Hai mươi năm ấp ủ, mười lăm năm sưu tầm tư liệu, sáu năm cặm cụi bên bàn viết - phần lớn vào những đêm khuya và ngày nghỉ - PGS.TS, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, đã hoàn thành bộ tiểu thuyết sử thi năm tập "Nước non vạn dặm" - công trình văn học đồ sộ đầu tiên tái hiện trọn vẹn cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ tiểu thuyết. Người con xứ Nghệ ấy đã tự vạch cho mình một hành trình "vạn dặm" trên giấy, lặng lẽ đi theo dấu chân “vạn dặm” của Bác Hồ kính yêu qua từng trang viết, để rồi mỗi con chữ, mỗi câu văn được viết ra đều thấm đẫm lòng kính yêu lẫn nỗi mến thương vô hạn.

Viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, với bất kỳ nhà văn nào, cũng là một thử thách lớn lao và đầy trăn trở. Lịch sử đã ghi chép, nghiên cứu, phân tích;  điện ảnh đã khắc họa, tái hiện; thơ ca đã ngợi ca, biết ơn - hầu như mọi loại hình nghệ thuật trong và ngoài nước đều đã có những tác phẩm lớn về Người. Riêng ở địa hạt tiểu thuyết - thể loại được coi là "thể loại trung tâm", là “đại pháo” của văn học - số tác giả trong nước dám dấn thân vẫn chưa vượt quá số lượng của mười ngón tay. Nhà văn Sơn Tùng với "Búp sen xanh", “Bông Sen vàng”… đã mở đường thành công, nhưng các tác phẩm của ông chủ yếu khắc họa tuổi thơ ấu và tuổi thanh niên của Bác. Những nhà văn khác cũng thường chọn một "lát cắt" lịch sử nhất định nào đó. Chưa ai ôm trọn cả cuộc đời và sự nghiệp cách mạng suốt 79 mùa xuân của Bác Hồ trong một bộ tiểu thuyết đồ sộ.

Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ tự biết, nếu chọn lần theo con đường mà Bác Hồ đã đi trong 79 năm ấy, phải tự xác định cho mình một nhiệm vụ khó nhọc, nặng nề, có vẻ quá sức. Nếu nói thuận lợi, cũng có nhiều điều. Đã là mọi người Việt Nam, dù trong hay ngoài nước, ai ai cũng yêu kính và tôn vinh Bác Hồ, đều hiểu khá rõ thân thế,  sự nghiệp vĩ đại của Người. Nhưng cái khó lại ở chỗ, tất cả những điều ấy đã là quá vãng, đã trở thành lịch sử. Nếu viết văn mà như chép lại lịch sử thì chỉ cần đọc sách sử, không cần đến văn chương tiểu thuyết. Mà hư cấu quá xa sự thật thì lại rơi vào một "cái bẫy" khác - đánh mất niềm tin của người đọc.

"Không ai được phép viết về Bác như một siêu nhân, như một vị thánh. Bác không phải thần thánh, Bác là một con người, trước hết là một con người yêu nước, cách mạng, văn hóa, một người cộng sản chân chính nhất "- ông đặt ra ranh giới rõ ràng ngay từ đầu. Và chính ranh giới ấy trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ năm tập sách: giữ cho hình tượng Bác Hồ vĩ đại nhưng không xa cách, giản dị nhưng không đơn giản, thiên tài nhưng không là siêu nhân.

Ông tìm thấy lối đi riêng ở đời sống nội tâm, ở đó, lịch sử không thể ghi chép. Lịch sử không nói rằng vào một thời điểm cụ thể, Nguyễn Ái Quốc nghĩ gì, cảm thấy gì. Nhưng văn học thì có thể, và phải làm điều đó. Ông hình dung khoảnh khắc Bác vượt sông Hồng mùa nước lũ trở về Hà Nội sau hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước - lần đầu tiên đặt chân về thủ đô của một đất nước, mảnh đất ngàn năm văn hiến ấy vừa giành lại độc lập. Trong những đêm ở ngôi nhà giản dị, Bác mở cửa nhìn ra không gian thủ đô, và trong sâu thẳm, Người hướng về cội nguồn: nhớ ông bà nội ngoại, nhớ người chị Thanh sớm biết hy sinh lặng lẽ, nhớ anh cả Khiêm, nhớ em nhỏ Nguyễn Sinh Nhuận mà thuở bé Bác từng bồng đi xin sữa nhưng từ giã cõi đời quá sớm.

