Tái cơ cấu ngành sản xuất lúa gạo để ứng phó hạn, mặn

Kết quả sản xuất lúa vụ đông xuân 2015 - 2016 tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cho thấy dù đã có dự báo hạn, mặn sẽ gay gắt và được sự hỗ trợ kịp thời của Chính phủ, ngành nông nghiệp và các địa phương, nhưng những thiệt hại vẫn rất lớn khi năng suất chỉ đạt 68,81 tạ/ha, giảm 2,43 tạ/ha; sản lượng ước đạt 10.944.400 tấn, giảm 186.144 tấn so với vụ đông xuân 2014 - 2015. Bối cảnh ấy đòi hỏi ngành sản xuất lúa gạo các địa phương vùng ĐBSCL phải có những lựa chọn mang tính chiến lược như chuyển đổi mùa vụ, thay đổi cơ cấu giống, điều hòa thủy lợi để có thể thích ứng lâu dài với hạn, mặn…

Thu hoạch lúa chất lượng cao tại Hợp tác xã Mỹ Thành(Tiền Giang).
Thu hoạch lúa chất lượng cao tại Hợp tác xã Mỹ Thành(Tiền Giang).

Chọn ba vụ lúa, hay một vụ lúa - tôm?

Khu vực ĐBSCL hiện có 3,25 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có 1,82 triệu ha đất lúa; trong 1,82 triệu ha đất lúa có 1,7 triệu ha đất chuyên lúa (hai và ba vụ lúa), 185.000 ha đất lúa màu (một vụ lúa, hai hoặc ba vụ màu), 240.000 ha đất một vụ lúa, sau nuôi tôm hoặc cá (lúa-cá). Diện tích gieo trồng lúa ở ĐBSCL biến động trên dưới 4,3 triệu ha/năm, nếu tính hệ số sử dụng đất lúa trên tổng thể đạt bình quân xấp xỉ 2,4 lần. Lúa gieo trồng chủ yếu ở hai vụ: đông xuân khoảng 1,55 triệu ha, hè thu 1,66 triệu ha; ngoài ra có vụ lúa thu đông từ 860 đến 870 nghìn ha, lúa mùa ổn định khoảng 190 nghìn ha.

Thực chất, phần đất gieo cấy đến ba vụ/năm chiếm khoảng hơn 40% diện tích đất lúa. Lúa vụ ba hay lúa thu đông chủ yếu tập trung ở vùng có đê bao, tránh được lũ. Trong ba vụ lúa chính ở ĐBSCL, vụ đông xuân được xem là vụ cho năng suất cao nhất, hiệu quả nhất với chi phí ở mức trung bình và chất lượng lúa gạo cũng khá tốt và ổn định; sau đó là vụ thu đông, mặc dù diện tích vụ này chỉ bằng phân nửa diện tích vụ đông xuân và hè thu nhưng lại là vụ có năng suất khá cao, chi phí sản xuất thấp, thuận lợi khi thu hoạch (đã cuối mùa mưa). Vụ hè thu có diện tích lớn, gieo trồng cuối mùa khô, nếu nguồn nước ngọt tốt thì thuận lợi nhưng chi phí bơm tưới cao; lúa sinh trưởng phát triển trong mùa mưa, lại cao điểm ở giai đoạn cuối khi lúa trổ bông, thu hoạch, cho nên năng suất vụ hè thu thường thua hai vụ còn lại, chất lượng gạo cũng thấp do khó khăn giai đoạn thu hoạch và tốn năng lượng, chi phí sấy hạt. Vụ này được đánh giá là vụ bất lợi hơn cả; giá thành lúa cũng cao so với các vụ khác trong năm, do năng suất thấp hơn.

