Chân dung Trung tá, nhà báo Hoàng Trường Giang - người con của núi rừng Lai Châu, Anh Bộ đội Cụ Hồ và cũng là chiến sĩ, nhà báo trên mặt trận văn hoá trong hành trình gần 18 năm bền bỉ phụng sự
Có những nhà báo mà cống hiến của họ không chỉ nằm trên trang giấy. Suốt gần 18 năm, từ mảnh đất Lai Châu quê hương, Trung tá Hoàng Trường Giang, Trưởng phòng Phát hành và Truyền thông, Báo Quân đội nhân dân đã dùng ngòi bút của mình làm cầu nối, lặng lẽ dựng lên hơn 40 công trình trường học, nhà bán trú, điện mặt trời nơi vùng cao; giúp đỡ hàng vạn trẻ em và gần 30 gia đình quân nhân có hoàn cảnh khó khăn. Cuối năm 2025, hành trình ấy đã được vinh danh ở hạng mục dự án Truyền cảm hứng tại Giải thưởng Human Act Prize với chủ đề "Kiên trì phụng sự". Nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6, Cà Phê Nhân Dân dành không gian để trò chuyện cùng Trung tá, nhà báo Hoàng Trường Giang, người mà với anh, "phụng sự" không phải khẩu hiệu, mà cần được chứng minh bằng hành động cụ thể.
Để đến được điểm trường mầm non Lản Nhì Thàng, nơi vùng cao Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, nhà báo Hoàng Trường Giang cùng cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng phải đi bộ gần bốn tiếng đồng hồ ngược núi. Điểm trường nằm ở độ cao gần 2.000 mét so với mực nước biển, lọt thỏm giữa khu rừng già quanh năm sương mù bao phủ. Và ở đó, anh nhìn thấy hình ảnh khiến mình day dứt mãi: những em bé nhỏ xíu nằm co ro trên tấm phản đặt sát nền đất, tấm chăn mỏng tang quá ngắn - kéo lên đến cổ thì hở chân, kéo xuống chân thì lại hở ngực; những bàn chân bé xíu cứ thế thò ra ngoài giữa cái lạnh buốt giá của rừng cao. Một loạt câu hỏi bật lên trong đầu người chiến sĩ làm báo: Tại sao mình không xây một điểm trường? Tại sao không làm một ngôi nhà kiên cố? Tại sao không xây phòng bán trú cho các em?
Bức ảnh chụp ở Lản Nhì Thàng không phải là khởi đầu hành trình của anh, nhưng nó là lý do khiến anh thay đổi cách làm thiện nguyện. Nhà báo Hoàng Trường Giang bắt đầu tham gia các hoạt động cộng đồng từ cuối năm 2007, trong một chuyến đến thăm, tặng quà Trung tâm Bảo trợ xã hội số 2 tại Ba Vì, Hà Nội - nơi anh gặp những cụ già neo đơn, trẻ em bị bỏ rơi, các cháu khuyết tật và nạn nhân chất độc da cam. Thời gian đầu, các hoạt động anh tham gia chủ yếu mang tính tự phát, trao tặng đôi tất, chiếc mũ, đôi giày, tấm chăn hay áo ấm mỗi mùa đông. Nhưng anh nhận ra những món quà ấy chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian rất ngắn. Còn điểm trường thì khác - nó tồn tại lâu dài, bền vững, mang lại lợi ích cho nhiều thế hệ học sinh.
Từ suy nghĩ đó, anh quyết định xây dựng điểm trường đầu tiên với dự án mang tên "Giấc mơ ở Lản Nhì Thàng" được hoàn thành năm 2013. Những điểm trường, nhà bán trú, nhà đa năng, phòng ăn dựng như thế tiếp tục được hình thành trong các năm sau. Rất nhiều thế hệ học sinh đã học tập, trưởng thành từ những công trình ấy.
Một người làm báo như anh, trong hành trình tác nghiệp đã đi qua hàng nghìn, hàng vạn khung hình dữ dội của đời sống. Vậy vì sao tấm ảnh giản dị ấy lại khiến anh xúc động đến thế? Câu trả lời nằm ở chính tuổi thơ của anh. Nhà báo Hoàng Trường Giang sinh ra và lớn lên ở Lai Châu - tỉnh miền núi biên giới có hơn 90% diện tích là đồi núi, xa xôi cách trở, khí hậu khắc nghiệt. "Có thể với cùng một điều kiện kinh tế, người dân ở đồng bằng hay đô thị sẽ có nhiều cơ hội hơn để cải thiện cuộc sống, tiếp cận tri thức. Nhưng ở Lai Châu cũng như nhiều địa phương miền núi khác, khoảng cách đó vẫn còn rất xa", anh chia sẻ.
Chính những trải nghiệm tuổi thơ đã hun đúc trong anh một sự trăn trở với vùng cao, để rồi khi đã là một nhà báo, một quân nhân, anh tự thấy mình "có trách nhiệm chia sẻ, kết nối và đóng góp một phần nhỏ bé để giảm bớt những thiệt thòi, khó khăn của đồng bào ở các tỉnh miền núi". "Điều các em cần không chỉ là thêm một chiếc chăn hay một chiếc áo ấm, mà là một ngôi trường kiên cố và đủ ấm áp để học tập, sinh hoạt." Và đó là lý do để anh bắt đầu hành trình cùng những “que diêm” nhỏ.
Làm bất cứ công trình nào cũng có khó khăn, nhưng ở miền núi, địa hình chia cắt và thời tiết khắc nghiệt khiến mọi việc gian nan gấp bội. Gần đây nhất, nhà báo Hoàng Trường Giang đang chủ trì xây dựng một điểm trường ở Lang Thíp, Lào Cai. Kinh phí đã có từ khoảng hai tháng trước, nhưng phải đến tận một tuần vừa rồi mới khởi công được. "Trời mưa, việc vận chuyển vật liệu không thực hiện được, rồi phương tiện, máy móc bị hỏng hóc. Có rất nhiều nguyên nhân khách quan, đặc biệt là ở miền núi", anh kể.
Trong những lúc ấy, điểm tựa lớn nhất của anh là những người đồng đội. Anh luôn cố gắng phối hợp chặt chẽ với địa phương, tranh thủ sự hỗ trợ của lực lượng quân đội đóng quân trên địa bàn. Bởi quân đội, như anh nói, không chỉ là đội quân chiến đấu mà còn là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất; dân vận, giúp dân, đồng hành cùng nhân dân là những việc người lính làm thường xuyên.
Một ký ức khó quên với anh là năm 2010, khi anh tham gia chương trình "Mái ấm biên cương" của Bộ đội Biên phòng làm nhà cho đồng bào La Hủ ở bản Là Si, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Đây là một trong những dân tộc từng đứng trước nguy cơ suy giảm dân số. Ngày ấy, bà con thường lợp nhà bằng lá; khi mái lá ngả vàng thì lại bỏ đi nơi khác, nên vẫn gọi là "người Xá lá vàng", rất khó định cư ổn định lâu dài. Có những điểm như bản Là Si, bộ đội phải vác vật liệu trên vai, đi bộ gần hai ngày mới vào đến nơi, bởi hoàn toàn không có phương tiện nào tiếp cận được - chỉ có rừng sâu, núi cao, vực thẳm, sông suối chia cắt. Những tấm pro-xi măng, những cuộn dây thép, xi măng, đinh,… tất cả đều được vác trên vai người lính. "Sau mỗi chương trình như vậy, chúng tôi càng thấm thía hơn sự hy sinh, cống hiến của đồng chí, đồng đội mình", anh nói. Họ ngày đêm bám trụ nơi biên cương, ở những vùng khó khăn nhất của đất nước, không chỉ để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, mà còn để đùm bọc, đồng hành cùng nhân dân.
