Từ Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam độc lập - đến Hiến pháp năm 2013 và những sửa đổi, bổ sung gần đây, tiến trình lập hiến phản ánh rõ sự hình thành, phát triển của Nhà nước Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử. Mỗi bản Hiến pháp ra đời đều gắn với những yêu cầu lịch sử cụ thể của cách mạng, thể hiện tư duy chính trị-pháp lý và khát vọng xây dựng một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khóa I thông qua tại Kỳ họp thứ hai, ngày 9/11/1946. Đây là một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong lịch sử lập hiến của dân tộc, đặt nền tảng pháp lý vững chắc cho việc tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước, đồng thời thể hiện sâu sắc tinh thần độc lập, tự chủ và khát vọng xây dựng một quốc gia dân chủ, tiến bộ của nhân dân Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1946 xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của một nhà nước non trẻ vừa giành độc lập, cần xác lập một thể chế chính trị hợp pháp, hợp hiến và dân chủ. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh việc xây dựng Hiến pháp là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Sau thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I đã bầu Ban dự thảo Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngày 10/10/1946, bản dự thảo Hiến pháp chính thức được công bố rộng rãi tới các tổ chức đoàn thể, địa phương, cơ quan, trường học… để toàn dân nghiên cứu, thảo luận và góp ý kiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên Hội đồng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt sau phiên họp đầu tiên, sáng 3/9/1945. Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề về sự cần thiết phải có một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam.
Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, một bản Hiến pháp được đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân. Hàng nghìn ý kiến từ cán bộ, công chức, trí thức, nông dân, công nhân, học sinh, giới tôn giáo và kiều bào đã được gửi tới Quốc hội và Ban soạn thảo. Không chỉ thể hiện quyền làm chủ của nhân dân, quá trình này còn thể hiện tinh thần lắng nghe, tôn trọng ý kiến nhân dân của nhà nước cách mạng non trẻ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Hiến pháp là của toàn dân, do toàn dân làm ra và vì lợi ích của toàn dân”. Việc nhân dân được tham gia ý kiến vào dự thảo Hiến pháp đã phản ánh rõ tính chất cách mạng, dân tộc, dân chủ và tiến bộ của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bản Hiến pháp năm 1946 gồm 7 chương, 70 điều, quy định rõ ràng về chính thể dân chủ cộng hòa, tổ chức bộ máy nhà nước và các quyền cơ bản của công dân. Các quyền tự do cơ bản như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền bầu cử và ứng cử, quyền bình đẳng giữa nam và nữ… đều được bảo đảm và ghi nhận một cách rõ ràng, minh bạch. Đây cũng là bước phát triển vượt bậc về thể chế dân chủ ở Việt Nam, là minh chứng sinh động cho tư tưởng “lấy dân làm gốc”, đồng thời thể hiện bản lĩnh chính trị, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược trong đường lối xây dựng Nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.
Toàn cảnh kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Toàn cảnh kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2/3/1946.
Tuy không được thực thi đầy đủ do hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ đang trong tình trạng chiến tranh, Hiến pháp năm 1946 vẫn là cơ sở pháp lý nền tảng, có ảnh hưởng sâu rộng đến các bản Hiến pháp sau này. Không chỉ là một văn bản pháp lý, Hiến pháp năm 1946 còn là biểu tượng của tinh thần dân chủ, tự do và lòng yêu nước sâu sắc, phản ánh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn lên của một dân tộc vừa giành lại quyền làm chủ vận mệnh của mình. Tính nhân văn, dân chủ và pháp quyền của bản Hiến pháp này vẫn còn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay.
Với giá trị lịch sử và pháp lý to lớn, Hiến pháp năm 1946 xứng đáng là một trong những thành tựu tiêu biểu nhất của thời kỳ đầu lập quốc, là cột mốc đánh dấu bước trưởng thành đầu tiên của nền lập hiến Việt Nam hiện đại.
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và việc ký kết Hiệp định Geneva năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền; miền bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, còn miền nam tiếp tục cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trước yêu cầu mới của cách mạng, Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, đòi hỏi cần có một bản Hiến pháp mới nhằm thể chế hóa đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội và tổ chức bộ máy nhà nước tương ứng.