Trước những diễn biến ngày càng phức tạp của hạn, mặn, gần đây còn có quan điểm thay vì gieo trồng hai hoặc ba vụ lúa, khu vực ĐBSCL nên chuyển sang gieo trồng một vụ lúa, kết hợp với nuôi tôm. Tuy nhiên, quan điểm này cũng có những nét tích cực và hạn chế. Theo các chuyên gia nông nghiệp, thông thường, tại khu vực ĐBSCL có một vụ lúa và nuôi tôm (vùng này tập trung ở khu vực các tỉnh ven biển từ Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và một phần Kiên Giang - vùng bán đảo Cà Mau). Với phương thức này, bà con tận dụng được lợi thế, khi mà mùa mưa với nguồn nước ngọt sẵn hơn, tác động của xâm nhập mặn thấp và gần như không đáng kể thì gieo cấy một vụ lúa. Diện tích vùng lúa - tôm những năm gần đây cũng có xu hướng tăng và hiện có khoảng 170 nghìn ha, định hướng sẽ mở rộng lên hơn 200 nghìn ha.

Hình thức chuyển đổi này đã được thực tiễn chứng minh là hiệu quả rõ rệt so với hai hoặc ba vụ lúa. Tuy vậy, cũng có những trắc trở, nhất là vấn đề quy hoạch để định hướng cụ thể cho nông dân, sau đó là phải có hệ thống hạ tầng thủy lợi phù hợp việc lấy nước canh tác lúa ở vụ lúa và lấy nước mặn cho vụ nuôi tôm; việc quy hoạch phải thành vùng riêng, quy mô, tránh tình trạng xen kẹt sẽ rất khó cho việc lấy nước phục vụ thâm canh lúa hoặc tôm, nếu không có hệ thống sẽ làm tái mặn hóa đất lúa mà chúng ta đã mất nhiều công sức để ngọt hóa.

“Thích ứng, chung sống”

Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), ngành đã có các quy hoạch (một số quy hoạch đã được phê duyệt như quy hoạch chuyển đổi đất lúa, quy hoạch lúa thu đông…), tuy nhiên cần tính tới những tác động mạnh mẽ và rất nhanh của biến đổi khí hậu và những yếu tố phi tự nhiên khác để có thể dự báo và tiên lượng sớm, trong đó quan điểm thích ứng và chung sống vẫn được xem là cách tiếp cận thông minh hơn. Giảm đất lúa, chuyển đổi cũng là quan điểm chỉ đạo của ngành, tất nhiên việc chuyển đổi phải tính tới nhiều yếu tố: khả năng tiêu thụ và hơn hết là so sánh với hiệu quả của lúa, mục tiêu là để nông dân có thu nhập cao hơn, bền vững hơn.

Thực tế xâm nhập mặn và những thiệt hại trên lúa ở các tỉnh ven biển khu vực ĐBSCL khiến chúng ta cũng cần tính lại về cơ cấu sản xuất cho những năm tới. Tại Hội nghị “Sơ kết sản xuất trồng trọt vụ đông xuân 2015-2016; triển khai kế hoạch sản xuất vụ hè thu, vụ mùa 2016 các tỉnh Đông Nam Bộ và ĐBSCL” tại Tiền Giang vào cuối tháng 3-2016, khi bàn về kế hoạch và giải pháp sản xuất vụ hè thu, vụ mùa năm 2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định: Để hạn chế tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL trong năm 2016 các địa phương cần tập trung chỉ đạo tiếp tục thực hiện một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, về thủy lợi cần quản lý chặt chẽ nguồn nước, thực hiện tưới tiết kiệm, không để rò rỉ, thất thoát nước trên hệ thống kênh rạch nội đồng. Nạo vét một số trục kênh chính, củng cố bờ bao ngăn mặn, trữ ngọt, sửa chữa các cống, bọng, điều tiết nước... để tăng khả năng trữ nước ngọt và giữ kín nước, giảm tổn thất rò rỉ. Theo dõi diễn biến thời tiết, nguồn nước, xâm nhập mặn trong và ngoài hệ thống cống, vận hành điều tiết nước theo quy trình ngăn mặn, trữ ngọt, bảo đảm phân phối nước công bằng, hợp lý, hiệu quả; tận dụng tối đa thời gian mở cống lấy nước trong thời gian triều cường, độ mặn cho phép.

