Giáo sư Stein Tonnesson.

Giáo sư Stein Tonnesson.

Là một nhà nghiên cứu lịch sử, nhà nghiên cứu hòa bình người Na Uy, Giáo sư Stein Tonnesson đã nhiều năm gắn bó với Việt Nam. Tạo dựng được uy tín trong giới Việt Nam học quốc tế, Giáo sư Stein Tonnesson có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam được in thành sách, trong đó cuốn “Việt Nam 1946: Chiến tranh bắt đầu như thế nào” (Vietnam 1946: How the War Began) đã được dịch sang tiếng Việt, do NXB Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành. Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, Giáo sư Stein Tonnesson đã dành riêng cho Báo Nhân Dân một cuộc phỏng vấn.

Mối liên kết giữa lãnh tụ và nhân dân

Thưa Giáo sư, điều gì đã đưa ông đến với Việt Nam? Liệu có một khoảnh khắc hay cuộc gặp gỡ đặc biệt nào đã khơi dậy mối gắn bó sâu sắc của ông với đất nước ở cách xa Na Uy cả chục nghìn cây số?

Tôi từng tham gia phong trào đoàn kết chống chủ nghĩa đế quốc tại châu Âu. Tôi phẫn nộ trước việc Mỹ ném bom Việt Nam và luôn mang theo mình một huy hiệu có dòng chữ: “Seier for FLN” (“Chiến thắng cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” - Đây là khẩu hiệu phổ biến của phong trào phản chiến tại châu Âu thập niên 1960-1970, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam - PV). Ngay từ khi còn là một thiếu niên, tôi đã học hát bài “Giải phóng miền nam” qua bản dịch tiếng Na Uy…

Một khoảnh khắc tôi nhớ rõ là vào dịp Giáng sinh năm 1972, khi Mỹ ném bom dữ dội xuống Hà Nội. Chúng tôi đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn tại Oslo, cũng như tại nhiều thành phố khác trên khắp châu Âu. Sau này, khi theo học ngành lịch sử ở Đại học, tôi muốn tìm hiểu, muốn có câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao cuộc chiến tranh Việt Nam lại nổ ra, với tất cả những đau thương mất mát mà nó đã tạo nên?

*****

Vào tháng 8 năm 1945, trong số tất cả các đảng phái và tổ chức ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương (ICP) ở vào vị thế thuận lợi nhất để lãnh đạo một cuộc cách mạng trên toàn quốc. Đảng đã ủng hộ phe Đồng minh và thiết lập được mối quan hệ hợp tác với cơ quan tình báo Mỹ. Đây là Đảng duy nhất duy trì được sự hiện diện bí mật ở cả ba miền đất nước trong suốt thời kỳ chiến tranh. Không giống như nhiều tổ chức dân tộc khác, Đảng Cộng sản Đông Dương không tìm kiếm sự hậu thuẫn từ Nhật Bản. So với các tổ chức khác, Đảng Cộng sản Đông Dương đặc biệt vững mạnh ở miền bắc Việt Nam và không phụ thuộc vào sự hỗ trợ của Trung Hoa Dân quốc như nhiều lực lượng khác ở miền bắc. Đảng có một lãnh tụ đầy sức hút - Hồ Chí Minh - và Mặt trận Việt Minh do Hồ Chí Minh sáng lập đã thu hút được đông đảo các tầng lớp nhân dân. Thêm vào đó, uy tín của Việt Minh ở Bắc và Trung Bộ càng được củng cố nhờ nỗ lực cứu trợ nạn đói khủng khiếp năm 1944-1945. (*)

Chọn Việt Nam là đối tượng nghiên cứu cho sự nghiệp học thuật của mình, ông cũng đã hướng mối quan tâm tới sự kiện lịch sử đặc biệt: Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm 1945, dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo ông, điều gì đã khiến Cách mạng Tháng Tám không chỉ diễn ra, mà còn thành công nhanh chóng và trọn vẹn đến thế?