Là một nhà báo, Trung tá Hoàng Trường Giang không chỉ "làm", mà còn thấy mình có trách nhiệm "kể". Bước ngoặt đến từ chuyến công tác ra quần đảo Trường Sa tháng 5/2014. Đó không phải lần đầu anh đến Trường Sa. Năm 2010, trong chuyến đi đầu tiên với góc nhìn của một phóng viên trẻ mới đeo quân hàm thiếu úy, anh ngỡ ngàng và mơ mộng trước cây bàng quả vuông, cây phong ba, những dải san hô, ngọn hải đăng nên thơ, hữu tình. Nhưng đến năm 2014, khi đã có một độ chín nhất định trong tuổi đời tuổi nghề, anh nhìn thấy những điều rất khác.
"Tại sao đồng đội của mình lại có nhiều người vất vả đến thế? Và tại sao những câu chuyện của họ lại chưa được kể?" - anh tự hỏi. Bởi bản thân những người lính không bao giờ tự kể câu chuyện của mình. Trong từ điển của bộ đội có một từ rất hay: "khắc phục". Bởi với họ, bất cứ nhiệm vụ nào cũng có thể hoàn thành, khó khăn nào cũng có thể vượt qua, kẻ thù nào cũng có thể đánh thắng. Vì thế họ luôn lặng lẽ, không nói về những thiếu thốn, hy sinh. "Tôi vừa là một quân nhân, vừa là một nhà báo. Tôi thấy rằng mình có trách nhiệm phải kể những câu chuyện ấy đến mọi người", nhà báo Hoàng Trường Giang chia sẻ.
Sau chuyến đi năm đó, anh chia hành trình thiện nguyện của mình thành hai hướng song song: một mặt tiếp tục hỗ trợ trẻ em, trường học vùng cao, vùng sâu, vùng xa; mặt khác dành sự quan tâm cho một nhóm đối tượng đặc thù - cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang có hoàn cảnh khó khăn. Kể câu chuyện của họ để cộng đồng hiểu hơn, cảm thông và chia sẻ nhiều hơn; đồng thời kết nối nguồn lực để động viên, hỗ trợ hậu phương của họ. Trong rất nhiều câu chuyện của hải trình ấy, có một con người khiến anh day dứt mãi. Khi đến Cụm Dịch vụ Hậu cần nghề cá của Hải đoàn 129 ở đảo Đá Tây, anh ngồi trò chuyện với các chiến sĩ ngay trên bờ kè. Hỏi về những vất vả của bộ đội, một đồng chí chỉ tay về phía cầu cảng - nơi có người đàn ông vừa lặn dưới biển mang những sản vật lên - và nói: "Chúng tôi ở đây vất vả, nhưng vẫn không là gì so với đồng chí Phượng."
Người đàn ông ấy là Phan Đức Phượng, sinh năm 1971, ba lần nhập ngũ và là thợ lặn duy nhất trong suốt hơn mười năm tại Cụm Dịch vụ Hậu cần nghề cá ở Trường Sa. Cuộc sống của anh Phượng rất vất vả; nhiều năm dùng nguồn nước hứng từ mái fibro xi măng, sức khỏe bị ảnh hưởng. Cậu con trai út mắc hội chứng Down, vợ ở nhà không có việc làm ổn định, chủ yếu dành thời gian chăm con. Anh Phượng có một nguyện vọng tha thiết, được trở thành công nhân viên chức quốc phòng – để gắn bó lâu dài, chính thức với quân đội, và để gia đình bớt đi khó khăn.
"Sau chuyến đi ấy trở về, tôi cứ day dứt mãi về hoàn cảnh của anh", anh Giang nhớ lại. Anh cùng một số đồng đội viết bài, rồi gặp gỡ, trao đổi với các thủ trưởng ở nhiều cấp để tìm hướng giải quyết. Gần một năm sau, anh Phượng được tuyển dụng chính thức vào phục vụ trong quân đội, và đến nay vẫn đang công tác ngoài Trường Sa. Có lần vào Thành phố Hồ Chí Minh công tác, anh đi xe máy xuống tận thị xã Bà Rịa thăm gia đình anh Phượng, gửi một khoản tiền nhỏ hỗ trợ cuộc sống.
