạch và có trách nhiệm; đồng thời ngăn chặn từ sớm nguy cơ lạm quyền, lợi dụng quyền lực và lợi ích nhóm. Kiểm soát tốt không làm quyền lực yếu đi, mà làm quyền lực được sử dụng đúng hơn, hiệu quả hơn và vì lợi ích chung.

Khi một sai phạm được phát hiện và xử lý, pháp luật tạo sức răn đe. Nhưng cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không thể dừng lại ở đó. Nếu từ một sai phạm, một quy trình được sửa đổi, một kẽ hở được bịt kín, trách nhiệm được xác định rõ hơn và nguy cơ tái diễn được ngăn chặn, thì giá trị của việc xử lý mới thực sự được nhân lên. Khi ấy, xử lý không chỉ là kết thúc một vụ việc, mà trở thành cơ hội để sửa một cơ chế, siết một quy trình và phòng ngừa những sai phạm tiếp theo. Đó chính là bước chuyển từ “xử lý cái đã xảy ra” sang “ngăn ngừa cái có thể xảy ra”, từ chống sang phòng, từ giải quyết vụ việc sang hoàn thiện cơ chế.

Đó chính là yêu cầu chuyển từ “không dám” sang “không thể” - từ việc làm cho người có quyền lực sợ vi phạm sang xây dựng một cơ chế mà trong đó cơ hội để lợi dụng quyền lực ngày càng bị thu hẹp.

Đồng chí Nguyễn Huy Tiến - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu tại Lễ kỷ niệm 66 năm thành lập Ngành kiểm sát nhân dân. Nguồn: Báo bảo vệ Pháp luật (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao)

Đồng chí Nguyễn Huy Tiến - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu tại Lễ kỷ niệm 66 năm thành lập Ngành kiểm sát nhân dân. Nguồn: Báo bảo vệ Pháp luật (Viện Kiểm sát nhân dân tối cao)

Một cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực hiệu quả không chỉ được đo bằng số vụ án được phát hiện, số người bị xử lý hay số tài sản được thu hồi. Giá trị sâu xa hơn là từ mỗi vụ án, những sơ hở trong quản lý phải được nhận diện, những khoảng trống trong cơ chế phải được khắc phục, để sai phạm không có cơ hội lặp lại. Đó chính là bước chuyển từ “chống” sang “phòng”, từ xử lý hậu quả sang chủ động ngăn ngừa nguy cơ.

Trong nhiệm kỳ 2021-2026, ngành Kiểm sát nhân dân tiếp tục tăng cường trách nhiệm công tố, kiểm sát chặt chẽ hoạt động tư pháp, thực hiện phương châm công tố “sớm hơn, sát hơn, sâu hơn, sắc hơn”, nhất là đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng, chức vụ thuộc diện Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực các cấp theo dõi, chỉ đạo.

Đối với mỗi vụ án, yêu cầu đặt ra không chỉ là bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mà còn phải chủ động làm rõ phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi vi phạm; xác định đầy đủ nguyên nhân, điều kiện phát sinh sai phạm và những sơ hở, bất cập trong cơ chế quản lý, điều hành để kịp thời kiến nghị khắc phục, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường các giải pháp phòng ngừa. Qua đó, công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp không chỉ góp phần xử lý nghiêm minh các hành vi tham nhũng, tiêu cực mà còn hướng tới “xử lý một vụ án, cảnh tỉnh nhiều vụ việc, khắc phục một lỗ hổng, phòng ngừa nhiều nguy cơ”, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ngay từ cơ sở.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm tại phiên tòa vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Sở Y tế tỉnh Sơn La

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm tại phiên tòa vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng; thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Sở Y tế tỉnh Sơn La

Một lát cắt từ thực tiễn của tỉnh Sơn La cho thấy rõ yêu cầu đó. Vụ án Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng và Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Sở Y tế tỉnh Sơn La được phát hiện từ việc tiếp nhận, giải quyết đơn tố giác liên quan đến công tác mua sắm thiết bị, vật tư, hóa chất phục vụ phòng, chống dịch Covid-19, trong đó có gói thầu mua sắm trang thiết bị y tế tuyến xã, tuyến y tế cơ sở năm 2019 do Sở Y tế tỉnh Sơn La làm chủ đầu tư. Đây là vụ án có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều cán bộ có chức vụ quản lý và nhiều cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; được Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, chỉ đạo và từ tháng 9/2021 được bổ sung vào diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo.