Quốc hội khóa I, tại Kỳ họp thứ 6, đã quyết định sửa đổi Hiến pháp năm 1946. Dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, thể hiện tinh thần dân chủ và cầu thị. Ngày 31/12/1959, tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I chính thức thông qua Hiến pháp mới và Chủ tịch Hồ Chí Minh ký công bố vào ngày 1/1/1960.
Hiến pháp 1959 gồm 10 chương, 112 điều, xác định Việt Nam là quốc gia thống nhất, theo chế độ dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trên nền tảng liên minh công-nông.
Hiến pháp năm 1959 gồm 10 chương, 112 điều, xác định Việt Nam là quốc gia thống nhất, theo chế độ dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo trên nền tảng liên minh công-nông. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, nguyên lý chuyên chính vô sản được hiến định. Hiến pháp quy định rõ bộ máy nhà nước tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ, trong đó quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp mới 1959.
Tại Kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đại biểu Quốc hội đã nhất trí thông qua Hiến pháp mới 1959.
Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959.
Ngày 1/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959.
Sau thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân năm 1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, mở ra thời kỳ mới với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Trong bối cảnh đó, Hiến pháp năm 1959 không còn phù hợp với thực tiễn, đòi hỏi cần có một bản Hiến pháp mới để thể chế hóa những thành tựu cách mạng và định hướng phát triển đất nước.
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới.
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã thông qua Nghị quyết về tên nước, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và tổ chức Nhà nước khi chưa có Hiến pháp mới.
Ngày 2/7/1976, tại kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khóa VI, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Sau quá trình soạn thảo và lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa VI đã thông qua Hiến pháp mới, gồm 12 chương và 147 điều.
Hiến pháp năm 1980 xác định rõ bản chất giai cấp của Nhà nước là Nhà nước chuyên chính vô sản, có sứ mệnh thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tổ chức nhân dân tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: về quan hệ sản xuất, khoa học-kỹ thuật và tư tưởng-văn hóa. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được hiến định tại Điều 4, khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Ủy ban Hiến pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã họp phiên toàn thể để thông qua bản dự thảo Hiến pháp mới của Quốc hội (ngày 15/6/1979).
Ủy ban Hiến pháp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã họp phiên toàn thể để thông qua bản dự thảo Hiến pháp mới của Quốc hội (ngày 15/6/1979).
Về tổ chức bộ máy nhà nước, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hiện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Đồng thời, Hiến pháp bổ sung quy định Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Trong lĩnh vực kinh tế, Hiến pháp năm 1980 quy định nền kinh tế quốc dân chủ yếu gồm hai thành phần: kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Đất đai và các tư liệu sản xuất chủ yếu được quốc hữu hóa, phản ánh mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Hiến pháp cũng mở rộng và cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nhấn mạnh quyền làm chủ tập thể, quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, đồng thời quy định nghĩa vụ lao động và bảo vệ Tổ quốc.
Quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới, tháng 12/1980.
Quyền Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới, tháng 12/1980.
Dù sau này nhiều quy định của Hiến pháp năm 1980 không còn phù hợp trước yêu cầu đổi mới, nhưng không thể phủ nhận ý nghĩa lịch sử của bản Hiến pháp này trong việc hoàn thiện về mặt pháp lý việc thống nhất đất nước, xác lập mô hình quyền lực nhà nước trong phạm vi cả nước và củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện lịch sử cụ thể.
Ngày 13/4/1992, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký sắc lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992.
Ngày 13/4/1992, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công ký sắc lệnh công bố Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992.
Hiến pháp năm 1992 ra đời trong bối cảnh đất nước Việt Nam đang bước vào thời kỳ Đổi mới toàn diện, nhằm thể chế hóa đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 và khẳng định mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Với 12 chương và 147 điều, Hiến pháp năm 1992 là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, xác lập rõ nét mô hình phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Bản Hiến pháp khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời đề cao nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân - thực hiện thông qua các cơ quan dân cử và các hình thức dân chủ trực tiếp.
