Dùng hàng lậu để hợp thức hóa “đầu ra”
Trong chuyến hàng xuất khẩu củ tỏi sang Lào của Công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp I Đà Nẵng, thuộc Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp I - Bộ Thương mại (xin gọi tắt là công ty XNK1), Nguyễn Quang Thuần (nguyên giám đốc chi nhánh) cùng Huỳnh Quốc Văn (nguyên phó bộ phận XNK1 Chi nhánh Đà Nẵng) đã gặp Tăng Bá Trưởng (chủ cơ sở kinh doanh nông sản ở Kim Thành, Hải Dương). Nghe theo lời bàn bạc của Trưởng, bộ ba này đã vạch ra một kế hoạch tìm nguồn hàng xuất khẩu sang Trung Quốc sau đó kê khai chênh lệch thuế đầu vào để xin hoàn thuế VAT.
Theo thỏa thuận, Trưởng sẽ tìm những xe hàng không có giấy tờ xuất khẩu sang Trung Quốc để Chi nhánh Đà Nẵng dùng tư cách pháp nhân của mình làm thủ tục xuất khẩu. Chi nhánh có trách nhiệm cử cán bộ lên cửa khẩu (chủ yếu ở Lạng Sơn và Quảng Ninh) để chờ sẵn, khi Trưởng hoặc người của Trưởng báo có hàng thì đến đón xe, dùng tờ khai hải quan và giấy giới thiệu đã mang sẵn để làm thủ tục xuất khẩu. Làm xong, Trưởng cùng với Chi nhánh Đà Nẵng tìm những đối tác trong nước mua hóa đơn GTGT nhằm hợp thức đầu vào, đồng thời kê khai chênh lệch giữa thuế xuất và nhập để xin tiền hoàn thuế VAT.
Thực hiện ý đồ trên, tháng 10-2000, Thuần - Văn - Trưởng lên Lạng Sơn để khảo sát tình hình mua bán, xuất khẩu. Tại đây, chúng móc nối với Vũ Văn Dũng là một đối tượng buôn bán ở Đồng Đăng, Lạng Sơn. Qua trao đổi bàn bạc, Dũng mang về hợp đồng ngoại với nội dung Chi nhánh Đà Nẵng xuất khẩu 79 tấn mực khô sang cho Công ty Thương mại hữu hạn Đạt Thành - Trung Quốc. Hợp đồng này được mở bằng 3 tờ khai hải quan với tổng giá trị xuất khẩu hơn 10 tỷ đồng (được Hải quan cửa khẩu Tân Thanh - Lạng Sơn xác nhận kiểm hóa).
Sau chuyến hàng đầu tiên trót lọt, cuối tháng 11-2000 chúng lại tiếp tục làm thủ tục xuất khẩu 143 tấn mực khô sang Công ty Đạt Thành - Trung Quốc bằng 6 tờ khai hải quan, với tổng giá trị hàng xuất khẩu lần này lên gần 23 tỷ đồng. Tổng cộng cả hai đợt, các đối tượng đã dùng tư cách pháp nhân của Chi nhánh Đà Nẵng tổ chức xuất khẩu 222 tấn mực sang Công ty Thương mại hữu hạn Đạt Thành, Trung Quốc với tổng số tiền hơn 33 tỷ đồng, bằng 9 tờ khai hải quan và tất cả đều được Hải quan cửa khẩu Tân Thanh xác nhận kiểm hóa.
Một thực tế, theo văn bản số 882 ngày 22-2-2002 của Tổng cục thuế thì Công ty Thương mại hữu hạn Đạt Thành - Trung Quốc với địa chỉ, số tài khoản và số điện thoại như trong các hợp đồng là không có thật. Vì vậy, đây là doanh số xuất khẩu khống. Trong những phi vụ này còn có vai trò tích cực của Phạm Thị Hồng Vân (nguyên trưởng bộ phận kế toán của Chi nhánh Đà Nẵng) trong việc tháp tùng “sếp” đi đàm phán và chi trả các khoản tiền theo thỏa thuận.
Thấy “công việc làm ăn” thuận lợi, chúng tiếp tục móc nối với Phạm Thị Sơn (tức Ngân, trú 69 Trần Đăng Ninh - Lạng Sơn), và lần này lượng hàng hóa xuất khẩu táo bạo hơn nhiều. Từ cuối năm 2000 đến tháng 12-2001, thị Sơn đã cung cấp 26 hợp đồng ngoại với các “đối tác” là Công ty TNHH thương mại XNK JinYuan, Công ty hợp tác kinh tế đối ngoại Quảng Tây, Công ty hữu hạn mậu dịch Xương Phát, Công ty Biên mậu Hà khẩu Vân Nam. Sơn trực tiếp tìm nguồn hàng và hướng dẫn cho cán bộ Chi nhánh Đà Nẵng lập khống thủ tục xuất khẩu các loại hàng nông - lâm - hải sản sang các công ty trên với tổng doanh số lên đến hơn 263 tỷ đồng, qua khắp các cửa khẩu Tân Thanh, Hữu Nghị, Chi Ma, Cốc Nam (Lạng Sơn); cửa khẩu Móng Cái, Hành Mô, Bắc Phong Sinh (Quảng Ninh) và cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
Tất cả nguồn hàng là giả, mọi hợp đồng, hóa đơn, thủ tục đều được lập khống, xuất khẩu hàng cho công ty “ma” ở nước ngoài, thế nhưng trong suốt thời gian dài đường dây này vẫn dễ dàng qua mắt cơ quan chức năng.