Quá trình giải quyết vụ án đặt ra yêu cầu cao đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Viện Kiểm sát, không chỉ bảo đảm việc xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mà còn phải làm rõ bản chất, phương thức, thủ đoạn của hành vi vi phạm, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức có liên quan và những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, đấu thầu, mua sắm công để có biện pháp khắc phục, phòng ngừa.

Điều đáng chú ý ở vụ án này không chỉ nằm ở số người bị xử lý hay mức độ thiệt hại được xác định, mà ở cách quyền lực gắn với nguồn lực công được nhận diện, kiểm soát và xử lý. Từ khâu giải quyết nguồn tin về tội phạm, các kiểm sát viên đã thực hiện nghiêm trách nhiệm công tố; trong quá trình điều tra, Viện kiểm sát phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Cảnh sát điều tra làm rõ sai phạm trong hoạt động đấu thầu, xác định trách nhiệm của từng cá nhân, làm rõ thiệt hại đối với ngân sách nhà nước và giải quyết vụ án toàn diện, triệt để theo tinh thần chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương.

Đặc biệt, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không dừng lại ở việc làm rõ hành vi phạm tội, xác định trách nhiệm của từng cá nhân mà còn hướng tới mục tiêu thu hồi đến cùng tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt. Trong quá trình giải quyết vụ án, Viện kiểm sát đã yêu cầu xác minh, thu hồi tài sản của các bị can; phối hợp áp dụng các biện pháp bảo đảm để phục vụ việc khắc phục hậu quả như kê biên tài sản, tạm giữ tiền; trong đó, 2 bị can bị kê biên nhà, đất; hơn 4 tỷ đồng được các tổ chức, cá nhân và bị can tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả. Những kết quả đó cho thấy một yêu cầu rất cụ thể của kiểm soát quyền lực: quyền lực bị lạm dụng phải được xử lý nghiêm minh; tài sản do hành vi vi phạm mà có phải được truy tìm, thu hồi; hậu quả do việc lạm dụng quyền lực gây ra phải được khắc phục thực chất.  Đây không chỉ là yêu cầu về xử lý hình sự mà còn là thước đo hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bởi xử lý nghiêm mà không thu hồi được tài sản thì hiệu quả răn đe và tính nghiêm minh của pháp luật chưa được phát huy đầy đủ.

Từ một vụ án cụ thể, giá trị của công tác kiểm sát còn được mở rộng sang yêu cầu phòng ngừa. Trong giai đoạn 2021-2026, Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Sơn La đã ban hành 488 kiến nghị khắc phục vi phạm, kiến nghị phòng ngừa đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan quản lý nhà nước; trong lĩnh vực kiểm sát tin báo, điều tra có 23 kiến nghị phòng ngừa vi phạm, tội phạm liên quan đến án tham nhũng, chức vụ. Nội dung kiến nghị tập trung vào những lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ phát sinh sai phạm như quản lý đất đai, trật tự xây dựng, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, quản lý tài chính... đều được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận, tiếp thu.

Đồng chí Vũ Trung Thành - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị triển khai công tác năm 2026 ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Nguồn: Báo Sơn La

Đồng chí Vũ Trung Thành - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị triển khai công tác năm 2026 ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Nguồn: Báo Sơn La

Điều đáng nói là, đằng sau mỗi kiến nghị không chỉ là việc chỉ ra một vi phạm đã xảy ra, mà quan trọng hơn là nhận diện nguyên nhân, điều kiện và những “khoảng trống” trong quản lý để cảnh báo, khắc phục trước khi sai phạm có thể trở thành tội phạm. Khi một sai phạm được phát hiện và xử lý, pháp luật tạo ra sức răn đe. Nhưng khi từ sai phạm đó một quy trình được sửa đổi, một lỗ hổng được bịt lại, trách nhiệm được xác định rõ hơn và nguy cơ tái diễn được giảm xuống, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mới thực sự đi thêm một bước.

