Image of 2 retro cars in a driveway of a Palm Springs house

Ngày 6/3 vừa qua, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thị Việt Nga - nhà nữ khoa học vinh dự được Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia 2025 – Giải cá nhân duy nhất. Bà hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt Nhật, Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, đã có hơn 25 năm hoạt động nghiên cứu, đào tạo và quản lý khoa học, đạt nhiều thành tích xuất sắc, có tầm ảnh hưởng trong nước, khu vực và quốc tế.

Nhân dịp Ngày quốc tế Phụ nữ 8/3, Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với bà về các công trình nghiên cứu có mức độ ứng dụng cao, mang lại những tác động tích cực về môi trường, xã hội và chính sách.

GS, TS Trần Thị Việt Nga là nhà khoa học nữ tiêu biểu, có bề dày thành tích nổi bật trong lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng nước và môi trường, đặc biệt về công nghệ xử lý nước tiên tiến ứng dụng màng lọc (membrane technology) để loại bỏ các chất ô nhiễm mới phục vụ mục tiêu cấp nước an toàn; các công nghệ xử lý nước thải định hướng tái sử dụng, thu hồi tài nguyên từ dòng thải và giảm phát thải.
Bà là người tiên phong trong nghiên cứu phát triển công nghệ màng sinh học kỵ khí (AnMBR) xử lý nước thải hiệu quả và phù hợp với các khu vực khí hậu nhiệt đới như Việt Nam và ứng dụng vật liệu tái chế từ phế thải xây dựng, nông nghiệp trong xử lý môi trường. 

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS Trần Thị Việt Nga, sáng 6/3.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trao giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho GS.TS Trần Thị Việt Nga, sáng 6/3.

Từ bản lĩnh của “nhà nữ khoa học” đến giải thưởng Kovalevskaia danh giá

Cảm xúc đầu tiên của tôi là sự xúc động và một chút tự hào về những thành quả đã đạt được. Đó là kết quả của một hành trình dài với sự đồng hành của các cộng sự và đồng nghiệp thân thiết. Giải thưởng này mang ý nghĩa vô cùng lớn lao, ghi nhận những đóng góp bền bỉ của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam trong suốt hơn 40 năm qua.

Từ thời còn là học sinh, sinh viên, tôi đã ngưỡng mộ giải thưởng này và được chứng kiến các thế hệ đi trước nhận giải, đó thực sự là nguồn cảm hứng lớn lao. Vì vậy, khi chính mình được xướng tên trong năm nay, tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Thú thật, khi chuẩn bị hồ sơ, tôi làm với tâm thế rất nhẹ nhàng; dù biết đây là danh hiệu cao quý nhưng tôi không đặt nặng việc phải đạt được bằng mọi giá, khi nhận được những lời chúc mừng từ bạn bè, đồng nghiệp khắp nơi trong những ngày qua, tôi thực sự bất ngờ và mang lại một niềm xúc động mãnh liệt.

GS, TS Trần Thị Việt Nga có tổng số 82 bài báo khoa học được công bố, trong đó có 40 bài báo trên tạp chí quốc tế uy tín (33 bài thuộc danh mục SCIE, 7 bài SCOPUS); đồng tác giả 1 bằng sáng chế quốc gia (2025), 10 giáo trình/sách chuyên khảo/chương sách của nhà xuất bản quốc tế uy tín (trong đó là chủ biên 06 công trình). Chỉ số H-index là 17.
Hiện nay, GS, TS đang chủ trì thực hiện dự án quốc tế SATREPS sử dụng nguồn kinh phi ODA của Nhật Bản (JICA/JST), thực hiện trong giai đoạn 2023-2028, để phát triển hệ thống cấp nước thích ứng với nguồn nước ô nhiễm cho Việt Nam.

Từ khi hoàn thành xong nghiên cứu sinh và trở về nước năm 2009, tôi đã bắt tay vào thực hiện nghiên cứu khoa học, kéo dài 15 năm.

Tôi nhớ nhất là những ngày đầu khi thực hiện các mô hình thí nghiệm, lúc đó thiết bị còn vô cùng sơ sài. Trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, thách thức lớn với chúng tôi là phải vận hành các hệ thống đòi hỏi độ tinh vi rất cao. Thậm chí, nếu chúng tôi chọn mua thiết bị thực tế bên ngoài, đôi khi chỉ riêng một linh kiện đã có giá cao hơn cả tổng kinh phí được cấp cho đề tài.

Chính vì vậy, giai đoạn đó đòi hỏi sự đổi mới rất lớn. Chúng tôi đã phải tự mày mò nghiên cứu; có lúc tôi còn phải ra tận “chợ Giời” để tìm mua những động cơ nhỏ vốn được tháo rời từ các thiết bị khác. Chẳng hạn như tôi đã mua bộ quay của cây thông Noel nhỏ, để tận dụng khả năng khuấy chậm của chúng, và đem về lắp ghép, chế tạo thành những động cơ cần thiết cho thí nghiệm.

