Phát triển nghề nuôi cá rô phi gắn với thị trường tiêu thụ

Ngày 6-5-2016, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt Quyết định số 1639/QĐ-BNN-TCTS về việc Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, với mục tiêu đưa cá rô phi trở thành sản phẩm chủ lực sau tôm nước mặn và cá tra, để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và đa dạng hóa sản phẩm thủy sản xuất khẩu.

Thu hoạch cá rô phi thương phẩm tại phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh). Ảnh: QUANG QUYẾT
Thu hoạch cá rô phi thương phẩm tại phường Đông Mai, thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh). Ảnh: QUANG QUYẾT

Nuôi cá trên lòng hồ thủy điện

Hồ thủy điện Sơn La bắt đầu vận hành từ năm 2011, với mực nước bình quân đạt 215 m so với mực nước biển, cùng với lưu lượng nước lớn, chất lượng nước tương đối sạch, dòng chảy lại ổn định cho nên rất phù hợp với việc nuôi thủy sản. Tuy nhiên, trước đây việc nuôi cá lồng trên lòng hồ chỉ mang tính tự phát, nhỏ lẻ; trong đó có nhiều hộ gia đình nuôi cá lăng, cá chiên, cá trắm cỏ, cá chép… Nhưng việc nuôi cá lăng, cá chiên phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên, và nguồn thức ăn tươi sống phải được cung cấp thường xuyên nếu không cá sẽ ăn lẫn nhau, do đó năng suất, hiệu quả kinh tế thấp. Còn nuôi cá trắm cỏ, cá chép thì hay mắc các dịch bệnh khó chữa, cho nên người nuôi cũng dần dần bỏ nghề.

Năm 2013-2014, được sự giúp đỡ của Bộ Khoa học và Công nghệ, và Sở Khoa học và Công nghệ Điện Biên, Trung tâm thủy sản Điện Biên đã triển khai thực hiện Dự án “ Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình nuôi cá rô phi đơn tính thương phẩm trong lồng, bè trên hồ thủy điện Sơn La” tại thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. Tổng quy mô thực hiện dự án là 900 m3 lồng nuôi, với mật độ thả là 100 con cá rô phi đơn tính dòng GIFT/m3. Do lồng nuôi được thiết kế thông thoáng, lượng nước lưu thông tốt, do vậy cá sinh trưởng nhanh, ít dịch bệnh, tỷ lệ sống đạt 70%. Với cỡ cá cho thu hoạch có trọng lượng từ 0,6 kg/con, các lồng nuôi cho năng suất thu hoạch bình quân đạt 42,6 kg/m3, tăng hơn 30 kg/m3 so với cách nuôi truyền thống trước đây. Do chất lượng thịt cá bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm cho nên được người tiêu dùng tin tưởng tìm mua. Nhờ vậy, cá thu hoạch đến đâu bán hết đến đó, thu nhập của các hộ dân tham gia dự án trung bình đạt khoảng 120 triệu đồng/hộ, sau khi trừ các khoản chi phí, còn lãi hàng chục triệu đồng.

Từ kết quả khả quan của mô hình, đến nay việc nuôi cá rô phi đơn tính trong lồng, bè trên hồ thủy điện Sơn La đã được nhân rộng ra nhiều hồ khác trên địa bàn thị xã Mường Lay và tỉnh Điện Biên, không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm mới, với thu nhập ổn định cho một bộ phận người dân vùng tái định cư thủy điện Sơn La nói riêng, mà còn giảm áp lực khai thác cá tự nhiên trong khu vực lòng hồ thủy điện.

Sản xuất hàng hóa lớn để xuất khẩu

Một tin vui đến với những người nuôi cá rô phi ở Điện Biên, ngày 6-5 vừa qua, Bộ NN và PTNT đã phê duyệt Quy hoạch phát triển nuôi cá rô phi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Theo đó Điện Biên là một trong các tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía bắc được xác định có 300 ha mặt nước là diện tích tiềm năng để nuôi cá rô phi, trong đó có 5.000 m3 lồng nuôi trên sông và hồ chứa lớn.