Theo tôi có một số lý do chính. Thứ nhất là Nhật Bản tuyên bố đầu hàng đồng minh vào ngày 15/8. Trước đó quân đội Nhật vẫn kiểm soát phần lớn Đông Dương (bao gồm cả Việt Nam, Lào, Campuchia), nhưng từ thời điểm này họ bắt đầu rệu rã.

Thứ hai là khát vọng giải phóng đất nước đã sục sôi từ lâu trong lòng người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ có ý thức chính trị. Điều này dẫn đến việc thanh niên trên khắp cả nước đã hành động một cách nhanh chóng để giành chính quyền tại địa phương của mình, ngay sau khi thấy cơ hội xuất hiện và được báo tin rằng điều đó đã diễn ra tại nhiều địa phương khác.

Trên hết là một phong trào rộng lớn và được tổ chức bài bản đã xây dựng, phát triển ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh: Đó là Việt Nam Độc lập Đồng minh - Việt Minh (mà nòng cốt là Đảng Cộng sản Việt Nam - PV). Chính Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa và chỉ trong vài ngày sau cuộc cách mạng, đã thiết lập nên một chính phủ lâm thời để ngày 2 tháng 9 đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và suốt hành trình sau đó, đã kiên cường bảo vệ nó.

Ông nhìn nhận thế nào về khoảng thời gian từ ngày 19/8 đến 2/9/1945? Có hình ảnh, khoảnh khắc hay quyết định nào trong thời điểm này đã tác động sâu sắc đến ông?

Việc giành quyền kiểm soát Phủ Thống sứ Bắc Bộ (Bắc Bộ phủ - PV), biểu tượng ách thống trị của thực dân Pháp là một bước ngoặt quan trọng. Nhưng điều đó vẫn không thể so sánh với Ngày Độc lập 2/9, khi mối dây liên kết giữa nhân dân và vị lãnh tụ mới được hình thành trong khoảnh khắc Hồ Chí Minh hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” rồi hàng vạn người tại Quảng trường Ba Đình cùng vang lên lời đáp: “Có!”.

Dưới góc nhìn của một học giả quốc tế, ông đánh giá thế nào về thời khắc mà ông đã có ấn tượng đặc biệt ấy, trong buổi chiều 2/9/1945 lịch sử?

Với tôi, khoảnh khắc ấy đã thiết lập mối quan hệ giữa nhân dân và vị lãnh tụ của mình. Không một nhà lãnh đạo nào của Việt Nam có thể sánh được với uy tín và tầm ảnh hưởng mà Hồ Chí Minh sở hữu.

Tuy nhiên trên trường quốc tế, phải mất một thời gian dài thì sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được biết đến rộng rãi. Các nhà lãnh đạo của phong trào cộng sản quốc tế tại Moscow lúc đó không hề hình dung rằng sẽ có một cuộc cách mạng xảy ra ở Việt Nam và thậm chí còn coi đó như một điều ngoài dự kiến. Mối quan tâm chính của Josef Stalin khi ấy là củng cố các chính quyền ở các nước cộng sản mới thành lập ở Trung và Đông Âu và củng cố Đảng Cộng sản Pháp chứ chưa phải hỗ trợ phong trào cộng sản Việt Nam.

Cụ thể là Liên Xô lúc đó vẫn giữ thái độ hoài nghi với Hồ Chí Minh và chính quyền Việt Minh, nhất là khi Hồ Chí Minh nhận được sự ủng hộ (của các đồng chí trong Đảng - PV) để chính thức tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 11/1945 nhằm ngăn chặn lực lượng chiếm đóng Trung Hoa Dân quốc - vốn được cử sang Việt Nam sau Cách mạng để giải giáp quân Nhật - và cũng không giấu giếm âm mưu lật đổ Chính phủ Việt Minh để dựng nên một chính phủ chống Cộng (âm mưu “Diệt Cộng cầm Hồ” - Tiêu diệt Đảng Cộng sản, cầm tù Chủ tịch Hồ Chí Minh - của các tướng lĩnh Trung Hoa Dân quốc tại Việt Nam lúc đó - PV).