Chính vai trò "hai lần chiến sĩ", là người quân nhân với màu áo xanh bộ đội, là người chiến sĩ cầm cây bút trên mặt trận văn hoá, tư tưởng đã cho anh được làm nhiều công việc ý nghĩa. Là nhà báo quân đội, anh được đến nhiều quân khu, quân binh chủng, chứng kiến nhiều câu chuyện mà đồng nghiệp làm báo bên ngoài ít có cơ hội tiếp cận. Ở chiều ngược lại, so với đồng đội trong môi trường quân đội tương đối khép kín, anh lại có điều kiện va chạm, tương tác nhiều hơn với đời sống xã hội. Hai yếu tố cộng hưởng, giúp anh biết đến nhiều câu chuyện hơn, hiểu nhiều hoàn cảnh hơn, và nghĩ ra được những cách phù hợp để giúp đỡ đồng đội một cách hiệu quả.
Giữa một thời đại người ta quen nói đến những chiến dịch vĩ mô, những con số hàng chục, hàng trăm tỷ đồng hoành tráng, nhà báo Hoàng Trường Giang lại nhận hành trình của mình chỉ là "một que diêm" nhỏ bé. Với anh, lòng tốt là thứ định tính chứ không định lượng. "Không có một đơn vị nào để đo rằng người này tốt bao nhiêu hay người kia tử tế đến mức nào", anh nói. Một tập đoàn lớn bỏ ra hàng trăm tỷ đồng làm hoạt động xã hội - đó là trách nhiệm, là tình cảm của họ với cộng đồng, và thành công của doanh nghiệp cũng nhận được rất nhiều từ xã hội. Một cậu học trò đập con lợn tiết kiệm, nhịn tiền ăn sáng để giúp bạn vùng lũ mua sách giáo khoa - theo anh, hai hành động ấy đều là lòng tốt, đừng so sánh cái nào lớn hơn. “Lòng tốt có trong tất cả mọi người. Mỗi người góp một chút thì sẽ tạo nên những điều lớn lao."
Hình ảnh que diêm trong tên dự án của anh bắt nguồn từ một chuyến công tác qua đèo Hoàng Liên Sơn, anh nhìn thấy những đứa trẻ co ro ngồi sưởi bên một đống lửa giữa mùa đông giá rét, khi băng tuyết phủ trắng núi rừng miền Bắc. Một đốm lửa rất nhỏ thôi, nhưng trong hoàn cảnh ấy lại vô cùng giá trị, thậm chí có thể duy trì sự sống cho con người. Từ hình ảnh đó, anh nghĩ đến Cô bé bán diêm của nhà văn An-đéc-xen - câu chuyện cổ tích mà mỗi lần em bé thắp lên một que diêm là một lần ước mơ nhỏ hiện ra: một mái nhà, rồi cha mẹ, rồi ông bà, rồi một bàn ăn đầm ấm với tất cả những điều tốt đẹp em hằng mong ước. "Mỗi người chúng ta cũng giống như một que diêm vậy. Chúng ta đều có thể thắp lên một hy vọng, một ước mơ cho ai đó. Có thể đó chỉ là việc làm rất nhỏ bé, nhưng nó vẫn có ích cho một con người, cho một cuộc đời. Và tôi nghĩ mình cũng là một que diêm như vậy."
Trên những hành trình ấy, có một "que diêm" nhỏ đã bắt đầu đồng hành cùng anh: cậu con trai mới bảy tuổi của anh, hiện đang học tiểu học. Khi chưa tròn hai tuổi, cậu đã theo bố vào tận thành phố Vũng Tàu trao 100 triệu đồng cho Trường Tiểu học Phước Thắng. Khoản hỗ trợ giúp duy trì một lớp học tình thương ban đêm dành cho những em nhỏ nghèo, mồ côi, ban ngày phải đi bán vé số, đánh giày, làm thuê nên không có điều kiện đến trường.