“Đầu vào” với những vụ buôn hóa đơn đỏ
Sau hai “chuyến hàng xuất khẩu mực khô” sang Trung Quốc, Trưởng cùng Thuần, Văn và thị Vân về Huế gặp Phùng Hữu Dương - giám đốc Công ty Thương mại tổng hợp Thừa Thiên-Huế (công ty Huế). Chúng đặt vấn đề là Chi nhánh Đà Nẵng đã mua hàng tại biên giới để xuất khẩu, nhưng vì không có hóa đơn GTGT mua vào nên nhờ công ty này cung cấp hóa đơn hợp thức nguồn hàng trên để có đủ thủ tục chứng từ xin hoàn thuế GTGT.
Phùng Hữu Dương đã đồng ý xuất hóa đơn bán hàng khống cho Chi nhánh Đà Nẵng 50 tấn mực khô, với việc Chi nhánh Đà Nẵng trả cho công ty Huế tiền “dịch vụ” bằng 1,2% trị giá hàng trên hóa đơn. Dương giao cho bộ phận kinh doanh lập hóa đơn GTGT bán hàng cho Chi nhánh Đà Nẵng; sau đó giao cho Nguyễn Hữu Nam (phó giám đốc công ty Huế) chỉ đạo phòng kinh doanh lập chứng từ mua vào hợp thức số hàng bán ra nói trên bằng việc lập các bảng kê mua hàng của dân, có xác nhận khống của chính quyền địa phương. Các thủ tục khác như: hợp đồng mua bán hàng hóa, phiếu chi, phiếu thu đều được bộ phận kế toán lập khống như một thương vụ hoàn chỉnh.
Tinh vi hơn, chúng còn liên hệ, hợp thức luôn cả khâu vận chuyển với các chi nhánh dịch vụ vận tải (đóng vai trò quan trọng là Chi nhánh dịch vụ vận tải Quảng Trị) đặt vấn đề lập hợp đồng khống và xuất hóa đơn phí vận tải. Thông qua đó, các chi nhánh dịch vụ này sẽ được 6% tiền cước phí vận chuyển (gồm 5% để nộp thuế và 1% là tiền “dịch vụ”).
Còn những ai phải chịu trách nhiệm?
Rõ ràng đây là một đường dây chuyên lừa đảo bằng việc kê khai khống để chiếm đoạt tiền hoàn thuế GTGT, với những mắt xích được tổ chức hoạt động hết sức tinh vi. Riêng về việc kê khai hàng xuất khẩu, chúng đã cho người lên tận cửa khẩu để làm thủ tục hải quan, chứng thực kiểm kê hàng hóa thông qua các xe hàng qua biên giới. Mọi thủ tục: hợp đồng ngoại, tờ khai hải quan, hóa đơn bán hàng, loại hàng, giá cả... đều được soạn thảo rất chặt chẽ.
Tại phiên tòa ngày 4-1-2005, Tòa án nhân dân TP Đà Nẵng đã tuyên phạt: Nguyễn Quang Thuần 15 năm tù giam; Huỳnh Quốc Văn 7 năm tù giam; Phạm Thị Hồng Vân 7 năm tù giam; Nguyễn Ngọc Dũng, Phạm Hữu Cư (nhân viên XNK Chi nhánh Đà Nẵng), Trần Quốc Anh (Giám đốc Công ty TNHH Đăng Khoa - TP Hồ Chí Minh) mỗi người 6 năm tù giam. Riêng Nguyễn Quang Chước (nguyên Giám đốc Công ty cổ phần nông hải sản xuất khẩu Hải Hà - Quảng Trị) lĩnh 9 tháng tù, tổng hợp với 6 năm tù của bản án trước đó tại Tòa phúc thẩm TAND tại Hà Nội là 6 năm 9 tháng tù giam.
Các bị cáo còn lại đều là nguyên giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng của các công ty có liên quan tùy vào mức độ nghiêm trọng mà lãnh mức án từ tù treo đến 5 năm. Các bị cáo phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho Cục thuế Đà Nẵng số tiền gần 16 tỷ đồng mà chúng đã chiếm đoạt: Nguyễn Quang Thuần hơn 4,6 tỷ đồng; Huỳnh Quốc Văn và thị Vân, mỗi bị cáo 2,5 tỷ đồng; Phạm Hữu Cư và Nguyễn Ngọc Dũng, mỗi bị cáo bồi thường 2 tỷ đồng; Trần Ngọc Gia (nguyên trưởng bộ phận XNK Chi nhánh Đà Nẵng) lĩnh 3 năm tù treo, bồi thường cho Nhà nước 340 triệu đồng.
Chính quyền địa phương, những nơi chứng thực khống nguồn hàng để Chi nhánh Đà Nẵng hợp thức hóa đầu vào có phải chịu một phần trách nhiệm? Phải chăng còn đó những kẻ đang giấu mặt?