Trước khi rời mảnh đất Hồng Thái (huyện Na Hang cũ) xuống xuôi làm đủ nghề, anh Đặng Ngọc Phố “dắt lưng” 20ha trên núi cao trồng trà Shan Tuyết để làm nơi trở về. Thế rồi anh về quê thật. Và đã về là làm tới cùng, để trà Shan Tuyết được “cất cánh” ngay trên vùng đất quanh năm sương mù này. Hợp tác xã Sơn Trà ra đời cả chục năm, đổi đời cho bà con vùng núi cao, nhưng nỗi niềm ấp ủ của ông chủ Đặng Ngọc Phố vẫn còn đó…
“Nếu không làm chè, chúng tôi cũng chỉ biết làm nương rẫy. Nhìn nơi khác làm được từ cây chè, mình mới nghĩ tại sao mình không thử. Nông sản sạch mình đã có, chỉ là phải làm thế nào đây”, anh Đặng Ngọc Phố, Chủ nhiệm Hợp tác xã Sơn Trà mang theo băn khoăn khi rời xuôi trở về quê hương để làm trà. Khi ấy, đồng bào Dao của anh chỉ coi chè Shan Tuyết là nước uống trong gia đình, chè đầy trên núi, chẳng ai buồn hái, nghĩ gì tới bán ra tiền.
Dù bị bỏ hoang, thậm chí bị đốn sát chân để làm củi, nhưng những tán cây trà Shan Tuyết cổ thụ vẫn vươn mình đầy sức sống giữa sương mù. Những búp non không ngừng chen nhau nở ra trên thân cây xù xì, sống khỏe mạnh chẳng mất công chăm bón.
Ông Đặng Ngọc Phố. Ảnh: NVCC
Ông Đặng Ngọc Phố. Ảnh: NVCC
Anh Phố trở về với “vốn dắt lưng” là 20ha trà Shan Tuyết, gia đình anh nhận trồng theo chương trình 661 phủ xanh đất trống, đồi trọc những năm 2000. Hằng năm, gia đình anh có về phát quang và nghĩ một ngày nào đó có thể quay về làm chè. Và sau nhiều năm bôn ba, thất bại là nhiều, anh chọn trở về quê hương, làm lại từ đầu, bằng chính sản vật thiên nhiên quê mẹ ưu đãi.
Khởi nghiệp với một người vừa thất bại trong làm ăn như anh Phố gặp muôn vàn khó khăn. Ban đầu, anh chỉ xây dựng một xưởng nhỏ để thử nghiệm sản xuất. Trong suốt 6 năm đầu, việc sản xuất liên tục thua lỗ, sản phẩm làm ra chưa đạt chất lượng, thị trường chưa chấp nhận.
"Khó khăn lớn nhất là thay đổi nhận thức của người dân".
“Khó khăn lớn nhất là thay đổi nhận thức của người dân”, anh kể. Trước đây, cây trà không mang lại thu nhập nên người dân không mặn mà chăm sóc. Khi bắt đầu vận động, nhiều người không tin vì chưa thấy đầu ra.
Để tính được giá ngày công sát nhất, anh cho người nhà, hoặc đội trong tổ đi hái thử nghiệm xem một ngày làm thật lực được bao nhiêu thì mới quy ra giá mua. Anh nhẩm tính, ít nhất người dân phải thu được 200.000 đồng/ngày thì họ mới đi hái chè. Để tạo niềm tin, dần dần anh chấp nhận thu mua trà với giá cao hơn, dù chưa có lợi nhuận. Nhưng lúc đầu bà con đốn chè sai kỹ thuật, đốn đau quá, mất hết búp. Anh vẫn phải thu búp mà không có lợi nhuận.
Anh Đặng Ngọc Phố và bà con Hợp tác xã Sơn Trà.
Anh Đặng Ngọc Phố và bà con Hợp tác xã Sơn Trà.
Việc tìm thị trường cũng lắm gian truân. Anh phải tự đi xe máy đến nhiều tỉnh để chào hàng nhưng chẳng khách nào mảy may bận tâm, các sạp tạp hóa lắc đầu nguầy nguậy vì chỉ biết mỗi thương hiệu trà Thái Nguyên. Không nản chí, anh chọn cách tặng sản phẩm dùng thử kèm theo số điện thoại. Dần dần, khi chất lượng được công nhận, khách hàng bắt đầu chủ động liên hệ đặt hàng.