Nếu một vụ án được xử lý nghiêm là kết quả của công tác “chống”, thì một kiến nghị được tiếp thu, một quy trình quản lý được chấn chỉnh, một kẽ hở được khắc phục để không phát sinh sai phạm mới chính là giá trị của công tác “phòng”. Đây cũng là nơi chức năng kiểm sát thể hiện rõ hơn vai trò không chỉ xử lý cái sai đã xảy ra mà còn góp phần cảnh báo, ngăn chặn cái sai có thể xảy ra.

Những kết quả ấy không phải những con số đứng riêng lẻ. Chúng nằm trong hành trình xây dựng và trưởng thành của  Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, nơi những nỗ lực bảo vệ pháp luật, đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực, giữ gìn kỷ cương quản lý nhà nước đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý.

Năm 2025,  Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn la vinh dự được tặng danh hiệu “Huân chương Lao động hạng Nhất” do có thành tích xuất sắc trong việc giải quyết các vụ án ma túy, các vụ án về tham nhũng, chức vụ thuộc diện Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Trung ương, tỉnh theo dõi, chỉ đạo. Phần thưởng ấy không phải là dấu ấn của riêng một vụ án, mà là sự ghi nhận đối với cả một quá trình phấn đấu, trong đó những vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ được giải quyết nghiêm minh, những tài sản thất thoát được truy tìm, thu hồi và những kiến nghị phòng ngừa được thực hiện đến cùng đã góp phần tạo nên hình ảnh một ngành Kiểm sát ngày càng chủ động, quyết liệt và sâu sắc hơn trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước

Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất của Chủ tịch nước

Từ thực tiễn Sơn La có thể thấy, kiểm soát quyền lực phải được thực hiện từ sớm, từ xa, ngay từ những dấu hiệu bất thường, sơ hở trong quản lý, nhất là ở những khâu gắn với tài sản, nguồn lực công. Vì vậy, mỗi vụ án không nên khép lại chỉ bằng một bản án; phía sau bản án phải là những cảnh báo được rút ra, kiến nghị được tiếp thu và cơ chế được chấn chỉnh, góp phần ngăn ngừa sai phạm tái diễn. Đó chính là sự chuyển dịch từ “chống” sang “phòng”: Từ xử lý một vụ việc sang ngăn ngừa những vụ việc tương tự; từ thu hồi tài sản sau khi thất thoát sang kiểm soát chặt chẽ ngay từ quá trình quản lý; từ phát hiện sai phạm sang nhận diện những điều kiện làm phát sinh sai phạm. Với ngành Kiểm sát nhân dân, đó cũng là cách để “thanh bảo kiếm” của công lý không chỉ sắc bén trong đấu tranh mà còn trở thành một thiết chế phòng ngừa, góp phần làm cho quyền lực được thực thi đúng giới hạn, đúng trách nhiệm và vì lợi ích chung.

Từ “không dám” đến “không thể”, "không muốn","không cần": Bốn lớp phòng vệ để quyền lực không bị tha hóa

Kiểm soát quyền lực không phải để làm quyền lực yếu đi, mà để bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền và vì lợi ích chung. Thực tiễn phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực những năm qua cho thấy, nếu chỉ xử lý khi sai phạm đã xảy ra thì chưa đủ; quan trọng hơn là phải chủ động thiết lập những hàng rào để ngăn chặn sai phạm từ trước. Từ yêu cầu đó, có thể nhìn nhận kiểm soát quyền lực qua bốn lớp phòng vệ: "không thể", "không dám", "không muốn" "không cần" tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

''Không thể” trước hết phải được tạo ra bằng thể chế. Khi quyền lực được trao nhưng không được kiểm soát, khoảng trống giữa thẩm quyền và trách nhiệm rất dễ trở thành nơi phát sinh tiêu cực. Bởi vậy, phải phân định rõ thẩm quyền, gắn quyền hạn với trách nhiệm, kiểm soát quá trình ra quyết định, đề cao trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và tăng cường giám sát ở những lĩnh vực có nguy cơ cao. Đây là yêu cầu được đặt ra trong chủ trương của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đối với lĩnh vực tư pháp, yêu cầu kiểm soát quyền lực được cụ thể hóa tại Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Quy định đã xác định rõ những hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền lực, can thiệp, tác động trái quy định vào hoạt động tư pháp, đồng thời đề cao trách nhiệm của từng chủ thể trong kiểm soát quyền lực, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực ngay trong quá trình thực thi nhiệm vụ[4].

“Không dám” là hàng rào của kỷ luật và pháp luật. Một nền công vụ nghiêm minh phải tạo ra nhận thức rõ ràng rằng chức vụ không phải là đặc quyền, quyền hạn không phải tài sản riêng và không ai có thể đứng ngoài sự kiểm soát của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Xử lý nghiêm minh người vi phạm để răn đe, giáo dục, phòng ngừa; đồng thời bảo vệ người dám đấu tranh với tham nhũng, tiêu cực - đó là cách biến mỗi vụ việc được xử lý thành một thông điệp cảnh tỉnh đối với cả bộ máy.

Nhưng “không dám” mới chỉ là hàng rào bên ngoài; “không muốn” mới là hàng rào từ bên trong. Một cán bộ có thể không vi phạm vì sợ bị phát hiện, nhưng một nền công vụ liêm chính phải hướng tới điều sâu hơn: Cán bộ không muốn tham nhũng bởi coi trọng danh dự, trách nhiệm và giá trị nghề nghiệp hơn lợi ích cá nhân.

Với cán bộ kiểm sát, yêu cầu ấy càng trở nên đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ ngành Kiểm sát phải “công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”. Những phẩm chất ấy không chỉ là chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp mà còn là “hàng rào” tự kiểm soát quyền lực từ bên trong mỗi cán bộ.

Và để cán bộ “không muốn”, cần hướng tới một môi trường để họ “không cần” tìm kiếm lợi ích bất chính. “Không cần” không phải là sự biện minh cho tham nhũng, mà là yêu cầu xây dựng nền công vụ trong đó người cán bộ được làm việc trong môi trường công bằng, minh bạch; được đánh giá bằng năng lực, hiệu quả; được ghi nhận đúng với đóng góp và có cơ hội phát triển chính đáng. Công tác cán bộ phải bảo đảm lựa chọn đúng người, giao đúng việc, kiểm soát quyền lực trong tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển và đánh giá cán bộ.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị bốc thăm, kê khai tài sản, thu nhập phải xác minh đối với Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp thuộc diện phải kê khai. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tổ chức Hội nghị bốc thăm, kê khai tài sản, thu nhập phải xác minh đối với Lãnh đạo Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp thuộc diện phải kê khai. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Từ đó có thể thấy, “4 không” không phải bốn khẩu hiệu đứng cạnh nhau, mà là bốn lớp phòng vệ liên hoàn của quyền lực: Thể chế để không thể; pháp luật, kỷ luật để không dám; đạo đức và văn hóa liêm chính để không muốn; môi trường công vụ lành mạnh để không cần.

Nếu “không dám” là kết quả của sức răn đe, thì “không thể” mới là đích đến của phòng ngừa. Bởi xử lý một người vi phạm có thể giữ nghiêm kỷ cương, nhưng bịt được kẽ hở khiến nhiều người khác không thể lợi dụng quyền lực mới là cách kiểm soát quyền lực từ gốc.

Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, điều đó đặt ra yêu cầu kép: Vừa kiểm sát việc thực thi quyền lực của các chủ thể khác, vừa tự kiểm soát chặt chẽ quyền lực được trao cho mình. Mỗi quyết định truy tố phải được kiểm chứng bằng chứng cứ; mỗi quan điểm giải quyết vụ án phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật; mỗi cán bộ phải ý thức rõ giới hạn quyền lực và trách nhiệm cá nhân. Quyền lực công tố chỉ thực sự mạnh khi được thực thi bằng bản lĩnh, nhưng đồng thời được ràng buộc bằng pháp luật, quy trình và trách nhiệm.

Khi “không thể” được bảo đảm bằng thể chế, “không dám” được củng cố bằng kỷ luật, “không muốn” được nuôi dưỡng bằng liêm chính và “không cần” được tạo dựng bằng một môi trường công vụ lành mạnh, kiểm soát quyền lực mới thực sự trở thành một cơ chế phòng ngừa từ gốc.

Từ kiểm soát quyền lực đến kiến tạo văn hóa liêm chính trong ngành Kiểm sát nhân dân

Kiểm soát quyền lực, xét đến cùng, không chỉ là dựng lên những hàng rào bằng quy định, quy trình và chế tài, mà còn phải hình thành khả năng tự kiểm soát trong chính mỗi người thực thi quyền lực. Với ngành Kiểm sát nhân dân, yêu cầu ấy càng đặc biệt, bởi mỗi quyết định công tố, mỗi quan điểm kiểm sát đều có thể tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và Nhân dân. Vì vậy, bên cạnh cơ chế kiểm soát từ bên ngoài, cần xây dựng một “hàng rào” từ bên trong - đó là bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa liêm chính của người cán bộ kiểm sát.

