Thách thức bủa vây và giải pháp chuyển đổi theo quy hoạch

Sụt lún đất trong các vùng ngọt hóa ven biển ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã từng diễn ra vào mùa khô năm khô hạn cực đoan 2020 và năm nay lặp lại một lần nữa. Bảo đảm vùng ngọt hóa không bị kiệt nước vào mùa khô, đang đòi hỏi cần có sự đồng thuận, chung tay của chính quyền địa phương và người dân để tìm các giải pháp thiết thực nhất.
0:00 / 0:00
0:00
Dự án cống Cái Lớn-Cái Bé giai đoạn 1 hoàn thành, giúp kiểm soát mặn, giữ ngọt cho hơn 900 nghìn ha đất nông nghiệp vùng bán đảo Cà Mau. Ảnh: LÊ BẰNG
Dự án cống Cái Lớn-Cái Bé giai đoạn 1 hoàn thành, giúp kiểm soát mặn, giữ ngọt cho hơn 900 nghìn ha đất nông nghiệp vùng bán đảo Cà Mau. Ảnh: LÊ BẰNG

Ảnh hưởng kép bởi sụt lún

Từ đầu mùa khô 2024 đến nay, chỉ riêng tại huyện Trần Văn Thời (tỉnh Cà Mau) đã có hơn 600 điểm sụt lún khiến giao thông tê liệt, nhiều hộ dân mất nhà. Ở Hồng Dân (Bạc Liêu) đã có hơn 20 điểm sụt lún với tổng chiều dài hơn 1.000 mét, gây hư hại đường sá, sụp nhà cửa của người dân.

Hiện tượng sụt lún bên trong các vùng ngọt hóa là không mới. Mùa khô năm 2020 ở Trần Văn Thời và vùng ngọt hóa Gò Công (Tiền Giang) cũng đã xảy ra sụt lún nghiêm trọng đến hàng nghìn điểm mỗi nơi.

Nguyên nhân của hiện tượng sụt lún này khá đơn giản. Trước tiên, cần khẳng định rằng, các vùng này không phải là vùng ngọt tự nhiên quanh năm mà là vùng ngọt hóa. Trước đây các vùng này có hai mùa mặn-ngọt. Mùa mưa, vùng Trần Văn Thời ngọt nhờ nước mưa, vùng Gò Công ngọt nhờ nước mưa và nước sông Tiền. Đến mùa khô ở vùng Trần Văn Thời khi nước mưa bốc hơi đi hết, còn lại nước mặn từ biển vào. Ở vùng Gò Công, vào mùa khô dòng chảy sông Tiền yếu, biển đẩy vào, nước mặn pha với nước ngọt thành nước lợ. Sau khi các vùng này được bao đê khép kín ngăn mặn-trữ ngọt để ngọt hóa quanh năm, nước mặn không còn vào được nữa. Gặp những năm thời tiết El Nino nắng nóng cực đoan, lượng nước mưa từ mùa mưa trước đã bị cạn kiệt ngay đầu mùa khô năm sau nên kênh nội đồng bị cạn kiệt, có khi đáy kênh cũng khô đến nứt đất, đất bị co ngót, xẹp xuống làm cho sụt lún toàn bộ đất bên trong đê bao khép kín. Ở những nơi đắp đất làm đường giao thông ven kênh mương, sự sụt lún càng mạnh hơn làm đứt gãy đường sá.

Hiện tượng sụt lún ở Hồng Dân mới xuất hiện lần đầu trong mùa khô năm nay. Bản chất vấn đề sụt lún nơi đây cũng tương tự như sụt lún ở các vùng ngọt hóa khác là do thiếu nước làm cho đất tầng mặt bị khô và co ngót, xẹp xuống. Vùng Hồng Dân thuộc vùng ngọt hóa bán đảo Cà Mau nên nước mặn đã bị ngăn lại trong khi nước ngọt bên trong không đủ.

Cần lưu ý rằng, hiện tượng khô kiệt dẫn đến sụt lún ở vùng ngọt hóa Trần Văn Thời hoàn toàn không liên quan gì đến mực nước sông Mê Công vì vùng này trong tự nhiên trước nay không nhận nước từ sông Cửu Long. Nguồn nước ngọt ở đây chỉ có từ nước mưa trong mùa mưa. Đối với vùng Gò Công, sự khô kiệt bên trong (chưa đến mức gây sụt lún năm nay) cũng không liên quan đến mực nước sông Mê Công vì thực tế mực nước sông Mê Công trong mùa khô 2024 ở mức trung bình, không hề bị cạn kiệt. Những vùng ngọt hóa đang chịu ảnh hưởng của cả hai hiện tượng, sụt lún tầng đất mặt do khô hạn và sụt lún tầng sâu trên toàn đồng bằng do khai thác nước ngầm. Lưu ý, sự sụt lún toàn đồng bằng, mắt thường không thể nhìn thấy được vì tốc độ chậm hơn và sụt lún trên diện rất rộng.