"Mỗi khi có biến cố, Bác lại nhớ về quê hương - làng Chùa, làng Sen. Nhớ đến những buổi đi câu cá, đi tắm sông. Tất cả tạo nên một đời sống của nhân vật, nhất là nội tâm rất phong phú, rất con người" - ông nói, giọng chùng xuống như thể chính mình cũng đang sống trong những hồi ức ấy. Hư cấu trong "Nước non vạn dặm", vì thế, không phải bịa đặt sự kiện, mà là tái hiện những lớp cảm xúc rất sâu, rất người - điều mà chỉ văn chương mới chạm tới được.

Nhưng nhà văn Nguyễn Thế Kỷ không dừng lại ở trang sách. Ông còn muốn hình tượng Bác Hồ xuất hiện lên sân khấu để đến gần hơn tới khán giả. Bộ tiểu thuyết năm tập được chuyển thể thành năm vở diễn sân khấu tương ứng, do TS, NSND Triệu Trung Kiên đạo diễn, Nhà hát Sân khấu Truyền thống Quốc gia Việt Nam thực hiện. Hai vở "Nợ nước non" và "Từ Việt Bắc về Hà Nội" đã công diễn ở nhiều tỉnh thành và tạo tiếng vang lớn.

Điều mới mẻ đến mức táo bạo nhất trong các vở diễn ấy là sự giao thoa văn hóa vùng miền. Bác sinh ra ở xứ Nghệ thì ê kíp nghệ thuật sử dụng dân ca ví giặm. Bác sống ở Huế thì có ca Huế, mái hò mái đẩy. Bác vào Bình Thuận, Phan Thiết thì có bài chòi Nam Trung Bộ. Bác đến Sài Gòn thì đắc địa nhất là dùng dân ca Nam Bộ và nghệ thuật cải lương. Mỗi vùng đất Bác đi qua đều được "phủ" lên một lớp âm nhạc truyền thống riêng, biến sân khấu thành một hành trình không chỉ của lịch sử mà còn của văn hóa.

Ý tưởng ấy không đến bất ngờ. Trước "Nước non vạn dặm", Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ và Đạo diễn Triệu Trung Kiên đã thử nghiệm trong vở "Ngàn năm mây trắng" - câu chuyện nàng Tô Thị đi tìm chồng, đi qua từng vùng văn hóa Bắc Bộ, miền Trung, rồi xuôi về Nam, mỗi chặng đường lại mang một sắc thái dân ca, dân nhạc khác nhau. Vở diễn ấy đã đoạt huy chương Bạc tại Liên hoan Sân khấu quốc tế, chứng minh rằng sự kết hợp liên vùng, liên văn hóa, nếu được "bàn tay đạo diễn xử lý khéo", sẽ không trở thành "nồi lẩu thập cẩm" mà là một bữa tiệc nghệ thuật đầy dư vị sâu lắng, cuốn hút.

Ông kể về cảnh mẹ Loan - thân mẫu Bác - qua đời, trên sân khấu truyền thống. Chất liệu dân ca xứ Huế được đưa vào khoảnh khắc ấy, và công chúng rơi nước mắt xa xót, tiếc thương. Hay cảnh hai cha con Nguyễn Sinh Sắc chia tay ở huyện Bình Khê, người cha dặn con: "Nước mất thì lo đi tìm đường cứu nước, tìm cha lúc này phỏng có ích gì" – dân ca bài chòi khu Năm vang lên, dù ngắn, nhưng đủ để người xem nhận ra ngay mảnh đất ấy, không cần lời chú giải nào thêm.

Nhìn rộng hơn, ông tin rằng câu chuyện cũ hoàn toàn có thể chạm đến người trẻ nếu được kể bằng ngôn ngữ mới. Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ nhắc đến những ca sĩ, nghệ sĩ trẻ như Hoàng Thùy Linh với không gian văn hóa Bắc Bộ hiện đại, Đen Vâu, Tùng Dương, Hoà Minzy, Đức Phúc…Tất cả đều là minh chứng cho thấy đề tài quê hương, đất nước, con người không hề cũ mòn, chỉ cần tìm đúng cách kể, ngôn ngữ nghệ thuật kể.