Văn hóa ấy trước hết được bắt đầu từ trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu và được cụ thể hóa trong từng vị trí công tác. Quyền hạn đến đâu, trách nhiệm phải đến đó; được giao quyền quyết định càng lớn thì yêu cầu tự kiểm soát càng cao. Người cán bộ Kiểm sát phải hiểu rằng chức vụ không phải là đặc quyền, quyền hạn không phải tài sản riêng, còn sự tín nhiệm của tổ chức và Nhân dân là một sự ủy thác phải được đáp lại bằng công tâm, chính trực, khách quan, thận trọng.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt trong việc thực hiện Chỉ thị số 06/CT-TW ngày 6/6/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới và Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới.

Nếu Chỉ thị 06 đặt yêu cầu nâng cao trách nhiệm của ngành Kiểm sát trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, chức vụ[5], đặc biệt là việc thu hồi tài sản phạm tội thì Chỉ thị 07 nhấn mạnh việc học tập và thực hành theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh[6]. Một bên là trách nhiệm kiểm soát đến cùng đối với tài sản, lợi ích của Nhà nước và Nhân dân; một bên là yêu cầu tự rèn luyện, tự soi, tự sửa của người cán bộ. Hai yêu cầu ấy gặp nhau ở một điểm: quyền lực chỉ có ý nghĩa khi được thực thi bằng trách nhiệm và liêm chính.

Bởi vậy, học tập không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu, còn liêm chính không thể chỉ được đo bằng việc không vi phạm. Liêm chính phải được thể hiện trong từng hồ sơ được nghiên cứu, từng chứng cứ được đánh giá, từng quyết định được ban hành; trong cách Kiểm sát viên ứng xử trước tác động, lợi ích và những tình huống có thể làm chệch hướng phán đoán nghề nghiệp. Một Kiểm sát viên liêm chính không phải là người chưa từng đứng trước sự lựa chọn, mà là người luôn biết lựa chọn đúng khi đứng trước quyền lực và lợi ích.

Các Chi bộ trực thuộc Đảng bộ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tích cực thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Các Chi bộ trực thuộc Đảng bộ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tích cực thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Trong quá trình đó, chuyển đổi số cũng mở thêm một lớp kiểm soát quyền lực. Số hóa hồ sơ, quản lý tiến độ, hệ thống hóa chứng cứ, sử dụng sơ đồ tư duy, trình chiếu tài liệu tại phiên tòa… không chỉ nâng cao chất lượng nghiệp vụ mà còn làm cho quá trình thực thi quyền lực trở nên minh bạch, có thể kiểm tra và kiểm chứng. Việc Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đạt thành tích cao tại Cuộc thi “Báo cáo án bằng sơ đồ tư duy trong ngành Kiểm sát nhân dân” năm 2024 cho thấy đổi mới công nghệ đang từng bước trở thành đổi mới phương thức tư duy, giúp Kiểm sát viên nhìn vụ án toàn diện hơn, kiểm chứng lập luận chặt chẽ hơn và chịu trách nhiệm rõ hơn đối với quan điểm của mình.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La làm việc với đoàn công tác của Ban Nội chính tỉnh ủy về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; công tác tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La làm việc với đoàn công tác của Ban Nội chính tỉnh ủy về công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; công tác tiếp công dân; tiếp nhận, xử lý và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Nhưng một nền văn hóa liêm chính không thể chỉ được xây dựng trong mỗi cơ quan. Quyền lực công, suy cho cùng, phải được đo bằng những giá trị cụ thể mà nó tạo ra cho Nhân dân. Tinh thần ấy được thể hiện rõ qua việc ngành Kiểm sát nhân dân chủ động mở rộng phương thức thực hiện chức năng, hướng hoạt động kiểm sát đến việc bảo vệ lợi ích công và những nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội.