Đi tìm giải pháp

Xét bối cảnh chung về tình hình hạn mặn năm nay, chúng ta cần lưu ý rằng hạn mặn đến khá muộn so với hằng năm vì mùa lũ năm 2023 đạt đỉnh muộn khoảng một tháng so với những năm trước. Do đó, phần đuôi của mùa lũ năm 2023 đã lấn sang đầu mùa khô năm 2024. Mực nước sông Mê Công năm nay cũng không cạn kiệt. Đến tháng ba, nắng nóng bắt đầu gay gắt và kéo dài suốt mùa khô, nhưng hạn mặn không gay gắt như mùa khô năm 2016 và năm 2020. Có những lúc vào đầu tháng 3/2024 mặn thọc sâu vào đất liền theo các nhánh chính sông Cửu Long với khoảng cách tương đương năm 2016, nhưng đó là dao động theo thủy triều, không thể dùng để so sánh với mùa khô năm 2016 và năm 2020.

Thực tế đã chứng minh hiện tượng sụt lún do khô hạn chỉ xảy ra bên trong các vùng ngọt hóa và đã lặp lại nhiều lần. Trong khi, tiếp tục duy trì phương thức ngọt hóa cũng không mang lại lợi ích vì ngăn được mặn từ ngoài vào thì bên trong cũng không có nước.

Đứng trước bối cảnh này, đối với các vùng ngọt hóa gần biển xa sông, có thể lựa chọn giải pháp là tiếp tục duy trì ngọt hóa để tiếp tục canh tác lúa và cây trái nước ngọt vào mùa khô, tiếp tục “chiến đấu” với mặn bằng công trình như đến nay. Nếu theo giải pháp này, có thể thấy rằng cứ vài mùa khô sẽ có một lần những vùng này phải “oằn mình” chống hạn-mặn. Các công trình có thể ngăn mặn từ biển vào rất hiệu quả nhưng mặn và phèn từ dưới đất sẽ trồi lên vì đất ở những vùng này bên dưới là đất mặn và phèn tiềm tàng. Trong những năm nắng hạn cực đoan, việc ngăn mặn sẽ tạo ra sự khô hạn tuyệt đối vì không có nước mặn cũng không có nước ngọt kể cả cho sản xuất và sinh hoạt. Vậy đã đến lúc chúng ta cần đặt câu hỏi nghiêm túc rằng, trong bối cảnh ngày nay, việc ngăn mặn-trữ ngọt ở những vùng ngọt hóa có còn khả thi không và có mang lại lợi ích gì nữa không? Đó là chưa kể bên trong các vùng ngọt hóa, nước bị tù đọng, ô nhiễm nặng nề, không còn tài nguyên thủy sản tự nhiên vốn rất phong phú trước đây.

Về lâu dài, phải tuân thủ các quy hoạch liên quan đến vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Trong đó, Quy hoạch tích hợp Đồng bằng sông Cửu Long đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 287/QĐ-TTg năm 2022 và công bố tháng 6/2022 tại Cần Thơ. Quy hoạch này đã được soạn thảo dựa trên nguyên tắc thuận thiên của Nghị quyết số 120 của Chính phủ năm 2017.

Cụ thể, Quy hoạch tích hợp Đồng bằng sông Cửu Long chia đồng bằng thành ba vùng. Vùng lõi ngọt ở phía thượng lưu là vùng luôn luôn có nước ngọt kể cả những năm cực đoan; vùng này ưu tiên cho cây lúa, cây trái, thủy sản nước ngọt. Tiếp đến là vùng chuyển tiếp, tức là vùng lợ với chế độ nước luân phiên, nước ngọt vào mùa mưa có thể trồng lúa, nước lợ vào mùa khô. Đối với vùng này cần chuyển đổi hệ thống canh tác sang thích ứng với nước lợ-mặn vào mùa khô để nước mặn-lợ là cơ hội chứ không phải là mối ám ảnh mỗi mùa khô nữa. Vùng sát ven biển là vùng mặn quanh năm thì phát triển hệ thống canh tác thích ứng với chế độ mặn quanh năm.

Đối với những vùng ngọt hóa như Gò Công (Tiền Giang), Trần Văn Thời (Cà Mau) và một số vùng ngọt hóa khác nằm trong vùng chuyển tiếp thì sẽ chuyển đổi trở lại điều kiện luân phiên ngọt-lợ tự nhiên như trước đây sau thời hạn của kỳ quy hoạch này vào 2030.

Tuân thủ thực hiện đúng quy hoạch này sẽ không còn hiện tượng hạn ven biển, và không còn sụt lún hư hại đường sá trong các khu ngọt hóa. Nhưng do các khu ngọt hóa này đã tồn tại nhiều chục năm, hệ thống canh tác và sinh kế của người dân đã phụ thuộc vào nước ngọt quanh năm, nên việc chuyển đổi trở lại thuận theo mùa mặn-ngọt tự nhiên sẽ ảnh hưởng đến sinh kế người dân và khó thực hiện ngay được. Vì vậy, Nhà nước cần có động tác chuẩn bị ngay từ bây giờ để hỗ trợ người dân thực hiện cuộc chuyển đổi đó cho các vùng ngọt hóa.

Dù muốn hay dù không thì thực tế trong các năm qua và trong các năm tới cũng sẽ chứng minh rằng việc chuyển đổi theo đúng Quy hoạch tích hợp Đồng bằng sông Cửu Long đã được Chính phủ phê duyệt là phù hợp thực tế.