Những ngày đầu ấy vô cùng vất vả, chúng tôi không đủ kinh phí để mua các loại bơm nhu động đắt tiền nên phải đi thuê thiết bị theo ngày phục vụ cho từng đợt thí nghiệm.

Tuy nhiên, theo thời gian và qua nhiều dự án, chúng tôi dần có thêm kinh phí để mua sắm thiết bị, đồng thời được trang bị thêm cơ sở vật chất thông qua các dự án hợp tác quốc tế hoặc dự án đầu tư phòng thí nghiệm của Nhà trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Nhờ vậy, hiện nay chúng tôi đã sở hữu một hệ thống thí nghiệm đầy đủ, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây vừa là kỷ niệm, nhưng cũng là niềm tự hào rất lớn của nhóm.

Có thể khẳng định rằng, sức sáng tạo của các thầy cô giáo nói riêng và các nhà khoa học nói chung tại Việt Nam là không giới hạn, giúp chúng ta vượt qua mọi hạn chế về điều kiện để đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khắt khe.

Đi tìm “sự sống” từ những dòng nước thải

Vốn là người làm kỹ thuật, chuyên sâu về các giải pháp công nghệ liên quan đến nước, nghiên cứu của tôi tập trung vào hai mảng chính: Một là xử lý nước cấp để bảo đảm an toàn cho ăn uống, sinh hoạt cũng như phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp. Hai là xử lý nước thải để loại bỏ triệt để các chất ô nhiễm trước khi xả ra môi trường, nhằm bảo vệ hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng.

Nhìn chung, mục tiêu cốt lõi của hướng nghiên cứu này là tìm ra các kỹ thuật tối ưu để loại bỏ những tạp chất không mong muốn trong nguồn nước, phục vụ các mục tiêu an toàn và bền vững.

Nhiều dự án thực tế như hệ thống xử lý nước thải tại ký túc xá sinh viên Đại học Xây dựng Hà Nội (2014), cơ sở giết mổ Thịnh An (Thanh Trì, Hà Nội) (2016); các hệ thống công nghệ này bảo đảm nước sau xử lý đáp ứng yêu cầu của các tiêu chuẩn môi trường và  nhu cầu tái sử dụng, cũng như cho phép thu hồi tài nguyên và mở ra cơ hội tái tạo chất có ích từ dòng thải. Công nghệ AnMBR cũng được chuyển giao cho công ty RSD-TECH đang triển khai cho trang trại lợn quy mô 40.000 con tại tỉnh Đắc Lắk với mục tiêu xử lý nước thải-thu hồi khí sinh học-tái sử dụng nước thải sau xử lý, với tổng quy mô đầu tư 200 triệu USD (2025-2026). 

Thứ nhất, việc vận hành các nhà máy xử lý nước thải vốn tiêu tốn một lượng điện năng rất lớn, chiếm vài phần trăm tổng tiêu thụ điện quốc gia. Do đó, việc nghiên cứu giảm tiêu hao năng lượng trong xử lý nước chính là một bước quan trọng hướng tới Net Zero.

Thứ hai, khi nước thải được xử lý đúng quy chuẩn, nó sẽ ngăn chặn sự phát thải khí nhà kính ra môi trường.

Thứ ba, nếu quản lý tốt vòng đời của nước theo hướng kinh tế tuần hoàn, chúng ta sẽ giảm bớt áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Việc tái sử dụng nước sau xử lý giúp chúng ta tiết kiệm được một lượng lớn nước sạch khai thác từ sông hồ hay nước ngầm.

Tôi ví dụ, nếu chúng ta tái sử dụng được khoảng 30% lượng nước thải, nghĩa là chúng ta đã giảm được 30% nhu cầu khai thác tài nguyên nước thiên nhiên. Điều này mang lại lợi ích to lớn trong việc bảo tồn nguồn nước và phát triển kinh tế bền vững. Có thể nói, nước là yếu tố thiết yếu tác động đến mọi mặt của đời sống, vì vậy các giải pháp nước tiên tiến mà nhóm tôi đang theo đuổi mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

“Có thể khẳng định rằng, sức sáng tạo của các thầy cô giáo nói riêng và các nhà khoa học nói chung tại Việt Nam là không giới hạn, giúp chúng ta vượt qua mọi hạn chế về điều kiện để đáp ứng các yêu cầu nghiên cứu khắt khe”.

Giữ lửa đam mê, lan tỏa khát vọng cống hiến cho khoa học

Trong nghiên cứu kỹ thuật, yếu tố tiên quyết là giải pháp công nghệ dựa trên các nền tảng khoa học; mà những kiến thức này vốn không phân biệt giới tính. Tôi nhận thấy các nhà khoa học nữ thường rất chăm chỉ và có nền tảng vững vàng, nên họ hoàn toàn có thế mạnh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, để chuyển hóa nghiên cứu thành thực tế, giới nam thường chiếm ưu thế hơn về thể chất khi lắp đặt, thi công hay bám trụ tại hiện trường. Do đó, trong đội ngũ của tôi luôn có sự phối hợp nhịp nhàng với các cộng sự để phát huy tối đa năng lực.