Song song đó, anh chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm, hoàn thiện bao bì, xây dựng thương hiệu theo đúng quy định.
Hơn 6 năm ròng rã, trong giai đoạn khó khăn, anh từng phải bán tài sản (mảnh đất trị giá 130 triệu đồng thời điểm đó, nay có thể lên tới khoảng 3 tỷ đồng) để duy trì sản xuất. Có những lúc lỗ nặng, trà không bán được phải bỏ đi, anh em chung vốn cũng bỏ mình đi. Chỉ có 20ha trồng trà Shan Tuyết anh gây dựng từ 25 năm trước để làm nguồn nguyên liệu cho xưởng sản xuất là nhất quyết anh không bán. Chỉ có sự kiên định giữ người đàn ông này không bỏ cuộc: “Tôi nghĩ, nếu mình cho cây trà này có giá trị, có thương hiệu, thị trường tiếp nhận được rồi thì nó sẽ bền vững. Nghĩ thế, tôi cố gắng làm”.
Sản xuất được trà đạt chuẩn, Hợp tác xã đã đầu tư thiết kế các mẫu hộp quà tặng sang trọng.
Sản xuất được trà đạt chuẩn, Hợp tác xã đã đầu tư thiết kế các mẫu hộp quà tặng sang trọng.
Đến năm thứ 7, chất lượng sản phẩm mới bắt đầu ổn định. Dần dần, anh học hỏi thêm, đưa vào các tiêu chuẩn như ISO, OCOP. Sản xuất được trà đạt chuẩn, Hợp tác xã đã đầu tư thiết kế các mẫu hộp quà tặng sang trọng. Đặc biệt, mẫu mã bao bì còn được gửi cho các lãnh đạo tỉnh và huyện duyệt để bảo đảm tính thẩm mỹ và trang trọng cho một sản phẩm đại diện địa phương.
Một bước ngoặt quan trọng xảy ra vào năm 2019, khi sản phẩm trà của hợp tác xã được lựa chọn làm quà tặng cho Thủ tướng Malaysia. Sự kiện này giúp thương hiệu được biết đến rộng rãi hơn. Trong suốt mấy chục năm lăn lộn làm kinh tế, đấy là thời điểm anh Phố bảo mình xúc động nhất. “Tôi gọi các thành viên hợp tác xã bảo: Đây là cơ hội, phải giữ chất lượng. Chỉ cần làm tốt nhất trong khả năng của mình”, anh kể.
Đến năm 2020, trà Shan Tuyết đạt chứng nhận OCOP 3 sao, rồi bắt đầu nâng cao chất lượng, hoàn thiện dần. Đến khoảng 2022-2023 trở đi, Hợp tác xã Sơn Trà có đầu ra ổn định, có chỗ đứng trên thị trường.
Trà Shan Tuyết Việt Nam nổi tiếng nhất ở các vùng núi cao phía bắc, ở độ cao 800-2000m. Nhiều nơi, còn có độ cao và sương mù hơn mảnh đất Hồng Thái, Tuyên Quang. Nếu không làm ra được “chất” riêng, thì Shan Tuyết Hồng Thái khó có sức cạnh tranh trên thị trường.
Anh Phố băn khoăn, nếu làm cùng dòng chè như Thái Nguyên thì mình không thể làm được, bởi vì trà Thái Nguyên có thị trường rộng, phủ sóng cả nước, vươn ra thế giới.
Cứ thấy ở đâu có chè, đặc biệt là chè Shan Tuyết, là anh mua về uống thử, rồi so sánh. Uống chè của mình với chè của họ thì thấy cái này mình thiếu, cái kia họ có; hoặc ngược lại, mình có cái này thì lại thiếu cái khác.
Anh Phố bôn ba khắp nơi học hỏi cách làm trà. Anh trình bày những cái mình đang làm, những cái còn thiếu, rồi đem chè của các vùng như Hà Giang, Yên Bái ra so sánh. Mỗi người góp ý một chút, anh ghi chép cẩn thận rồi về áp dụng, rút kinh nghiệm, bớt cái này, thêm cái kia, nhưng vẫn chưa đạt được như mong muốn.
