Cùng suy ngẫm

"Vĩ mô" làm khổ "vi mô"

Thời gian qua, việc sản xuất, kinh doanh phân bón của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn. Ngoài nguyên nhân từ sự cạnh tranh không lành mạnh của các cơ sở sản xuất phân bón giả, kém chất lượng, còn những rào cản từ các nghị định, thông tư của cấp “vĩ mô” về quản lý phân bón, đang làm ảnh hưởng đến sự phát triển của “vi mô” là các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ phân bón chân chính.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, từ khi Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27-11-2013 về quản lý phân bón được ban hành, về nguyên tắc, việc quản lý phân bón gần như giao cho hai bộ Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng tham gia cấp phép, quản lý. Trong đó, Bộ Công thương quản lý về sản xuất, kinh doanh và chất lượng các loại phân vô cơ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý phân bón hữu cơ và các loại phân bón khác.

Căn cứ vào quyền hạn và trách nhiệm quản lý theo Nghị định 202, cả hai bộ đều ban hành các thông tư hướng dẫn riêng. Theo đó, Thông tư số 29/2014/TT-BCT của Bộ Công thương và Thông tư số 41/2014/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đều quy định cho phép các đơn vị sản xuất phân bón không có phòng thử nghiệm vẫn được cấp phép sản xuất. Từ đó dẫn đến tình trạng, nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón chịu sự quản lý của hai bộ Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhưng mỗi bộ lại có những quy định riêng, gây khó khăn cho doanh nghiệp đăng ký các hồ sơ pháp lý sản phẩm. Trong khi đó, hầu hết cán bộ làm công tác quản lý phân bón ở các tỉnh, thành phố còn thiếu. Đặc biệt về kiểm nghiệm, kiểm định số lượng phòng phân tích, được chỉ định rất hạn chế và phân bố địa bàn chưa hợp lý, dẫn đến chồng chéo trong công tác này. Trong khi các sản phẩm phân bón vô cơ, như lân, đạm, ka li, DAP... đã có quy chuẩn quốc gia, doanh nghiệp chỉ cần tuân thủ theo đó để công bố hợp quy.

Không chỉ rắc rối về hồ sơ, nhiều sản phẩm dù được phép sản xuất, công nhận kinh doanh từ 10 đến 15 năm, nhưng khi Nghị định 202 có hiệu lực, để được chứng nhận hợp quy, các sản phẩm này phải khảo nghiệm lại từ đầu, vừa tốn thời gian, vừa ảnh hưởng việc đưa các sản phẩm mới lưu thông trên thị trường.

Để làm lành mạnh thị trường phân bón trong nước, một trong những ách tắc cần ưu tiên giải quyết là quy hoạch lại ngành sản xuất, kinh doanh phân bón; có giải pháp hợp lý xóa bỏ chồng chéo trong quản lý sản xuất, kinh doanh phân bón giữa hai bộ Công thương và Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; tổ chức, kiện toàn và phân bổ các trung tâm kiểm nghiệm, kiểm định phân bón vô cơ, hữu cơ hợp lý tại các địa phương đi đôi với bổ sung đội ngũ cán bộ chuyên môn có phẩm chất và trình độ để giảm bớt thời gian và khó khăn cho doanh nghiệp… Cần có giải pháp đồng bộ để tháo gỡ từ chính sách, ngành phân bón Việt Nam mới đủ sức cạnh tranh trong hội nhập.