Nhiều chuyên gia cho rằng, cần một hệ sinh thái đủ mạnh để các doanh nghiệp spin-off phát triển thành những doanh nghiệp công nghệ chiến lược.
Chuyển động từ khối công lập
Đại học Bách khoa Hà Nội được xem là một trong những cái nôi nghiên cứu và phát triển công nghệ của Việt Nam, đang thúc đẩy việc hình thành các doanh nghiệp spin-off trong nhiều lĩnh vực công nghệ chiến lược như hạ tầng phục vụ xe điện, cảm biến thông minh, AI ứng dụng trong y tế, giáo dục, môi trường hay robot phục hồi chức năng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh, Trưởng ban Khoa học, Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết, trường đang khẩn trương hình thành các spin-off trong giai đoạn mới. Doanh nghiệp spin-off sẽ tiếp nhận công nghệ, ươm tạo và phát triển sản phẩm, huy động vốn và mở rộng thị trường, trong khi nhà trường tiếp tục giữ vai trò trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, thúc đẩy sản phẩm mang tính liên ngành và công nghệ lõi. Theo định hướng của nhà trường, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với mục tiêu thương mại hóa công nghệ và phát triển spin-off, cùng với các nguồn lực đầu tư sẽ tạo chuỗi phát triển công nghệ hoàn chỉnh từ phòng thí nghiệm-phòng thí nghiệm hợp tác doanh nghiệp-doanh nghiệp spin-off.
Trường đang khẩn trương hình thành các spin-off trong giai đoạn mới. Doanh nghiệp spin-off sẽ tiếp nhận công nghệ, ươm tạo và phát triển sản phẩm, huy động vốn và mở rộng thị trường, trong khi nhà trường tiếp tục giữ vai trò trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, thúc đẩy sản phẩm mang tính liên ngành và công nghệ lõi. Theo định hướng của nhà trường, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với mục tiêu thương mại hóa công nghệ và phát triển spin-off, cùng với các nguồn lực đầu tư sẽ tạo chuỗi phát triển công nghệ hoàn chỉnh từ phòng thí nghiệm-phòng thí nghiệm hợp tác doanh nghiệp-doanh nghiệp spin-off.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh, Trưởng ban Khoa học, Công nghệ, Đại học Bách khoa Hà Nội
Xu hướng hình thành doanh nghiệp spin-off cũng đang được thúc đẩy ở khối viện nghiên cứu công lập. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thành lập Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghệ cao với định hướng thúc đẩy hoạt động ươm tạo công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và hỗ trợ hình thành doanh nghiệp khoa học công nghệ; đồng thời, Viện Hàn lâm khuyến khích hình thành doanh nghiệp spin-off từ các viện nghiên cứu, triển khai chương trình mỗi viện gắn với một doanh nghiệp để thử nghiệm, thương mại hóa và nhân rộng công nghệ.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đề án thí điểm thương mại hóa kết quả nghiên cứu đang được triển khai, được coi là nền tảng pháp lý quan trọng cho mô hình doanh nghiệp spin-off. Đề án tập trung tháo gỡ nhiều điểm nghẽn như giao quyền khai thác kết quả nghiên cứu, định giá tài sản trí tuệ và chia sẻ rủi ro trong đổi mới sáng tạo. Trong đợt đầu, đã có 54 sản phẩm khoa học, công nghệ tham gia, và đó chính là những “hạt giống” tiềm năng để sàng lọc và hình thành nên các doanh nghiệp spin-off đầu tiên.
Nhiều ý kiến cho rằng, phát triển công nghệ cao đòi hỏi nguồn lực lớn về tài chính, nhân lực và thời gian, trong khi doanh nghiệp tư nhân thường hạn chế về nền tảng nghiên cứu và đầu tư cho R&D, cho nên mô hình spin-off từ trường đại học sẽ khắc phục được bất cập này nhờ khai thác được thế mạnh về hạ tầng nghiên cứu, đội ngũ khoa học kết hợp sớm với tư duy thị trường và mô hình khởi nghiệp tinh gọn.
Hỗ trợ spin-off vượt giai đoạn “khát vốn”
Từ thực tế triển khai cho thấy, dù hệ thống pháp luật đã hình thành nhiều “mảnh ghép” cần thiết cho phát triển spin-off, nhưng vẫn thiếu cơ chế liên kết để vận hành hiệu quả.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Việt Anh cho rằng, khó khăn lớn nhất là ở giai đoạn chuyển tiếp giữa nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và việc hình thành doanh nghiệp công nghệ trên thị trường. Nhiều nhóm nghiên cứu đã có kết quả tốt, thậm chí có nguyên mẫu công nghệ, nhưng vẫn gặp rào cản lớn về cơ chế vận hành, tài chính và định giá tài sản trí tuệ để tiếp tục phát triển thành doanh nghiệp spin-off. Các nhóm nghiên cứu có thể tạo ra công nghệ ở giai đoạn đầu, trong khi doanh nghiệp lại cần những công nghệ đủ hoàn thiện để có thể đưa vào sản xuất hoặc kinh doanh. Giữa hai giai đoạn đó thường thiếu một cấu trúc trung gian để tiếp nhận, phát triển tiếp và hoàn thiện công nghệ. Để giải quyết vấn đề này, cần phát triển các mô hình trung gian như phòng thí nghiệm hợp tác doanh nghiệp (Joint lab).