Sau đó, anh Phố phát hiện ra một vấn đề rất quan trọng là lò sao chè của Hợp tác xã làm chưa đúng tiêu chuẩn. Có người lên xem xong bảo thẳng: “Nếu không sửa lò thì làm cả đời cũng không ra được chè ngon”. Thế là anh mạnh dạn đầu tư máy móc lò sấy, tiếp tục mời người lên hướng dẫn, làm đi làm lại, chất lượng có khá hơn nhưng vẫn chưa thật sự đạt.
Anh tiếp tục xuống Thái Nguyên thêm vài lần, rồi lại mời họ lên. Mỗi lần học được một chút, nhưng vì chè của mình là lá to, còn của họ là lá nhỏ nên anh không thể áp dụng y nguyên. Thành quả cuối cùng với anh Phố chính là học nhiều người, mỗi người một kinh nghiệm, rồi tự đúc kết lại.
Khi chính quyền địa phương dùng trà, giới thiệu trà Shan Tuyết, thì khi đó trà mới dần có chỗ đứng trên thị trường ở địa phương và các vùng lân cận.
---Ông Đặng Ngọc Phố---
“Có những người họ cũng không chia sẻ hết, nhưng mỗi người chỉ cho mình một phần. Mình gom lại, thử nghiệm, so sánh liên tục: cái này được thì lại mất cái kia, rồi lại điều chỉnh dần. Nói chung là phải học nhiều thầy, tự rút kinh nghiệm thì mới làm ra được sản phẩm có chất lượng. Chứ nếu chỉ làm một mình thì không thể thành công được”, anh tâm sự.
Làm rồi, anh Phố mới nhận ra, việc gây dựng uy tín trên thị trường rất quan trọng, và không đâu bằng cách là chính chính quyền địa phương đứng ra bảo chứng cho chất lượng sản phẩm. Anh đề xuất phải gắn lợi ích của người dân với cây chè. Đồng thời nhờ chính quyền hỗ trợ tiêu thụ ban đầu để tạo niềm tin. “Khi chính quyền địa phương dùng trà, giới thiệu trà Shan Tuyết, thì khi đó trà mới dần có chỗ đứng trên thị trường ở địa phương và các vùng lân cận”, anh Phố chia sẻ.
“Mánh” tiếp thị của ông chủ thương hiệu trà Shan Tuyết Sơn Trà chính là ai nghi ngờ, ai chê là anh cứ biếu uống thử. Uống dần quen, những khách hàng thử đó trở thành khách hàng ruột.
Bên cạnh đó, anh nhận ra việc gắn lợi ích của người dân với sản phẩm là yếu tố then chốt. Khi người dân có thu nhập ổn định từ cây trà, họ sẽ tự giác bảo vệ và phát triển vùng nguyên liệu.
Anh Đặng Ngọc Hoàn, con trai ông Đặng Ngọc Phố.
Anh Đặng Ngọc Hoàn, con trai ông Đặng Ngọc Phố.
Gần chục năm qua, anh Phố chỉ mở rộng thêm diện tích trồng trà Shan Tuyết thêm 1ha, lên 21ha. Anh giao đất cho bà con canh tác chăm sóc, thu hái. Với giá thu mua búp chè khoảng 50.000 đồng/kg, anh trả người dân 48.000 đồng, chỉ giữ 2.000 đồng/kg. Người dân có thu nhập, anh có nguồn nguyên liệu ổn định.
Anh kéo con trai Đặng Văn Hoàn về quê, giúp anh cai quản xưởng sản xuất trà và làm việc trực tiếp với bà con. Đón chúng tôi trong một ngày Hồng Thái mù mịt sương giăng khi đã quá trưa, Hoàn dẫn chúng tôi ra xưởng trà kể, Hợp tác xã thực hiện chính sách thu mua toàn bộ sản phẩm cho người dân, không để tình trạng thừa trà hay để bà con phải bỏ trà tươi. Ngay cả những mẻ trà nhỏ chỉ khoảng 5kg, Hợp tác xã vẫn tổ chức sản xuất để bảo đảm công sức của người dân không bị lãng phí. Việc thu mua này không phân biệt người trong hay ngoài hợp tác xã, nhằm khuyến khích tất cả các hộ dân cùng giữ gìn và trồng mới cây trà.