Dù vậy, phụ nữ làm khoa học vẫn có những khó khăn riêng. Ngoài vai trò nghiên cứu, họ còn mang trên mình thiên chức làm vợ, làm mẹ với rất nhiều áp lực gia đình. Đặc biệt là trong giai đoạn nuôi con nhỏ, việc tập trung hoàn toàn cho công tác nghiên cứu là điều vô cùng khó khăn.

Nhưng ngược lại, chính những thử thách đó đã rèn luyện cho phụ nữ khả năng quản lý thời gian và kỹ năng đa nhiệm (multi-tasking) tuyệt vời. Chính môi trường đầy thử thách này đã giúp người phụ nữ rèn luyện bản lĩnh và trưởng thành hơn. Thêm vào đó, phụ nữ còn có lợi thế về sự mềm mại, uyển chuyển khi làm việc nhóm, giúp nhận được sự đồng thuận, hỗ trợ cao từ đồng nghiệp.

Hiện nay công tác thúc đẩy bình đẳng giới đang được thực hiện khá tốt. Đã có rất nhiều giải thưởng uy tín dành riêng cho phụ nữ như giải Kovalevskaia, giải L'Oréal hay các giải thưởng STEM cho sinh viên nữ. Những dòng chảy tích cực này rất đáng được ghi nhận và phát huy.

Tôi vẫn muốn nhấn mạnh rằng trong khoa học, giới tính không phải là rào cản quyết định. Chỉ cần mỗi cá nhân luôn nỗ lực, kiên trì và tập trung bền bỉ, kết quả tốt đẹp chắc chắn sẽ đến.

“Trong khoa học, giới tính không phải là rào cản quyết định. Chỉ cần mỗi cá nhân luôn nỗ lực, kiên trì và tập trung bền bỉ, kết quả tốt đẹp chắc chắn sẽ đến”.

Hiện nay, phong trào sinh viên nghiên cứu khoa học diễn ra rất sôi nổi. Chúng tôi áp dụng mô hình quốc tế là để sinh viên tham gia trực tiếp vào các nhóm nghiên cứu của thầy cô. Ban đầu các bạn sẽ đóng vai trò hỗ trợ, sau đó đảm nhiệm những nội dung nhỏ để tập làm quen. Để trở thành một nhà nghiên cứu thực thụ, các bạn phải học từ những điều căn bản nhất, từ cách xây dựng đề bài đến kỹ năng đánh giá kết quả.

Việc tham gia nghiên cứu không chỉ có ích cho những ai muốn đi sâu vào con đường học thuật, mà còn trang bị kỹ năng tư duy cho bất kỳ công việc nào sau này. Do đó, chúng tôi luôn cố gắng truyền cảm hứng để sinh viên tiếp cận nghiên cứu một cách tự nhiên nhất, giúp các bạn hiểu rằng khoa học không hề xa vời hay cao siêu. Tôi tin rằng chỉ cần mỗi cá nhân luôn nỗ lực, kiên trì và tập trung bền bỉ, kết quả nghiên cứu khoa học chắc chắn sẽ đến.

Tôi nhận thấy trong những năm qua đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ khi Nhà nước nỗ lực tăng kinh phí nghiên cứu thông qua các quỹ như Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia Nafosted. Tuy nhiên, điều tôi mong đợi nhất là các cơ chế chính sách, như Nghị quyết 57-NQ/TW, thực sự đi vào cuộc sống để tháo gỡ các "nút thắt" rườm rà về thủ tục tài chính và giải ngân.

Đối với riêng phái nữ, thực tế chúng ta không cần sự ưu ái đặc biệt, mà chỉ cần một môi trường bình đẳng. Tuy nhiên, nếu có thêm những chương trình nghiên cứu dành riêng cho phái nữ để xem xét các đặc thù riêng, thì những người nghiên cứu khoa học sẽ có thêm nhiều cơ hội tiếp cận các dự án phù hợp hơn. Giới nghiên cứu mong mỏi nhất là được giảm bớt các thủ tục hồ sơ hành chính để có thể tập trung hoàn toàn vào công tác nghiên cứu chuyên môn, đặc biệt là trong những lĩnh vực khó và mới.

Xin chúc mừng Giáo sư và chúc bà tiếp tục gặt hái thành công trong nghiên cứu khoa học!

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu dự gặp mặt đại diện nữ lãnh đạo và trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu dự gặp mặt đại diện nữ lãnh đạo và trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025.

 Ngày xuất bản: 8/3/2026
Tổ chức: Ngọc Thanh - Hồng Vân
Thực hiện: Thảo Lê - Quỳnh Trang
Thiết kế: Hoài Thu