Ông Phạm Quang Nghị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội:

“Văn hóa vẫn bị bỏ lại phía sau”

Thứ Năm, 30-12-2021, 11:20

Ông Phạm Quang Nghị (ảnh bên), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, nguyên Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin đã dành cho Nhân Dân hằng tháng cuộc trao đổi chung quanh những vấn đề văn hóa nhân sự kiện Hội nghị Văn hóa toàn quốc vừa diễn ra.

Thưa ông, Đảng ta đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước”. Thế nhưng vì sao trong thời gian qua vai trò của văn hóa bị xem nhẹ, 75 năm nay (từ ngày 24/11/1946), mới lại có Hội nghị toàn quốc về văn hóa?

Hội nghị Văn hóa toàn quốc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về các vấn đề văn hóa được tổ chức ngày 24/11/2021 là sự kiện lớn, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Trước hết bởi tầm quan trọng của vấn đề văn hóa đối với đất nước cũng như với mỗi con người. Đồng thời, vấn đề văn hóa cũng đang đặt ra những mối quan tâm, xứng đáng cần phải được bàn bạc, thảo luận ở cấp cao nhất của đất nước.

Khi nói sự quan tâm to lớn, sự vui mừng của toàn xã hội thì mặc nhiên chúng ta cũng đã thừa nhận điều ngược lại. Vì sao vấn đề văn hóa có vị trí, vai trò to lớn như thế mà sau 75 năm lại mới tổ chức họp để đánh giá và đề ra các chủ trương, biện pháp chỉ đạo thực hiện?

Nguyên nhân trước hết vẫn là nhận thức. Từ các cấp lãnh đạo, chỉ đạo cho tới các cơ quan, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trên lĩnh vực văn hóa đều đã coi nhẹ văn hóa. Đó là sự thật! Mặc dù trong các Nghị quyết chúng ta luôn nhấn mạnh, luôn nói phải phát triển đồng bộ, hài hòa; coi nhiệm vụ phát triển văn hóa vừa là mục tiêu, là động lực, là nguồn sức mạnh nội sinh... Câu chữ rất đúng, rất hay, rất đầy đủ, nhưng trên thực tế, trong tổ chức thực hiện, chúng ta vẫn chú trọng, ưu tiên các vấn đề kinh tế hơn.

Các cấp, các ngành từ Trung ương tới cơ sở, hầu hết các nhà lãnh đạo, quản lý khi phải ưu tiên lựa chọn các dự án, giữa lĩnh vực kinh tế và văn hóa, đa số đều chọn dự án kinh tế. Vì thấy nó sinh lời, đem lại nguồn thu, tăng trưởng, thấy kinh tế là thứ cấp bách phải lo và lợi ích mà nó đem lại cũng dễ đong, đo, cầm nắm được... Còn dự án dành cho phát triển văn hóa, nhiều người không nhìn thấy những cái được cơ bản, lâu dài và bền vững mà nó mang lại: đạo đức, tâm hồn, lối sống, lòng yêu nước, thương người, là khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh... Nhưng không ít người luôn nghĩ văn hóa là thứ tiêu tốn ngân sách, có cũng được mà chưa có cũng không sao. 

Đúng là dân gian cũng tổng kết: “Có thực mới vực được đạo”. Sau 75 năm bây giờ mới chú ý “vực đạo” - một việc tuy muộn nhưng còn hơn không.

Tại Hội nghị toàn quốc về văn hóa mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa còn thì dân tộc còn” - đặt sự tồn vong của văn hóa đồng nghĩa với sự tồn vong của dân tộc. Trên bình diện ấy, ông cảm nhận thế nào về sự phát triển lẫn suy thoái, cái được cái mất của văn hóa dân tộc trong 35 năm đất nước Đổi mới mở cửa?

Tổng Bí thư nói: “Văn hóa còn thì dân tộc còn”, câu nói ấy vừa mang ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng cực kỳ to lớn của nhân tố văn hóa. Như nhiều người vẫn nói văn hóa là chứng chỉ, là căn cước của mỗi quốc gia, dân tộc, là sức sống ẩn chứa trong lòng dân tộc.