Đây là cơ hội để Điện Biên nói riêng và các địa phương trong cả nước nói chung phát triển nghề nuôi cá rô phi thành ngành sản xuất hàng hóa. Được biết, trong các năm gần đây, cá rô phi được xác định có lợi thế và tiềm năng phát triển, vì vậy nhiều địa phương ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đẩy mạnh nuôi cá rô phi thâm canh trong ao, còn các tỉnh Nam Bộ thì phát triển nuôi loại cá này trong lồng bè. Đến nay, diện tích nuôi cá rô phi trong ao, hồ cả nước ước đạt hơn 16 nghìn ha, nuôi lồng bè đạt hơn 440 nghìn m3, với năng suất nuôi trung bình đạt gần 6,3 tấn/ha, cho sản lượng gần 130 nghìn tấn/năm, từng bước đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và nhất là lần đầu tiên vào năm 2014, sản phẩm cá rô phi đã “xuất ngoại” với giá trị xuất khẩu đạt 30 triệu USD.

Vấn đề đặt ra là để cá rô phi trở thành sản phẩm xuất khẩu chủ lực sau tôm nước mặn và cá tra, đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp đồng bộ ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất để nâng cao năng suất, sản lượng, giá trị, bảo đảm vệ sinh thực phẩm và an toàn sinh học. Theo các chuyên gia ngành thủy sản, trước hết cần đầu tư quy hoạch hệ thống hạ tầng thiết yếu ở các vùng nuôi và sản xuất giống tập trung. Tiếp đến là kiểm soát tốt chất lượng các vật tư đầu vào và lựa chọn con giống để giảm giá thành, trong đó ưu tiên đầu tư nghiên cứu phát triển con giống chất lượng cao, sinh trưởng nhanh, chống chịu dịch bệnh tốt trong môi trường nước ngọt và nước lợ, như: cá rô phi Vằn, cá rô phi Đỏ, hay cá rô phi lai giữa rô phi Vằn và rô phi Xanh. Trong quá trình nuôi, tùy theo điều kiện ao, hồ của từng vùng sinh thái tại mỗi địa phương mà áp dụng những công nghệ nuôi mới, thân thiện với môi trường. Đối với cá rô phi nuôi trong ao, để tăng năng suất và sản lượng, cần ứng dụng quy trình nuôi ít thay nước, kết hợp sử dụng vi sinh vật có lợi để xử lý chất thải cải tạo môi trường. Còn cá rô phi nuôi trong lồng bè thì áp dụng mô hình nuôi mật độ cao trong lồng bè nhỏ phù hợp với điều kiện nuôi.

Để thu hút sự tham gia của các thành phần kinh tế vào sản xuất cá rô phi, cần hình thành các mô hình liên kết dọc (liên kết theo chuỗi giá trị sản phẩm), hoặc liên kết ngang (liên kết giữa các hợp tác xã, hội nghề nghiệp…) để hình thành các vùng sản xuất tập trung, cũng như phát triển hệ thống cơ sở chế biến cá theo Quy hoạch đã được phê duyệt, vừa tiện áp dụng Quy trình thực hành nuôi thủy sản tốt (VietGap), vừa thuận lợi cho việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm và xây dựng thương hiệu đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm thủy sản xuất khẩu Việt Nam.

Theo quy hoạch, diện tích nuôi cá rô phi đến năm 2020 tại bảy vùng trong cả nước là 33 nghìn ha với 1,5 triệu m3 lồng nuôi trên sông và hồ chứa lớn. Mỗi năm cho sản lượng đạt khoảng 300 nghìn tấn, trong đó hơn 50% sản lượng đủ tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu, tạo việc làm cho hơn 54 nghìn lao động trực tiếp và 5.000 lao động gián tiếp.

(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)