Đối với các nhà lãnh đạo cộng sản ở các nơi khác trên thế giới, việc giải tán đảng bị coi như một sự “dị giáo”. Vì vậy, phải đến năm 1950, những người cộng sản Việt Nam mới lấy lại được sự công nhận và tôn trọng đầy đủ từ phong trào cộng sản quốc tế.

*****

Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh bước lên lễ đài tại Quảng trường Ba Đình ở Hà Nội và hỏi qua micro trước một đám đông khổng lồ: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”. Khi đám đông vang dội đáp lại: “Có!”, một sợi dây huyền thoại đã được kết nối giữa nhân dân và vị lãnh tụ của họ. Cho đến nay vẫn còn cảm nhận được sức mạnh của sợi dây ấy khi chứng kiến dòng người xếp hàng dài chờ viếng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cạnh Quảng trường Ba Đình.

Tại buổi lễ ngày 2/9, Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và giữ chức Chủ tịch. Cụm từ “Dân chủ Cộng hòa” là một sáng tạo mới trong tư tưởng Marxist-Leninist, nó thể hiện một giai đoạn dân chủ trên con đường tiến tới chủ nghĩa xã hội. Điều gắn kết phong trào cách mạng không phải là sự đồng thuận về định nghĩa “dân chủ”, mà là khát vọng về độc lập dân tộc và một nước Việt Nam thống nhất. (
*)

Khát vọng Độc lập - Tự do của nhân dân Việt Nam

Từng dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm hiểu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đánh giá thế nào về phong cách lãnh đạo của Người trong giai đoạn lịch sử “dầu sôi lửa bỏng” ấy?

Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một diễn giả có chất giọng lôi cuốn đặc biệt, nhưng lại là một nhà văn tài ba. Các bài viết của Người thể hiện một cách sử dụng thông minh và giàu sức gợi lịch sử lâu đời của Việt Nam, đồng thời có khả năng khơi dậy cảm xúc mạnh mẽ và thôi thúc người dân đứng lên tham gia đấu tranh chống lại thực dân Pháp, nhất là sau khi chiến tranh bùng nổ vào cuối năm 1946.

Hồ Chí Minh cũng là bậc thầy của nghệ thuật kết nối nhân tâm, hay nói theo cách mà ngày nay chúng ta hay gọi là networking. Gần như những người đã từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù là đồng chí hay đối thủ - đều bị thu hút bởi sự lịch thiệp, thân thiện và cảm nhận được rằng, họ (sẽ) là bạn của Người.

Vậy điều gì lý giải sức hấp dẫn và vị thế được khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ký ức lịch sử của thế giới? Tại sao giới học giả quốc tế vẫn tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu và viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh?

Ngày nay khi nhìn lại thế kỷ XX với nhiều biến động, không ít nhà lãnh đạo cộng sản trên thế giới từng vấp phải những đánh giá trái chiều về di sản của họ. Trong bối cảnh ấy, đối với nhiều người, Hồ Chí Minh là một ngoại lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh không can dự trực tiếp vào các hành động bạo lực cực đoan mà thay vào đó, Người luôn thể hiện một tinh thần nhân văn sâu sắc. Phẩm chất ấy thể hiện rõ trong phong cách sống, cách viết và đặc biệt là trong bản Di chúc Người để lại năm 1969 - một văn kiện được công bố nhiều năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần.

So với các phong trào chống thực dân ở châu Á và châu Phi, điều gì khiến Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam trở nên khác biệt, thưa Giáo sư?

Việc thiết lập thành công một Nhà nước cộng hòa mới mà chỉ sử dụng bạo lực ở mức tối thiểu là điều đặc biệt hiếm có trong lịch sử. Tuy nhiên giai đoạn ấy không kéo dài. Khi Pháp tấn công Hải Phòng tháng 11/1946, giai đoạn đấu tranh phi bạo lực của cách mạng đã kết thúc và nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa buộc phải bước vào một cuộc chiến tranh trường kỳ để bảo vệ nền độc lập của mình - giống như nhiều phong trào chống thực dân khác trên thế giới.

Trên thực tế, hơn cả Cách mạng Tháng Tám, chính cuộc kháng chiến của Việt Minh giai đoạn 1946-1954, đặc biệt là Chiến thắng Điện Biên Phủ mới là nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới.