Hai năm trước tại Viện Bỏng Quốc gia, hai bố con anh đến trao khoản tiền 70 triệu đồng hỗ trợ một gia đình bị cháy nhà có cậu con trai bỏng rất nặng, cậu bé trạc tuổi con anh. Con trai anh đã hỏi bố một câu rất khó: "Tại sao mình lại phải đi giúp đỡ người khác vậy bố?" Để giải thích cho một đứa trẻ năm tuổi hiểu là điều không hề dễ. Anh đã nói: "Trong cuộc sống luôn có rất nhiều người giúp đỡ mình. Vì thế, khi có điều kiện thì chúng ta hãy giúp đỡ mọi người con ạ." Rồi anh chỉ vào bạn nhỏ đang quấn băng trắng trên giường bệnh, để con hiểu rằng mình đang may mắn hơn rất nhiều và càng nên sẻ chia.
Năm ngoái, khi mưa lũ diễn biến phức tạp, trường học của con trai tổ chức nấu và đóng các suất cơm gửi tới nhiều khu vực bị cô lập ở Thái Nguyên, anh đưa con đến cùng tham gia. "Dù còn nhỏ, có thể bạn ấy chỉ dán một chiếc sticker hay một tờ giấy ghi chú lên hộp thức ăn thôi, nhưng chính việc được tham gia ấy cũng giúp bạn cảm nhận được ý nghĩa của sự sẻ chia." Bởi với anh, sự tử tế vốn có trong mỗi con người, mỗi gia đình và mỗi dân tộc, nhưng cần được nuôi dưỡng, chăm sóc và lan tỏa thì mới có thể phát triển. Ngày 10/6 vừa qua, anh là một trong những đại biểu dự cuộc gặp mặt của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với 100 nhân vật tiêu biểu của chương trình "Việc tử tế" tại Phủ Chủ tịch. Tại đó, người lãnh đạo đứng đầu Đảng, Nhà nước cũng đã nhấn mạnh phải đánh thức sự tử tế trong mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng và trong cả đất nước.
Suốt gần 18 năm, rất nhiều người đã tin tưởng và trao gửi cho anh – từ vài chục nghìn đồng tiền ăn sáng để dành của một em học sinh, đến những khoản tài trợ hàng trăm triệu đồng của doanh nghiệp, tổ chức. Họ phải tin anh thì mới gửi gắm tiền bạc, hy vọng và cả lòng tốt. Với anh, niềm tin ấy là một thứ tài sản vô giá. Có những mùa mưa bão, học sinh được bố mẹ đưa đến tận cơ quan anh để trao cho anh những xấp tiền lẻ đã được các em cẩn thận vuốt phẳng, buộc gọn và ghi rõ số tiền trong từng phong bì, với mong muốn mua sách giáo khoa cho các bạn vùng lũ. Lại có những doanh nghiệp, những nhà hảo tâm đã đồng hành cùng anh suốt hơn một thập kỷ, mỗi găn vẫn đều đặn gửi gắm vài chục đến vài trăm triệu đồng.
Thời gian gần đây, khi các hoạt động thiện nguyện, an sinh xã hội trên nền tảng số xuất hiện những tranh cãi làm ảnh hưởng đến niềm tin của cộng đồng, anh vẫn giữ nguyên quan điểm: đó chỉ là những trường hợp rất cá biệt. "Tinh thần cố kết cộng đồng, chia ngọt sẻ bùi luôn hiện diện trong máu thịt, trong tâm thức và trong 'gen' của người Việt Nam", anh tin như vậy. Và anh có một suy nghĩ riêng: "Đôi khi nếu chưa tìm thấy niềm tin của riêng mình thì hãy tin vào niềm tin của người khác" - như cách nhân dân tin tưởng vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các quỹ do Nhà nước phát động, hoặc nhiều tổ chức, cá nhân vẫn bền bỉ hoat động xã hội.