Để người dân không còn đốn trà làm củi, Hợp tác xã đã nỗ lực xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thị trường. Khi trà có giá trị cao (từ 800.000 đồng đến hơn 1 triệu đồng/kg khô), Hợp tác xã đã nâng giá thu mua trà tươi cho bà con lên mức cao hơn (có lúc lên tới 70.000 đồng/kg), giúp ngày công lao động của người dân đạt từ 300.000 đồng đến 700.000 đồng. Điều này tạo động lực trực tiếp để bà con tự giác đốn tỉa, chăm sóc và bảo vệ nương trà.
Hợp tác xã tiên phong trong việc đầu tư máy móc, công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng trà, giúp sản phẩm đạt chuẩn OCOP và vươn ra thị trường quốc tế. Đồng thời, Hợp tác xã cũng mời các nghệ nhân về hướng dẫn kỹ thuật chế biến, từ đó truyền đạt lại kinh nghiệm cho bà con để nâng cao tay nghề và chất lượng trà địa phương.
Lãnh đạo Hợp tác xã đã kiên trì vận động bà con từ thời điểm cây trà bị bỏ hoang, hướng dẫn họ cách đốn tỉa đúng kỹ thuật để cây ra búp hiệu quả mà không làm hỏng cành. Nhờ những chính sách hỗ trợ thiết thực này, bà con người Dao Tiền đã thay đổi hoàn toàn nhận thức, từ việc chặt trà làm củi sang việc quý trọng và mở rộng diện tích trồng trà để phát triển kinh tế bền vững.
Hợp tác xã Sơn Trà tiên phong trong việc đầu tư máy móc, công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng trà, giúp sản phẩm đạt chuẩn OCOP và vươn ra thị trường quốc tế.
Hợp tác xã Sơn Trà tiên phong trong việc đầu tư máy móc, công nghệ chế biến hiện đại để nâng cao chất lượng trà, giúp sản phẩm đạt chuẩn OCOP và vươn ra thị trường quốc tế.
Hiện nay, hợp tác xã đã phát triển với diện tích nhà xưởng và khu sản xuất khoảng 2.000m²; công suất chế biến khoảng 1,5 tấn chè tươi/ngày. Doanh thu Hợp tác xã Sơn Trà từ 4,5 đến hơn 6 tỷ đồng/năm, tạo việc làm trực tiếp cho khoảng 6 lao động sản xuất. Hợp tác xã cũng liên kết với khoảng 70-100 hộ dân địa phương tham gia thu hái.
Tại Hồng Thái, Tuyên Quang, cây chè Shan Tuyết tồn tại hàng trăm năm đã giúp bà con đổi đời trên mảnh đất vùng cao này. Trước đây chỉ trồng ngô, trồng lúa, người Dao Tiền ở xã Hồng Thái, Tuyên Quang làm cả năm chỉ đủ ăn, không có tiền. Muốn mua cái gì cũng phải bán thóc. Một năm làm lúa cùng lắm được khoảng 30 triệu đồng. Nhưng từ khi tập trung vào trồng và thu hái trà Shan Tuyết, nếu gia đình có 1ha chè, có thể thu được 70-80 triệu/năm nhờ bán nguyên liệu búp chè.
Không khó để điểm danh những gia đình có thu nhập 300-400 triệu đồng/năm chỉ sống nhờ bằng làm trà. Ông Lý Văn Thà trước đây rất nghèo, làm ngô lúa không đủ ăn. Bây giờ nhờ chè mà làm được nhà mới, mua xe, có điều kiện sinh hoạt. Như ông Triệu Văn Thanh, Triệu Hồng Quang trong thôn làm rất tốt, lan tỏa cả thôn chuyển sang trồng chè.
Cây chè Shan tuyết tồn tại hàng trăm năm đã giúp bà con đổi đời trên mảnh đất vùng cao Hồng Thái.
Cây chè Shan tuyết tồn tại hàng trăm năm đã giúp bà con đổi đời trên mảnh đất vùng cao Hồng Thái.