Các cường quốc trên thế giới lúc đó đã phản ứng ra sao trước bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam năm 1945? Và Việt Nam đã vượt qua những thách thức ban đầu như thế nào trong bối cảnh rất phức tạp, để nền độc lập non trẻ của mình được công nhận?

Ban đầu hầu như không có phản ứng nào - ngay cả từ phía Liên Xô. Tuy nhiên, sự hiện diện của Trung Hoa Dân quốc cũng buộc Pháp phải thương lượng để quay lại miền bắc Việt Nam dẫn đến việc ký Hiệp định Sơ bộ với Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 6/3/1946. Sau đó, vai trò và uy tín của Hồ Chí Minh khiến Chính phủ Pháp mời Người sang Pháp để tiếp tục đàm phán. Trong thời gian ở Pháp, Hồ Chí Minh nổi tiếng trên trường quốc tế.

Tôi tin rằng Hồ Chí Minh thật sự hy vọng có thể tránh được một cuộc chiến tranh toàn diện với Pháp. Việc thừa nhận rằng cơ hội để cứu nhân dân thoát khỏi một cuộc chiến tranh đã trôi qua hẳn rất khó khăn với Người. Nhưng một khi chiến tranh là điều không tránh khỏi, Hồ Chí Minh đã trở thành người phát ngôn hiệu quả nhất cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, trong khi các quyết định quân sự được đảm nhiệm bởi Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các lãnh đạo khác.

Tròn 80 năm đã qua kể từ ngày cuộc Cách mạng thần thánh của nhân dân Việt Nam thành công. Theo ông, những bài học từ năm 1945 còn có ý nghĩa gì với hôm nay?

Giờ đây Cách mạng Tháng Tám đã trở thành một phần ký ức lịch sử. Chúng ta vẫn nên nghiên cứu sự kiện này từ nhiều góc độ khác nhau. Tôi cho rằng bản thân Cách mạng Tháng Tám đã phản ánh một khát vọng sâu sắc của phần lớn người dân Việt Nam - bất kể tín ngưỡng hay khuynh hướng chính trị. Đó là khát vọng được giải phóng khỏi ách thống trị của ngoại bang. Cách mạng Tháng Tám vẫn luôn là một ký ức đẹp, đầy ý nghĩa với tất cả người Việt Nam.

Trong nhiều thập niên nghiên cứu, gắn bó với Việt Nam, khía cạnh nào ở xứ sở này đã để lại ấn tượng mạnh nhất cả trong hành trình học thuật và cá nhân của ông?

Điều tôi ấn tượng là sự đa dạng của Việt Nam, cả về địa lý và văn hóa. Tôi nhìn nhận Việt Nam như một xã hội đa dạng, cởi mở, rất cần có những bộ tiểu thuyết, bộ phim và công trình nghiên cứu lịch sử phản ánh những cách diễn giải khác nhau - đôi khi có thể đối lập - nhưng có thể bổ trợ bổ sung lẫn nhau, về các sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc…

Giáo sư Stein Tonnesson sinh năm 1953 tại Na Uy. Năm 1991 ông nhận bằng Tiến sĩ tại Đại học Oslo (Na Uy). Các lĩnh vực nghiên cứu chính của ông: Hòa bình Đông Á, Biển Đông, Việt Nam và một số lĩnh vực khác. Ông hiện là nghiên cứu viên cao cấp Viện Hòa bình Toda, Giáo sư nghiên cứu danh dự Viện Hòa bình Oslo (nơi ông có nhiều năm làm giám đốc).

Hiện nay khi bối cảnh địa chính trị khu vực châu Á-Thái Bình Dương và cả thế giới đang thay đổi nhanh chóng, ông nhìn nhận vai trò của Việt Nam như thế nào?

Tôi rất đồng tình với cách Việt Nam nỗ lực giữ thế cân bằng giữa các cường quốc, đồng thời duy trì quan hệ hữu nghị với tất cả các bên. Đó là truyền thống ngoại giao tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng, đặt nền móng từ rất sớm…

Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Trình bày: Ngô Hương