Một khoảng trống lớn nữa là thiếu nguồn “vốn mồi” và quỹ “chứng minh tính khả thi” (Proof-of-concept) để giúp doanh nghiệp spin-off hoàn thiện mẫu thử, kiểm chứng công nghệ và chứng minh khả năng thương mại hóa trước khi có thể gọi vốn tư nhân. Đây cũng là giai đoạn rủi ro cao nhất, cho nên cả nguồn vốn nhà nước lẫn các quỹ đầu tư tư nhân vẫn chưa sẵn sàng tham gia.
Định giá tài sản trí tuệ để góp vốn vào doanh nghiệp cũng là rào cản lớn đối với spin-off tại Việt Nam. Phần lớn công nghệ của trường đại học mới ở giai đoạn phát triển trung gian, khi đã chứng minh được nguyên lý hoặc có nguyên mẫu trong phòng thí nghiệm nhưng chưa có dữ liệu thị trường hoặc doanh thu thực tế, do đó, việc xác định giá trị kinh tế của công nghệ thường thiếu cơ sở tham chiếu rõ ràng.
Tiến sĩ Hoàng Thị Hải Yến, Khoa Khoa học quản lý, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần xây dựng bộ tiêu chuẩn định giá cấp quốc gia, đồng thời khuyến khích sự hình thành các tổ chức trung gian chuyên sâu về định giá tài sản trí tuệ và xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về giao dịch tài sản trí tuệ.
Theo các chuyên gia, spin-off rất cần sự tham gia của doanh nghiệp và các nguồn vốn đầu tư rủi ro, theo mô hình hợp tác “ba nhà”, gồm nhà nước-nhà trường-doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ đóng vai trò nhận chuyển giao công nghệ mà cần tham gia từ sớm vào quá trình phát triển công nghệ, cùng đầu tư và chia sẻ rủi ro.
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam lưu ý, spin-off vẫn là mô hình có rủi ro bởi một công nghệ mới muốn được thị trường chấp nhận phải trải qua thời gian dài hoàn thiện, thử nghiệm và chứng minh giá trị. Cần sớm hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm của Nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp spin-off, và có cơ chế linh hoạt hơn cho nhà khoa học tham gia spin-off, chẳng hạn cho phép nghỉ một thời gian để thử sức với doanh nghiệp rồi có thể quay lại viện, trường nếu không thành công. Một số nước tiên tiến cho phép giảng viên tham gia sáng lập spin-off được nghỉ phép nghiên cứu hưởng lương hoặc giảm giờ dạy để tập trung thương mại hóa sản phẩm.
Để hình thành những doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn từ khu vực đại học, viện nghiên cứu, Nhà nước cần đặt hàng các bài toán công nghệ lớn của quốc gia, cơ chế mua sắm công đối với công nghệ mới.
Từ thực tiễn triển khai spin-off, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Sơn, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Phenikaa, Giám đốc Công ty cổ phần Phenikaa X cho rằng, với các lĩnh vực như robot tự hành, phương tiện không người lái, doanh nghiệp cần được phép đưa sản phẩm ra môi trường thực để kiểm chứng thay vì chỉ thử nghiệm trong điều kiện nội bộ. Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế miễn trách nhiệm có điều kiện trong giai đoạn thử nghiệm.
Việt Nam cần thí điểm mô hình spin-off tại một số viện nghiên cứu và trường đại học hàng đầu, cho phép áp dụng các chính sách vượt trội về tài chính, sở hữu trí tuệ và tổ chức nhân sự. Các mô hình thí điểm này sẽ đóng vai trò như “sandbox” chính sách để thử nghiệm và hoàn thiện cơ chế.
Tiến sĩ Nguyễn Văn Trúc, Trưởng phòng Ươm tạo công nghệ, Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ)
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Trúc, Trưởng phòng Ươm tạo công nghệ, Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), Việt Nam cần thí điểm mô hình spin-off tại một số viện nghiên cứu và trường đại học hàng đầu, cho phép áp dụng các chính sách vượt trội về tài chính, sở hữu trí tuệ và tổ chức nhân sự. Các mô hình thí điểm này sẽ đóng vai trò như “sandbox” chính sách để thử nghiệm và hoàn thiện cơ chế.