Thứ hai, cần tập trung chỉ đạo bố trí thời vụ sản xuất và thời gian xuống giống của các vụ hè thu, thu đông và vụ mùa 2016 thật hợp lý, né tránh hạn, mặn, tập trung, nhanh và gọn. Không xuống giống lúa xuân hè vì lượng nước phục vụ cho sản xuất lúa khan hiếm vào các tháng đầu năm 2016, tiềm ẩn nhiều rủi ro về thiếu nước và là cầu nối dịch hại cho vụ hè thu chính vụ, làm cho việc quản lý sản xuất và mùa vụ sản xuất khó khăn hơn.

Đối với vụ hè thu 2016, tình hình khô hạn tiếp tục kéo dài đến tháng 6-2016, toàn vùng sẽ có khoảng 500.000 ha không xuống giống đúng thời vụ do thiếu nước, chiếm hơn 40% diện tích của các tỉnh ven biển và khoảng gần 30% diện tích gieo trồng toàn khu vực. Do vậy, cần bố trí thời vụ như đề xuất sau: Thời vụ sẽ bắt đầu khi có mưa, khoảng nửa đầu tháng 6 dương lịch (theo dự báo) tại các vùng chịu ảnh hưởng nước trời ở khu vực ven biển (tính sâu vào đất liền đến 70 km) thuộc các tỉnh: Long An (phía nam), Tiền Giang (phía đông), Bến Tre (các huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú), Trà Vinh (các huyện Cầu Kè, Tiểu Cần, Cầu Ngang, Châu Thành, Trà Cú), Sóc Trăng (Long Phú, Trần Đề, Thạnh Trị, Ngã Năm), Bạc Liêu (Vĩnh Lợi, Hòa Bình, Phước Long, Hồng Dân và Giá Rai), Kiên Giang (Vĩnh Thuận, An Minh, An Biên và U Minh Thượng) và Cà Mau.

Đối với vụ thu đông 2016, thời vụ xuống giống trong cơ cấu ba vụ sẽ bắt đầu vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 với vùng xuống giống hè thu trong tháng 4 thuộc phù sa ngọt sông Tiền, sông Hậu, vùng Đồng Tháp Mười và một phần Tứ Giác Long Xuyên, diện tích khoảng 550 nghìn ha. Đây là vùng tương đối thuận lợi cho sản xuất ba vụ, không bị ảnh hưởng của thiếu nước, do vậy cần tập trung chỉ đạo đúng lịch thời vụ sản xuất và lưu ý theo dõi mực nước lũ.

Thứ ba, về cơ cấu giống, ngoài các ưu tiên cho sản xuất các giống lúa phù hợp với cơ cấu mùa vụ, thị trường, cần chú ý tới phù hợp với diễn biến nguồn nước, tình hình xâm nhập mặn, đặc biệt là tám tỉnh ven biển vùng ĐBSCL. Sử dụng các giống lúa ngắn ngày, bố trí nhóm giống cùng thời gian sinh trưởng để thuận tiện cho việc cung cấp nước tưới, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm và hiệu quả.

Hiện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng đề án tái cơ cấu ngành hàng lúa gạo theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững, ứng phó tốt hơn với biến đổi khí hậu, trong đó có hạn, xâm nhập mặn. Theo đó, cơ cấu mùa vụ cũng sẽ được điều chỉnh. Định hướng ổn định vụ lúa đông xuân, tăng diện tích vụ thu đông, giảm bớt diện tích vụ hè thu. Diện tích lúa cả năm sẽ điều chỉnh giảm thay vì cả nước hiện đang gieo trồng hơn 7,8 triệu ha lúa, chúng ta sẽ giảm dần diện tích lúa, thực hiện chuyển đổi linh hoạt, đặc biệt những vùng có nguy cơ đối mặt với xâm nhập mặn và thiếu nước.

Trần Xuân Định

Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt