Thiêng liêng khát vọng hòa bình

Nửa thế kỷ sau ngày Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết năm 1973, nhiều nhân chứng lịch sử gồm cả người Việt Nam và những người bạn quốc tế đã gặp nhau tại triển lãm “Khát vọng hòa bình” ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội), chia sẻ ký ức và kỷ vật, đồng thời lan tỏa thông điệp về hòa bình cho mỗi người, mỗi quốc gia trên thế giới hôm nay.
0:00 / 0:00
0:00
Các đại biểu quốc tế và Việt Nam dự khai mạc Triển lãm “Khát vọng hòa bình” và Tọa đàm tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.
Các đại biểu quốc tế và Việt Nam dự khai mạc Triển lãm “Khát vọng hòa bình” và Tọa đàm tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

Những ngày đầu năm mới, tại Thủ đô Hà Nội diễn ra một cuộc giao lưu đặc biệt với sự tham gia của nhiều thế hệ quân nhân, nhà ngoại giao, văn nghệ sĩ, đại biểu các đại sứ quán và tổ chức quốc tế.

Đó là triển lãm “Khát vọng hòa bình” do Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam phối hợp Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam và Ban Di sản ký ức tổ chức, mang đến công chúng dịp chiêm ngưỡng và lắng nghe nhiều câu chuyện xúc động về sự kiện Hiệp định Paris năm 1973, cũng như công cuộc đấu tranh và gìn giữ hòa bình của dân tộc Việt Nam từ đó đến nay.

Ngày 27/1/1973, tại Paris (Pháp), hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được ký kết. Đây là cuộc đấu tranh ngoại giao lâu dài, cam go trong lịch sử của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam với 202 phiên họp công khai và 24 đợt gặp riêng kéo dài trong 4 năm, 8 tháng, 14 ngày. Nội dung của Hiệp định Paris quy định: Hoa Kỳ và các nước khác phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hiệp định là thắng lợi của các lực lượng hòa bình, độc lập dân tộc và dân chủ, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

50 năm sau, tọa đàm “Vì một nền hòa bình” mở đầu cho triển lãm “Khát vọng hòa bình”, ôn lại lịch sử hào hùng với những vị khách mời đã chứng kiến và tham gia quá trình đấu tranh trên mọi mặt trận cả trong nước và ngoài nước. Họ từng là những thanh niên nhiệt huyết, quả cảm, như bà Nguyễn Thị Hòa - nguyên chính trị viên Đội nữ lái xe Trường Sơn, bà Nancy Hollander - đại biểu trẻ tuổi nhất của phái đoàn ngoại giao nhân dân đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ, ông Dương Văn Quảng - nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, cựu Đại sứ Việt Nam tại Singapore...

Bà Nguyễn Thị Hòa kể lại: “Trước tình thế cấp bách khi đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại ở miền bắc, năm 1968, Đội nữ lái xe Trường Sơn C13 được thành lập với hơn 40 thành viên. Chúng tôi là những nữ thanh niên xung phong, nữ bộ đội ở độ tuổi hai mươi, đã nhận nhiệm vụ trên khu vực bị giặc đánh phá ác liệt từ Bến Thủy đến Tây Trường Sơn, trong đó có những chảo lửa như ngã ba Đồng Lộc, Khe Ve, Long Đại, 050, Cổng Trời...”.

Nhắc lại những gian khổ, hiểm nguy một thời, nữ chiến sĩ lão thành khiến người nghe càng xúc động khi hóm hỉnh: “Chị em chúng tôi lúc đó chỉ sợ ma chứ không sợ chết”. Còn với nữ luật sư người Mỹ Nancy Hollander, cuộc gặp gỡ đầu tiên với phái đoàn ngoại giao nước ta tại Jakarta (Indonesia) năm 1965 là bước ngoặt cuộc đời mà bà mãi mãi không quên.

Bà Nancy khi ấy là một sinh viên và đã tích cực tham gia nhiều cuộc biểu tình, vận động người dân Mỹ phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Một kỷ niệm được bà Nancy chia sẻ là khi được một người bạn Việt Nam tặng một chai rượu, bà đã tự nhủ sẽ để dành để uống mừng thời khắc Việt Nam giành được hòa bình.

Bà Nancy đã mở món quà đó vào đúng ngày 30/4/1975. Sau này, bà Nancy nhiều lần đến Việt Nam, và cũng đã trao tặng 450 tài liệu, hiện vật cho Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Cũng là một nhân chứng của giai đoạn lịch sử, có cơ hội tiếp cận nhiều nhân vật và tư liệu quý, nhà báo Huỳnh Dũng Nhân kể lại ký ức của bản thân khi nhập ngũ vào năm 1973 mà không có cha đi tiễn.