Thực hiện tinh thần Nghị quyết số 205/2025/QH15 về thí điểm Viện kiểm sát nhân dân khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền dân sự của các chủ thể là nhóm dễ bị tổn thương hoặc bảo vệ lợi ích công, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2026, Viện kiểm sát các cấp đã tiếp nhận 858 thông tin vụ việc dân sự công ích, xử lý 652 thông tin, thụ lý 279 vụ việc, ban hành 69 quyết định yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, áp dụng biện pháp ngăn chặn, khắc phục hậu quả; đồng thời ban hành 8 kiến nghị khởi kiện và 299 kiến nghị phòng ngừa, khắc phục vi phạm pháp luật.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La thực hiện bảo vệ lợi ích công và nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội theo Nghị quyết 205 của Quốc hội

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La thực hiện bảo vệ lợi ích công và nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội theo Nghị quyết 205 của Quốc hội

Tại Sơn La, dù không thuộc địa phương được lựa chọn thí điểm, Viện kiểm sát hai cấp vẫn chủ động triển khai, tiếp nhận 22 vụ việc với 179 trường hợp dân sự công ích trong 6 tháng đầu năm; ban hành 22 kiến nghị, cơ bản được các cơ quan, tổ chức hữu quan tiếp thu và thực hiện. Những con số ấy cho thấy kiểm soát quyền lực không chỉ là ngăn quyền lực bị lạm dụng, mà còn là bảo đảm quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và hướng tới những người cần được bảo vệ nhất. Bởi phía sau mỗi quyền hạn được trao không phải là một đặc quyền, mà là một trách nhiệm; và thước đo cuối cùng của trách nhiệm ấy chính là những lợi ích chính đáng của Nhân dân được bảo vệ, những quyền bị bỏ quên được khôi phục và niềm tin vào công lý được bồi đắp từ những việc làm cụ thể.

Từ đó, kiểm soát quyền lực không còn chỉ là câu chuyện người này kiểm soát người kia, mà trở thành quá trình mỗi cán bộ tự đặt ra giới hạn cho chính mình. Khi người thực thi quyền lực biết tự soi trước khi được kiểm tra, biết dừng lại trước khi bước qua giới hạn, biết đặt lợi ích công lên trên lợi ích riêng, thì cơ chế kiểm soát mới thực sự đi vào chiều sâu. Đó chính là bước chuyển quan trọng: Từ kiểm soát quyền lực bằng những hàng rào bên ngoài đến tự kiểm soát bằng hàng rào liêm chính bên trong; từ yêu cầu “không dám” làm sai đến hình thành một đội ngũ “không muốn” làm sai. Và khi văn hóa ấy trở thành thói quen nghề nghiệp, kiểm soát quyền lực sẽ không còn là áp lực đối với người cán bộ, mà trở thành sức mạnh để bảo vệ người làm đúng, ngăn ngừa cái sai và giữ gìn uy tín của ngành Kiểm sát nhân dân trước Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Kiểm soát quyền lực, suy cho cùng, không phải để quyền lực bị trói buộc, càng không phải để người cán bộ sợ trách nhiệm. Điều cần kiểm soát là sự tha hóa của quyền lực; điều cần bảo vệ là quyền lực được sử dụng đúng mục đích, đúng thẩm quyền và vì lợi ích chung. Một thể chế mạnh không phải là nơi có thật nhiều quy định để ngăn con người hành động, mà là nơi quyền lực được đặt trong những giới hạn đủ rõ để người làm đúng có thể hành động, người làm sai không thể dễ dàng lạm dụng và mọi hành vi vượt rào đều phải chịu trách nhiệm.

Đồng chí Vũ Hùng Sơn - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo giải quyết vụ án tham ô tài sản xảy ra tại trường mầm non Hoa Đào, tỉnh Sơn La. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Đồng chí Vũ Hùng Sơn - Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh trực tiếp chỉ đạo giải quyết vụ án tham ô tài sản xảy ra tại trường mầm non Hoa Đào, tỉnh Sơn La. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Với ngành Kiểm sát nhân dân, điều đó được thể hiện từ những công việc rất cụ thể: Một quyết định tố tụng đúng pháp luật, một kháng nghị kịp thời, một kiến nghị chỉ ra đúng vi phạm, một sơ hở được cảnh báo trước khi trở thành sai phạm, một tài sản của Nhà nước được truy tìm, kê biên, thu hồi, một quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ. Mỗi kết quả ấy không chỉ là một con số trong báo cáo công tác, mà là một mắt xích trong cơ chế bảo đảm pháp luật được tôn trọng và quyền lực được vận hành trong khuôn khổ. Bởi vậy, thước đo sâu xa của kiểm soát quyền lực không chỉ nằm ở việc đã xử lý được bao nhiêu vụ án, kỷ luật bao nhiêu cán bộ hay ban hành bao nhiêu kiến nghị, mà còn ở những điều chưa xảy ra: một hành vi tiêu cực được ngăn chặn từ sớm, một kẽ hở được khắc phục, một quyết định sai được cảnh báo, một tài sản Nhà nước được bảo toàn, một người dám đấu tranh với cái sai được bảo vệ.

