Tránh ngôn ngữ luật “xa lạ”

Thảo luận tại hội trường về Bộ luật Dân sự (BLDS) sửa đổi tại kỳ họp này, nhiều ý kiến đại biểu đánh giá cao bản dự thảo đã đưa nhiều chế định mới, tiến bộ, qua đó điều chỉnh các mối quan hệ dân sự trên cơ sở dân chủ, nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể. Mặt khác, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào các giao dịch dân sự, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Mục tiêu xây dựng bất cứ bộ luật nào, nhất là BLDS được xem như bộ luật nguồn, phải trở nên gần gũi, dễ hiểu với đông đảo dân chúng. Chính người dân mới là những người hằng ngày phải sử dụng BLDS, chứ không phải là các giáo sư, tiến sĩ, hay các luật sư, giới chuyên môn lĩnh vực chuyên ngành. Một trong những vấn đề đại biểu băn khoăn, đó là về sử dụng thuật ngữ trong bộ luật Ban Soạn thảo vừa qua thay thế các thuật ngữ, như: "sử dụng hạn chế bất động sản liền kề" thành cụm từ "địa dịch", rồi đưa các khái niệm "vật quyền”, “trái quyền”, “quyền hưởng dụng”, “quyền bề mặt”... còn khá lạ lẫm, xa lạ đối với nhiều người.

Vì vậy, nhiều đại biểu đã bày tỏ thống nhất cao với quan điểm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, việc sử dụng khái niệm mới cần được cân nhắc kỹ lưỡng. Cụ thể hơn, nội dung phải rõ ràng, thuận tiện để áp dụng trong đời sống xã hội. Không cần thiết phải thay đổi hay sử dụng thuật ngữ mới mà nội hàm không đầy đủ, chưa thống nhất trong cách hiểu, lại dùng nhiều từ Hán Việt, để rồi người dân phải tìm cách suy luận, tìm sự giải thích rõ ràng, thấu đáo.

Luật sư Trương Trọng Nghĩa (TP Hồ Chí Minh) phân tích thêm, BLDS là một đạo luật cực kỳ quan trọng của mỗi quốc gia, của Nhà nước pháp quyền. Hằng ngày, thậm chí hằng giờ, hàng chục triệu người trên đất nước ta đã áp dụng BLDS. Qua đó xây dựng, thực hiện các quan hệ pháp lý dân sự, nhằm hưởng thụ các quyền và thực thi các nghĩa vụ. Từng khái niệm, từng chế định, thậm chí từng câu chữ, dấu chấm, dấu phẩy đều có tác động vào nền kinh tế và các quan hệ văn hóa, xã hội, nhất là khi có tranh chấp xét xử. Do đó, việc dùng ngôn từ như BLDS năm 2005 nêu “quyền đối với tài sản”, “quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề”, “quyền về cấp thoát nước của bất động sản liền kề”, “quyền mắc đường dây tải điện, thông tin liên lạc của bất động sản liền kề”... vẫn còn tính khả thi, tính dễ hiểu, đã có quá trình áp dụng và thống nhất trong thực tế.

Theo các đại biểu Quốc hội, trong BLDS hiện hành đã quy định một số quyền đối với bất động sản liền kề. Việc thực hiện các quy định này trong thực tế không có gì vướng mắc. Dự thảo BLDS lần này thay đổi nội dung này thành “quyền địa dịch” mà nội hàm các quy phạm điều chỉnh không có gì thay đổi lớn. Thậm chí ở một số điều luật còn thiếu tính rõ ràng, không cụ thể bằng BLDS hiện hành. Quy định của quyền bề mặt có phần chồng chéo với quyền sở hữu tài sản trên đất.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, việc sử dụng khái niệm mới cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bảo đảm tính lô-gíc về bố cục và nội dung, rõ ràng, thuận tiện, dễ áp dụng trong đời sống xã hội và trong quá trình xét xử khi xảy ra tranh chấp. Nhiều đại biểu đề nghị Ban Soạn thảo tiếp tục tiếp thu, không sử dụng khái niệm “vật quyền”, cho chỉnh lý phần “quyền sở hữu và vật quyền khác” thành “quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản”; “quyền địa dịch” được chỉnh lý thành “quyền đối với bất động sản liền kề”, chỉnh lý các nội dung của "quyền hưởng dụng, quyền bề mặt" trong dự thảo BLDS sửa đổi.