“Mình làm tốt, đủ phục vụ thị trường nội địa là đã mừng”
Khác với nhiều vùng chè khác, nơi chè được chế biến chủ yếu để xuất khẩu, trà Shan Tuyết Tuyên Quang mang một đặc trưng độc đáo: vị chát đầu tiên rồi ngọt hậu kéo dài, hương tự nhiên, hoàn toàn không phụ gia, giữ nguyên bản sắc rừng núi miền cao.
Mặc dù đã xuất khẩu sang thị trường Singapore và Campuchia, nhưng anh Phố tâm sự, con số đó rất ít ỏi, chủ yếu mang tính quảng bá. Một năm, Hợp tác xã Sơn Trà của anh chỉ sản xuất khoảng gần 20 tấn trà/năm. Nếu làm chè cao cấp, kiểu một tôm một lá, thì có khi cả năm chưa nổi một container để xuất khẩu. Vì thế, anh Đặng Ngọc Phố xác định thị trường chính vẫn là trong nước.
Hợp tác xã Sơn Trà lựa chọn tập trung vào trà xanh truyền thống
Hợp tác xã Sơn Trà lựa chọn tập trung vào trà xanh truyền thống
Để tạo lợi thế cạnh tranh trà Shan Tuyết tại thị trường trong nước, Hợp tác xã lựa chọn hướng đi riêng, tập trung vào trà xanh truyền thống phù hợp với thị hiếu trong nước thay vì đi sâu vào các dòng trà lên men cao cấp như một số địa phương khác. Bên cạnh đó, anh cũng đang từng bước nghiên cứu thêm các dòng sản phẩm mới như hồng trà, trà lên men để đa dạng hóa thị trường.
Không xác định làm đại trà, anh Phố giãi bày, làm chè này không giống chè dưới xuôi, không thể trồng dày để tăng sản lượng. Chè Shan Tuyết là loại cây cổ thụ, mọc thưa, nên sản lượng vốn dĩ đã thấp rồi, vì thế anh chọn làm chất lượng, làm thật tốt cái mình đang có. Đầu tư nhiều quá, làm không kiểm soát được thì cái nào cũng dở.
Chúng tôi muốn sản phẩm của quê hương mình trước tiên phục vụ người Việt, trước khi nghĩ đến xuất khẩu. Đây là cách giữ hồn quê trong từng tách trà. Việt Nam mình hơn trăm triệu dân, chỉ cần một phần nhỏ dùng sản phẩm của mình là đã không đủ rồi.
Ông Đoàn Ngọc Phố
“Chúng tôi muốn sản phẩm của quê hương mình trước tiên phục vụ người Việt, trước khi nghĩ đến xuất khẩu. Đây là cách giữ hồn quê trong từng tách trà. Việt Nam mình hơn trăm triệu dân, chỉ cần một phần nhỏ dùng sản phẩm của mình là đã không đủ rồi”, anh Phố giãi bày.
Ngày 21/4 vừa qua, sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái (1 tôm, 1 lá) chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt chuẩn OCOP quốc gia 5 sao
Ngày 21/4 vừa qua, sản phẩm chè Shan tuyết Hồng Thái (1 tôm, 1 lá) chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt chuẩn OCOP quốc gia 5 sao
Ngày 21/4/2026 vừa qua đã ghi dấu mốc đặc biệt khi sản phẩm chè Shan Tuyết Hồng Thái (1 tôm, 1 lá) chính thức được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận đạt chuẩn OCOP quốc gia 5 sao. Đây không chỉ là sự khẳng định về chất lượng vượt trội, mà còn mở ra cơ hội lớn để thương hiệu chè Shan Tuyết Hồng Thái vươn xa, từng bước chinh phục các thị trường cao cấp trong nước và quốc tế.
Ngoài ra, hợp tác xã Sơn Trà còn có 2 sản phẩm OCOP 4 sao (chè 1 tôm 2 lá và chè túi lọc). Chiến lược thương hiệu hiện tại của hợp tác xã là "đi chậm mà chắc", không chạy theo sản lượng đại trà mà tập trung vào phân khúc hàng quà tặng cao cấp, ưu tiên thị trường nội địa để giữ vững vị thế và giá trị của dòng trà đặc sản vùng cao.