Với 12 chương và 147 điều, Hiến pháp năm 1992 là bản Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, xác lập rõ nét mô hình phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Một điểm nhấn quan trọng của Hiến pháp năm 1992 là việc mở rộng và cụ thể hóa các quyền tự do, dân chủ của công dân, bước đầu thể hiện tư duy lập hiến hiện đại khi lồng ghép nội dung quyền con người vào cấu trúc pháp lý quốc gia. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác lập rõ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước dựa trên sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Năm 2001, trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu hơn vào khu vực và thế giới, Quốc hội đã thông qua việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992. Những điều chỉnh này nhằm cụ thể hóa chủ trương phát triển kinh tế tri thức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước và bổ sung những quyền mới của công dân, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Hiến pháp năm 1992, cùng với lần sửa đổi năm 2001, đã đánh dấu một bước hoàn thiện chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Hiến pháp năm 1992, cùng với lần sửa đổi năm 2001, đã đánh dấu một bước hoàn thiện chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chính sách văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, củng cố việc tổ chức, phân công và phối hợp các nhánh quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh...
Hiến pháp năm 2013, được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014, là bản Hiến pháp thứ năm trong lịch sử lập hiến của Việt Nam. Bản Hiến pháp này ra đời trong bối cảnh đất nước đã có hơn 25 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, đạt nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế.
Quốc hội biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, sáng 28/11/2013.
Quốc hội biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, sáng 28/11/2013.
Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xuất phát từ yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời thể chế hóa nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Ngoài ra, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả và kiểm soát quyền lực cũng đặt ra đòi hỏi cấp bách về mặt lập hiến.
Quá trình xây dựng Hiến pháp năm 2013 diễn ra công khai, dân chủ và khoa học. Dự thảo Hiến pháp được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân trong gần một năm, thu hút hàng triệu lượt đóng góp từ các tầng lớp xã hội. Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới với tỷ lệ đồng thuận cao, thể hiện sự đồng lòng và trí tuệ tập thể của toàn dân tộc.
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII.
Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII.
Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư duy lập hiến hiện đại, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đề cao nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nhấn mạnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Một điểm nổi bật là việc mở rộng và cụ thể hóa quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Đồng thời, Hiến pháp hoàn thiện rõ hơn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước.
Từ khi có hiệu lực, Hiến pháp năm 2013 đã trở thành nền tảng pháp lý cao nhất cho việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, cải cách bộ máy nhà nước, mở rộng dân chủ và thúc đẩy phát triển bền vững. Nhiều luật quan trọng đã được ban hành, sửa đổi phù hợp với tinh thần Hiến pháp, góp phần củng cố nền tảng pháp lý, ổn định chính trị và hội nhập quốc tế.
Hiến pháp năm 2013 là biểu tượng của ý chí và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Đó là cam kết chính trị và pháp lý rõ ràng của Nhà nước trong việc xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì con người và vì tương lai đất nước.
Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013
Ngày 16/6/2025, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Đây là một quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước, một quyết định có tính lịch tạo cơ sở hiến định cho việc thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, ngày 5/5/2025 biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.
Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, ngày 5/5/2025 biểu quyết thông qua Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.
Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 được lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân với kết quả hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% đã khẳng định nội dung sửa đổi, bổ sung Hiến pháp đạt được sự đồng thuận, thống nhất cao; phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân và nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp trong xã hội.
Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.
Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Hải Ninh phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghị lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tổ chức Hội nghị lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội nghị lấy ý kiến đối với dự thảo nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Tuyên Quang tổ chức hội nghị lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013.
Tuyên Quang tổ chức hội nghị lấy ý kiến về dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 2013.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.
Việc lấy ý kiến nhân dân thông qua ứng dụng VNeID đã tạo thuận lợi cho người dân tham gia đóng góp ý kiến, bảo đảm tính minh bạch, dân chủ, toàn diện và thực chất.
Việc lấy ý kiến nhân dân thông qua ứng dụng VNeID đã tạo thuận lợi cho người dân tham gia đóng góp ý kiến, bảo đảm tính minh bạch, dân chủ, toàn diện và thực chất.