Đoàn công tác của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La làm việc tại Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Đoàn công tác của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La làm việc tại Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Sơn La. Nguồn: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La

Khi phòng ngừa ngày càng đi trước xử lý, khi cái sai khó có cơ hội hình thành và quyền lực không còn dễ dàng bị biến thành đặc quyền, đó mới là dấu hiệu của một cơ chế kiểm soát quyền lực thực chất. Và ở đây, yêu cầu đối với ngành Kiểm sát càng đặc biệt. Người cầm “thanh bảo kiếm” công lý không chỉ phải đủ bản lĩnh để bảo vệ pháp luật, mà còn phải đủ liêm chính để tự đặt mình dưới sự kiểm soát của pháp luật. Kiểm sát người khác mà không tự kiểm soát mình thì chưa thể nói đến kiểm soát quyền lực một cách đầy đủ. Vì thế, xây dựng văn hóa liêm chính trong ngành không phải là một yêu cầu bổ sung, mà chính là nền tảng để quyền công tố, quyền kiểm sát không bị lệch khỏi quỹ đạo của công lý.

Từ “không dám” đến “không thể”, từ xử lý đến phòng ngừa, từ những hàng rào của thể chế đến sự tự kiểm soát của mỗi cán bộ - đó là hành trình làm cho quyền lực ngày càng được sử dụng đúng mục đích. Để không chỉ có người sợ vi phạm, mà cơ chế không cho phép vi phạm dễ dàng xảy ra; không chỉ có người không dám vụ lợi, mà hình thành một môi trường không muốn và không cần vụ lợi. Sau cùng, kiểm soát quyền lực không phải là câu chuyện của những con số trong báo cáo hay những quy định nằm trên giấy. Đó là câu chuyện về niềm tin: Niềm tin rằng cán bộ được giao quyền sẽ không sử dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích riêng; niềm tin rằng pháp luật được thực thi công bằng; niềm tin rằng người làm đúng được bảo vệ, người làm sai phải chịu trách nhiệm và không có vùng cấm nào đứng ngoài pháp luật.

Khi quyền lực được kiểm soát bằng thể chế, soi chiếu bằng pháp luật và được giữ gìn bởi sự liêm chính của người thực thi, “thanh bảo kiếm” công lý sẽ không bị hoen gỉ bởi lợi ích cá nhân. Khi ấy, quyền lực trở về đúng nơi nó thuộc về - Nhân dân. Kiểm soát quyền lực vì thế không phải để làm quyền lực yếu đi, mà để quyền lực không bị biến thành đặc quyền; không phải để người cán bộ sợ quyền lực, mà để mỗi người hiểu sâu sắc rằng quyền lực mình nắm giữ là sự ủy thác của Nhân dân. Quyền lực được trao để phụng sự. Và giá trị cao nhất của kiểm soát quyền lực là giữ cho sự phụng sự ấy luôn đúng hướng - vì Nhân dân, vì công lý, vì lợi ích chung.

Tài liệu tham khảo:

[1] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, tập I, tr.34, HN, 2026.

[2] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQGST, tập I, tr.130, HN, 2026.

[3] Báo cáo công tác nhiệm kỳ 2021-2026 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[4] Quy định số 132-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

[5] Chỉ thị 06-CT/TW ngày 6/6/2026 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng dối với công tác kiểm sát nhân dân trong giai đoạn mới.

[6] Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

Ngày xuất bản: 21/9/2026
Nhóm tác giả: Thu Quý - Ngọc Diệp - Cầm Hà - Ngọc Bích
Văn phòng VKSND tỉnh Sơn La
Trình bày: Bảo Minh