Anh nhớ lời một thầy giáo đại học từng nói: "Mọi thứ trong cuộc đời rồi sẽ trở thành hư vô" - công danh, tiền tài, sự nghiệp, quyền lực, thậm chí cả sức khỏe và nhan sắc. Nhưng có hai thứ con người có thể tiếp tục tích lũy và truyền lại cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác: Đó là tri thức và tình cảm. Tri thức là thứ càng học càng rộng mở, là hành trình không có điểm kết thúc. Còn tình cảm - trong đó có niềm tin - có thể lan tỏa từ người này sang người khác, từ cá nhân đến cộng đồng. "Khi con người biết yêu thương nhau, biết tin tưởng nhau thì xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều."
Trong thời đại công nghệ 4.0, trí tuệ nhân tạo đang thay đổi rất nhiều thứ, thậm chí cả video, hình ảnh, giọng nói cũng có thể bị làm giả. Mạng xã hội và các nền tảng số là nơi thông tin nhanh, nhiều nhưng cũng có thể nhiễu. "Nếu mỗi người không có cho mình 'bộ lọc', không có một đôi mắt đủ tỉnh táo và thông minh để nhận diện đúng - sai, thật - giả, thì rất dễ bị dẫn dắt bởi những điều không đúng đắn", anh nói.
Trong dòng chảy ấy, điều khiến anh tin vào sứ mệnh của nghề báo là hai chữ "cách mạng" trong "báo chí cách mạng". "Cách mạng nghĩa là sự thay đổi, là sự vận động không ngừng để hướng tới những giá trị tốt đẹp hơn", anh lý giải. Làm báo luôn có hai hướng - phát hiện, biểu dương, tôn vinh cái tốt; và đấu tranh, phê phán cái xấu, nhưng theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, làm báo phải "xây đi đôi với chống". "Chống không phải để phá, mà là để xây", anh nhấn mạnh.
Anh đặc biệt tâm đắc với lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho các nhà báo quân đội: “Nói những điều thật thiết thực, đúng đường lối chính trị, ít tếu, viết ngắn, giản dị, vẽ dễ hiểu, trình bày rõ ràng, ít tiếp sang trang khác”. Đến hôm nay, dù báo chí đã thay đổi rất nhiều về công nghệ và phương thức thể hiện, những lời dạy của Bác vẫn vẹn nguyên giá trị. "Tinh thần làm báo cách mạng là phải luôn tự hỏi: viết cho ai, viết để làm gì, rồi mới đến viết như thế nào. Trước khi viết hay, thì phải viết đúng". Thế hệ làm báo hôm nay cần tích cực học hỏi công nghệ và những thành tựu khoa học – kỹ thuật mới, nhưng tinh thần cách mạng trong mỗi tác phẩm thì tuyệt đối không được phai nhạt.
Mười hai năm nay, nhà báo Hoàng Trường Giang chưa có dịp trở lại Trường Sa. Ngoài cụm đảo Đá Tây, đồng chí Phan Đức Phượng vẫn ngày ngày lặn dưới làn nước biển mặn mòi; hễ có đoàn nhà báo nào ghé thăm đảo, anh Phượng lại hỏi có ai biết nhà báo Hoàng Trường Giang không? Một bài báo viết ra từ buổi chiều ngồi trên bờ kè năm ấy đã làm thay đổi một phận người. Anh gọi đó là việc của một que diêm. Nhưng giữa trùng khơi, que diêm nhỏ anh nhen lên đã cháy hơn một thập kỷ, đến giờ chưa hề tắt.
- Xuất bản: 06/2026
- Tổ chức sản xuất: Khánh Sơn
- Thực hiện: Anh Thư
- Trình bày: Anh Thư - Thuỳ Dung
- Hình ảnh, video: TheAnh28 Entertainment, Nhân vật cung cấp