Khi được hỏi về "điểm chạm" để người trẻ không coi lịch sử là điều xa cách, nhà văn Nguyễn Thế Kỷ không bắt đầu từ những sự kiện lớn lao. Ông bắt đầu kể từ câu chuyện một cậu bé nghịch ngợm ở làng Sen. Cậu bé Nguyễn Sinh Cung chơi đùa như bao đứa trẻ, đi câu cá bị bạn giật cần khiến lưỡi câu móc vào tai, để lại vết sẹo nhỏ theo suốt cuộc đời. Những chi tiết tưởng rất nhỏ nhưng khiến người đọc thấy Bác lớn lên từ những điều bình dị như bất kỳ ai.

Rồi ông kể về một gia đình người Pháp mà Nguyễn Ái Quốc gắn bó như người thân. Trong gia đình ấy có cô con gái, gia đình mong muốn sẽ có một sự cảm mến đặc biệt và khiến bác có thể ở lại. Nhưng Bác đã nói rất rõ ràng: con đường dài vạn dặm mình còn phải đi tiếp, phải trở về phương Đông, trở về Tổ quốc. Khi đất nước độc lập, nhất định Người sẽ quay lại thăm nơi này, những người yêu thương này. Và sau này, năm 1946, Bác đã làm điều đó để tỏ lòng tri ân. Chi tiết nhỏ, nhưng thể hiện trọn vẹn sự thủy chung, tình nghĩa và nhân cách của Người.

Hay chuyện Bác dùng bữa với Thủ tướng Ấn Độ. Trên bàn bày đầy đủ dao, thìa, dĩa theo nghi thức phương Tây, nhưng Bác biết người Ấn Độ có thói quen ăn bằng bàn tay như một truyền thống ẩm thực thú vị. Bác chủ động đề nghị ăn theo cách truyền thống đó. Một cử chỉ giản dị mà xóa nhòa khoảng cách giữa chủ và khách, giữa nghi lễ và con người. Đó là thứ "nghệ thuật ngoại giao" mà ông gọi là hiện thân của phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến" - cái bất biến là độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc cho nhân dân; còn ứng vạn biến là sự linh hoạt, sáng tạo trong muôn vàn tình huống.

Nhà văn Nguyễn Thế Kỷ tin rằng đây chính là bài học lớn nhất mà Bác để lại cho tuổi trẻ hôm nay: trong một thế giới phẳng với muôn vàn luồng tư tưởng, các cách thức thức hành lối sống, người trẻ cần có bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn để chọn lựa điều đúng đắn, tích cực, nhân văn. Và ông chọn một câu nói của Bác làm phương châm cho chính hành trình hai mươi năm cầm bút của mình: "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền."

"Đó không phải lời nói duy ý chí" - ông nhấn mạnh - "mà là sự đúc kết từ chính cuộc đời của Bác. Hãy nghĩ đến hành trình vạn dặm đi tìm đường cứu nước, trong bối cảnh một đất nước trải qua hàng nghìn năm Bắc thuộc, rồi bị thực dân, đế quốc xâm lược,  đô hộ. Vậy mà cuối cùng, dân tộc ta vẫn giành lại được độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, đi lên cùng nhân loại."

Hai mươi năm trước, một người con xứ Nghệ quê hương Bác Hồ bắt đầu ấp ủ giấc mơ đưa hình tượng Hồ Chí Minh vào tiểu thuyết. Hai mươi năm sau, bộ "Nước non vạn dặm" đã hoàn thành trọn vẹn, được ra mắt đúng dịp kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những lẵng hoa tươi đẹp chúc mừng của Tổng Bí thư và Chủ tịch nước. Ông mang bộ sách đi tặng học trò và thầy cô giáo ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung, miền Nam, nhất là các trường dân tộc nội trú, các em có hoàn cảnh khó khăn - lặng lẽ đi, lặng lẽ về, không báo trước, không cần sự đón tiếp khách khí. Giản dị như cách ông học được từ người lãnh tụ kính yêu, như cách mà Bác đã sống.

Cuộc hành trình "vạn dặm" trên giấy ấy, suy cho cùng, cũng là một cách nối dài bước chân Người - để thế hệ hôm nay có thể nhìn thấy, hiểu thêm và yêu mến vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc qua một lăng kính rất đời, rất người. Tháng Năm này, sen ở làng Sen, làng Hoàng Trù lại nở. Và trên những trang viết của nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, hương sen ấy vẫn đang ngát thơm.

  • Xuất bản: 05/2026
  • Tổ chức sản xuất: Khánh Sơn
  • Thực hiện: Anh Thư
  • Trình bày: Anh Thư - Thuỳ Dung
  • Hình ảnh, video: 28 Entertainment, Nhân vật cung cấp