Những búp chè tươi được thu hái thủ công chờ chế biến.
Những búp chè tươi được thu hái thủ công chờ chế biến.
Hoàn - con trai anh Phố từ ngày về cai quản xưởng trà, chẳng muốn rời quê hương. Cuộc sống bình yên, chăm làm là có ăn dư dả với một thanh niên trẻ như Hoàn là quá hạnh phúc. Nhưng không dừng ở sự an nhàn, Hoàn vẫn đang nghiên cứu để nâng cao chất lượng sản phẩm.
“Hiện tại chất lượng chưa ổn định, có mẻ ngon nhưng cũng có mẻ chưa đạt. Hợp tác xã đã mời nghệ nhân từ Đại Từ lên hướng dẫn kỹ thuật để cải thiện tay nghề. Thế nhưng, để làm được như họ, mình còn phải học hỏi nhiều”, Hoàn nói.
Việc bảo tồn trà cổ (đặc biệt là trà Shan Tuyết cổ thụ) tại vùng cao như Hồng Thái đã trải qua một hành trình từ chỗ bị xem nhẹ đến khi trở thành "vàng xanh" quý giá của bản làng. Không chỉ quảng bá nông sản sạch quê hương, Hợp tác xã Sơn Trà đã tạo sinh kế bền vững cho bà con. Hợp tác xã đã giúp người dân chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hóa bền vững, biến cây trà cổ thụ thành biểu tượng của sự ấm no và giàu có cho vùng cao Hồng Thái.
Ông Lê Văn Tú, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch xã Hồng Thái trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân.
Ông Lê Văn Tú, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch xã Hồng Thái trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân.
Ông Lê Văn Tú, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch xã Hồng Thái cho biết: Việc phát triển vùng chè gắn với các chương trình trồng rừng trước đây, như Chương trình 327, đã tạo nền tảng cho diện tích chè hiện nay. Sau khi hình thành vùng nguyên liệu, địa phương định hướng đưa vào sản xuất tập trung thông qua các hợp tác xã. Trong thời gian qua, địa phương cũng đã hỗ trợ nâng cao giá trị nông sản, xây dựng chuỗi sản xuất-chế biến-tiêu thụ gắn với trải nghiệm du lịch, đồng thời tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu chè. Hiện nay, sản phẩm chè của Hợp tác xã Sơn Trà là một trong những sản phẩm OCOP chủ lực của xã Hồng Thái. Hợp tác xã cũng là đơn vị giữ vai trò quan trọng trong việc liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chủ lực này của địa phương.
Đóng gói trà tại Hợp tác xã Sơn Trà
Đóng gói trà tại Hợp tác xã Sơn Trà
Người Dao Tiền ở Hồng Thái, Tuyên Quang luôn tự hào khi sản phẩm trà của địa phương được chọn làm quà tặng quốc gia cho các nguyên thủ thế giới, giúp khẳng định vị thế văn hóa và giá trị sản phẩm của người Dao Tiền trên thị trường. Dù đã khấm khá hơn, người dân vẫn mong muốn nhận được thêm sự hỗ trợ về vốn chính sách và quảng bá để cây trà Shan Tuyết mang lại giá trị cao hơn nữa.
Cổ thụ Shan Tuyết rất đặc biệt, cây mọc chẳng thấy lụi tàn, kể cả có chặt sát đất. Cả trăm năm qua, những cây cổ thụ lâu đời nhất vẫn chưa ngừng “nhả ngọc” búp non cho bà con thu hái. Năm 2024-2025, riêng vùng này trồng thêm khoảng 7ha diện tích. Người dân bắt đầu yên tâm ở lại quê, thanh niên không còn rời quê đi làm xa như trước. Mỗi lần anh Phố đi vắng 5-10 ngày, bà con trong thôn lại hỏi thăm. Với người con quê hương, với anh đó là điều rất ấm lòng bởi anh cảm thấy mình đã làm được một điều gì đó có giá trị cho cộng đồng.
Ngày xuất bản: 29/4/2026
Chỉ đạo: Nam Đông
Tổ chức sản xuất: Hồng Vân-Xuân Bách
Thực hiện: Hải Chung-Toàn Thắng-Lam Thu-Khánh Giang