Qua 35 năm đổi mới, những thành tựu, những yếu kém của lĩnh vực văn hóa là sự đan xen. Có cả thành tích và yếu kém, được và mất. Nhưng, cảm nhận chung của mọi người đều cho rằng, giữa thành tựu kinh tế và thành tựu trên lĩnh vực văn hóa còn có khoảng cách. Văn hóa vẫn bị bỏ lại phía sau, bị coi nhẹ trong nhận thức và trong những việc làm cụ thể. Trong nhận định, đánh giá cũng như trong thực tế đời sống hằng ngày, ai cũng thấy những biểu hiện suy thoái về văn hóa, về đạo đức, tinh thần, lối sống đáng lo ngại. 

Qua 35 năm đổi mới, đất nước chúng ta luôn tự hào - mà tự hào chính đáng, đã xây dựng, khánh thành hàng nghìn công trình lớn nhỏ, đường cao tốc, sân bay, khu đô thị, trung tâm thương mại hiện đại... Nhưng TP Hồ Chí Minh đề xuất làm một nhà hát; hay Bộ Văn hóa đề nghị xây bảo tàng lịch sử quốc gia, như mọi người đã biết, thảo luận, nghiên cứu qua mấy chục năm nhưng luôn vấp phải bao nhiêu là sự cản trở, phản đối, khiến cho những dự án văn hóa ấy cho đến hôm nay vẫn không thể triển khai được. Trong khi không ít dự án trên lĩnh vực kinh tế gây thua lỗ, lãng phí, thất thoát hàng trăm nghìn tỷ đồng, nhưng nhà nước vẫn phải gánh chịu. Những dự án trong lĩnh vực văn hóa quy mô đầu tư nhỏ bé hơn nhiều lại không bố trí được vốn... Ấy là chưa nói đến những bất cập về chế độ, chính sách đãi ngộ, thù lao đối với đội ngũ những người lao động sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.

Ngân sách dành cho văn hóa vẫn còn rất thấp. Khi làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin, tại kỳ họp tháng 11/2002, tôi đã có bài phát biểu trước Quốc hội, nói về mức đầu tư cho văn hóa quá thấp, rất không tương xứng với vị trí, vai trò và trách nhiệm của ngành. Sau khi phát biểu, Quốc hội đồng ý điều chỉnh tỷ lệ phân bổ ngân sách cho ngành văn hóa-thông tin từ 1% tăng dần qua các năm lên 1,4%, rồi 1,6%. Khi làm việc với Bộ Tài chính về vấn đề này, đồng chí Bộ trưởng phải thừa nhận “Mức đầu tư ngân sách cho lĩnh vực văn hóa - thông tin của nước ta (một năm) không bằng tiền chuyển nhượng một cầu thủ bóng đá ở châu Âu”. Đó là một sự so sánh hết sức ấn tượng và hoàn toàn chính xác. Vì vậy, nếu sau Hội nghị này những bất cập ấy không được sửa đổi, thì sự tụt hậu của văn hóa vẫn lại tiếp diễn như vừa qua.

Vẫn tồn tại quan niệm thiên lệch về văn hóa, xem văn hóa là hoạt động bề nổi “cờ đèn, kèn trống”... Nhưng lãnh tụ M.Gandi của Ấn Độ đã từng khẳng định “Nền văn hóa quốc gia nằm trong trái tim và tâm hồn nhân dân”. Làm thế nào văn hóa dân tộc thật sự thấm nhuần vào mỗi người dân và người dân phải là chủ thể nuôi dưỡng và sáng tạo văn hóa, thưa ông?

Những người coi văn hóa chỉ là những hoạt động bề nổi “cờ, đèn, kèn, trống”, hoặc chủ yếu là những hoạt động thiên về hình thức, cũng đều bắt nguồn từ nhận thức không đúng về văn hóa, về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Đó là căn bệnh chuộng hình thức, chỉ chú trọng bề nổi; thích họp hành, lễ hội, mít tinh, kỷ niệm...tràn lan. Bởi nhiều người cũng thích được đăng ảnh to trên báo, cũng thích được tặng hoa, thích có cờ, có trống, tụ tập đông người đón rước... Tự mình làm cho việc “cờ, đèn, kèn, trống” trở nên quan trọng hơn là những vấn đề thiết thực về nội dung. Những biểu hiện như vậy tự nó làm xấu đi ý nghĩa của văn hóa.

Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực Đảng ta đang tiến hành nhằm loại bỏ những cái xấu xa, phi nhân, phi pháp... cũng chính là nhằm xây dựng, bồi dưỡng, giữ gìn để những nhân tố tốt đẹp của văn hóa không ngừng lan tỏa, nảy nở trong từng con người, trong Đảng và trong xã hội chúng ta.

Thực tế văn hóa không phải là một lĩnh vực chỉ “tiêu tiền”, mà ngược lại, văn hóa vừa có thể đem lại nguồn lớn về vật chất, vừa góp phần làm nên sức mạnh mềm quốc gia. Ông nghĩ gì về vấn đề xây dựng nền công nghiệp văn hóa ở Việt Nam khi mà Chính phủ ra Quyết định 1755 phê duyệt chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030?

Công nghiệp văn hóa là lĩnh vực còn khá mới mẻ ở nước ta, nhưng đầy tiềm năng, vì năng lực sáng tạo của những người hoạt động văn hóa nghệ thuật rất lớn và nhu cầu của xã hội cũng rất lớn. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua chúng ta còn coi nhẹ năng lực này của đất nước. Vì thế, tôi cho rằng chúng ta vẫn rất cần sự quan tâm đầu tư của nhà nước nhưng cũng cần phát huy các nguồn lực của xã hội. Phải xây dựng những quy định mang tính pháp quy tạo hành lang cho lĩnh vực công nghiệp văn hóa hoạt động.

Gần đây theo dõi Quốc hội thảo luận về Luật Điện ảnh (sửa đổi, bổ sung), tôi thấy có nhiều ý kiến khác nhau trong vấn đề tiền kiểm hay hậu kiểm, hoặc có kiểm duyệt hay để các nhà làm phim chịu trách nhiệm? Luật Điện ảnh mà đề ra những quy định kiểm duyệt chặt chẽ, cứng nhắc, máy móc quá thì sẽ gây nên những hạn chế, bó tay người đầu tư sản xuất phim. Thậm chí là gây nên tiêu cực. Vì nhà đầu tư sản xuất phim cũng chưa hiểu “khẩu vị” của nhà kiểm duyệt thế nào. Trước khi đáp ứng nhu cầu của xã hội, họ phải lo đáp ứng khẩu vị của nhà kiểm duyệt. Hai khẩu vị đó có thể khác nhau và “ông kiểm duyệt” chưa chắc đã đại diện cho khẩu vị của xã hội. Người ta còn có thể mời được các vị tham gia hội đồng theo yêu cầu của nhà làm phim!

Quan điểm của tôi là ủng hộ phương án để những người làm phim tự chịu trách nhiệm. Khi ở cương vị Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin xây dựng Luật Điện ảnh, tôi ủng hộ quan điểm này. Người sản xuất phim, trách nhiệm của họ với sản phẩm không thua kém trách nhiệm của Hội đồng kiểm duyệt.
 
Luật Điện ảnh năm 2006 có điểm đột phá là cho ra đời các hãng phim tư nhân. Lúc đó, với cương vị Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin tôi hết sức ủng hộ việc này và cũng phải vượt qua rất nhiều áp lực. Khi ấy các hãng phim nhà nước có phần lo ngại và phản ứng vì cảm thấy bị mất vai trò độc quyền, lo nhà nước không còn đầu tư như trước... Việc ra đời các hãng phim tư nhân là quy luật phát triển, không thể khác được. 10 năm trước để có thể cho phép ra đời hãng phim tư nhân không hề đơn giản, vì có nhiều lo ngại nếu cho các hãng phim tư nhân ra đời họ sản xuất những bộ phim bạo lực, đồi trụy, phản động thì sao?

Thực tế đã trả lời, sau khi luật cho phép các hãng phim tư nhân ra đời những lo ngại đó đã không xẩy ra. Thời gian qua các hãng phim tư nhân đã sản xuất được nhiều bộ phim hấp dẫn, có giá trị nghệ thuật. Chúng ta đã huy động được các nguồn lực và sức sáng tạo to lớn trong toàn xã hội. Rõ ràng ở đâu có cạnh tranh thì ở đó sẽ bớt tiêu cực, bớt lãng phí. Ở đâu có sự tham gia của nhân dân, của xã hội thì ở đó sẽ có nhiều thành tựu hơn. Trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa cũng như vậy.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

PHÙNG NGUYÊN (thực hiện)