Người cha của ông là nhà báo Huỳnh Hùng Lý, lúc đó đang tháp tùng đoàn của Chính phủ Cách mạng lâm thời Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình làm trưởng đoàn ở Hội nghị Paris. Nhà báo Huỳnh Hùng Lý từng công tác tại Báo Nhân Dân, từng tham gia tổ thư ký báo chí của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ. Trong đoàn báo chí cả hai miền nam và miền bắc của Việt Nam lúc đó có nhiều nhà báo công tác ở Báo Nhân Dân như Hà Đăng, Lê Bình, Nguyễn Thành Lê...

Ngày nay, khi chiến tranh đã qua đi, Việt Nam vẫn luôn là một quốc gia trân trọng và hiểu về những giá trị hòa bình mà các thế hệ đã phải đổ xương máu giành được, luôn sẵn sàng, nỗ lực đóng góp cho nền hòa bình thế giới.

Trung tá Đỗ Thị Hằng Nga, Phó Giám đốc Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 tại Nam Sudan, nữ sĩ quan Việt Nam đầu tiên tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc xúc động kể lại: “Ở một nơi khó khăn, không có nước, không có điện, không có thông tin, hoạt động cùng quân nhân của nhiều quốc gia khác, nhưng khi đi tuần tra hoặc thể dục chung quanh nơi làm nhiệm vụ, người dân bản địa đặc biệt là trẻ em luôn vẫy tay và hô to “Xin chào Việt Nam!”. Khoảnh khắc đó đối với chúng tôi vô cùng đáng tự hào”.

Tại tọa đàm, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, đã khẳng định: “Việc tham gia vào hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một trong những chính sách đối ngoại của Việt Nam, tuyên bố mạnh mẽ và thể hiện hình ảnh một quốc gia có uy tín, trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh thế giới. Lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình của Việt Nam lại là một đội quân mẫu mực, có tỷ lệ nữ cao nhất trong tất cả các quốc gia... Trong những năm qua, các cán bộ, chiến sĩ nữ đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được Liên hợp quốc đánh giá cao. Như vậy, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thời bình được tôn vinh và thế giới cũng nhìn nhận tích cực về công tác bình đẳng giới của Việt Nam”.

Không chỉ có những chia sẻ quý báu từ các diễn giả, triển lãm còn đưa người xem qua nhiều cung bậc cảm xúc với hàng trăm bức ảnh, hiện vật và đoạn phim tư liệu về những con người đã làm nên lịch sử, cống hiến trọn đời cho hòa bình. Nhiều kỷ vật quý liên quan đến nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, nhà ngoại giao xuất sắc và là nhân vật quan trọng không thể không nhắc đến của sự kiện ký kết Hiệp định Paris.

Hình ảnh những người phụ nữ khác cũng xuất hiện trang trọng trong triển lãm, đó là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Út (Út Tịch) với câu nói nổi tiếng “Còn cái lai quần cũng đánh”, nguyên Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa trong nhà tù Côn Đảo với cái tên giả Nguyễn Thị Tâm, bà Võ Thị Thắng, nguyên Tổng cục trưởng Du lịch với nụ cười chiến thắng nổi tiếng thế giới, bà Cù Thị Hậu, nguyên Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam với “tiếng hát những con thoi”- một Anh hùng Lao động trong phong trào thi đua của các nhà máy xí nghiệp miền bắc...

Dù trong thời bình, khách tham quan vẫn không khỏi xúc động, tự hào khi đọc những dòng nhật ký, quyết tâm thư của các nữ thanh niên xung phong Hoàng Thị Kim Vinh, Nguyễn Thị Hồng Nhãn; hay khi ngắm nhìn bức tranh thêu “Ước vọng hòa bình” và lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam do phụ nữ Kiên Giang làm để chuẩn bị cho sự kiện ký kết Hiệp định Paris...

Triển lãm cũng là dịp để thế hệ trẻ tìm hiểu và khắc ghi những cuộc đấu tranh cho hòa bình Việt Nam của không chỉ người Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế. Chẳng hạn như phong trào “Một yên ủng hộ Việt Nam” do Hội phụ nữ Nhật Bản Mới phát động, các phong trào biểu tình toàn quốc phản đối chiến tranh Việt Nam của người dân Pháp, Đức, Australia...

Và hành trình ấy được tiếp nối cho đến hôm nay và mai sau, thể hiện qua những nỗ lực của phụ nữ Việt Nam nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung, trong việc khắc phục hậu quả, hàn gắn vết thương chiến tranh, kiến tạo các giải pháp vì hòa bình trong thời đại mới.