Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn nhớ lại: tôi viết Biệt ly năm tôi vừa 20 tuổi. Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng Cỏ, Hà Nội. Nhà ở gần ga nên tôi thường hay ra ga chơi. Tôi trực tiếp chứng kiến nhiều cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga, nhất là những đôi trai gái yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải ly biệt. Điều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài chia ly. Nhưng phải đến mấy năm sau dự định ấy mới có cơ hội trở thành sự thật".
Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn sinh năm 1919 tại Hà Nội trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Cha ông là người mê nhạc cổ truyền dân tộc, chơi đàn bầu và thích nghe hát ả đào, chèo, ca Huế... Từ nhỏ, Dzoãn Mẫn đã được thân phụ "truyền" cái tình yêu đối với âm nhạc, chơi được đàn tứ và vài nhạc cụ truyền thống khác. Lớn lên, Dzoãn Mẫn dần bị cuốn hút vào dòng nhạc phương Tây, mà chủ yếu là nhạc Pháp đang thịnh hành ở Việt Nam bấy giờ. Từ một nhạc công, ông trở thành nhạc sĩ thuở sơ khai của nền âm nhạc Việt Nam hiện đại những năm đầu thế kỷ XX. Trước khi sáng tác Biệt ly, Dzoãn Mẫn đã cho ra đời nhiều tình khúc lãng mạn như Gió thu (1937), Tiếng hát đêm thu (1938), Một buổi chiều thu (1939)... Hòa mình vào dòng thác dân tộc từ những ngày tiền khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, nhạc sĩ Dzoãn Mẫn đã kịp thời sáng tác những ca khúc đầy hào sảng: Nhắn người chiến sĩ, Dũng tiến,... rồi sau đó là Những mầm sống mới, Nuôi quân,... trong kháng Pháp và Cảnh đồng ta, Gọi nghé trên đồng khi miền bắc hòa bình bước vào công cuộc xây dựng. Kể từ năm 1956, nhạc sĩ Dzoãn Mẫn chuyển sang giảng dạy tại Trường âm nhạc Việt Nam. Mười lăm năm trở lại đây, nhạc sĩ Dzoãn Mẫn chạy đua với thời gian dốc toàn lực cuối đời phổ hơn bốn mươi bài thơ của các thi sĩ khắp cả nước. Trong đó, tình khúc Thu đến của ông phổ thơ nữ sĩ Hoàng Thị Minh Khanh đã được Ủy ban toàn quốc Liên hiệp Các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam trao giải thưởng năm 2001. Một số bài phổ thơ của ông đã được các hãng sản xuất băng từ trong và ngoài nước thu đĩa.
- Thưa nhạc sĩ, có người cho rằng ông viết Biệt ly xuất phát từ một mối tình lãng mạn thời trai trẻ?
- Không phải Biệt ly xuất phát từ một tình cảm cá nhân đâu. Tôi không ly biệt tiễn đưa một mối tình nào cả. Có thể dựa vào nội dung bài hát mà nhiều người suy đoán thôi.
Tôi viết Biệt ly trong hoàn cảnh chính quyền thực dân Pháp tuyển mộ rất nhiều người Việt Nam sang làm thợ hoặc lính đánh thuê cho các thuộc địa khác của Pháp. Sân ga Hàng Cỏ bấy giờ đông đúc hơn bao giờ hết, liên tục đưa đón tàu đi tàu về chuyên chở những chàng trai Việt lên đường tha hương. Người đi kẻ ở. Buồn lắm. Đau xót lắm. Cái không khí tiễn đưa "không hẹn ngày về" ấy đã tác động mạnh đến tâm cảm vốn day dứt của tôi. Và ca khúc Biệt ly đã nhanh chóng ra đời.
- Chắc ông còn nhớ ấn tượng lần đầu tiên tình khúc Biệt ly được biểu diễn chính thức? Ca sĩ nào đã thể hiện bài hát này?
- Lần đầu Biệt ly được công bố trước đông đảo khán giả là vào năm 1940 ở Hà Nội. Chị Phụng, một ca sĩ ở ngõ chợ Khâm Thiên là người đầu tiên hát. Không còn nhớ rõ nghệ danh, tôi chỉ nhớ tên gọi thân mật chị Phụng - một giọng hát được nhiều người Hà thành yêu mến.
- Kể từ lần đầu tiên ấy cho tới nay ông thấy những ca sĩ nào hát Biệt ly hay nhất?
- Từ năm 1945 trở về sau, do hoàn cảnh đất nước chìm trong chiến tranh, Biệt ly tạm ngừng không biểu diễn nữa. Mãi đến năm 1988 nó mới chính thức được hát trở lại trên các sân khấu trong nam ngoài bắc, được đưa vào chương trình "Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam" công diễn ở Nhà hát thành phố Hà Nội.
Cùng với Biệt ly nhiều ca khúc tiền chiến của các nhạc sĩ khác như Văn Cao, Đặng Thế Phong, Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Hoàng Quý,... cũng được biểu diễn trở lại. Tôi nghe khá nhiều ca sĩ hát Biệt ly nhưng có lẽ Lan Ngọc ở trong nam và Thùy Dung ở ngoài bắc là thể hiện được cái ý cái tình mà tôi muốn gửi gắm.
- Thưa nhạc sĩ, ông có chịu ảnh hưởng khuynh hướng sáng tác nào không?
- Có thể nói rằng, thế hệ những người làm âm nhạc chúng tôi là thế hệ tự học, tự mày mò, tự tìm kiếm. Chúng tôi không may mắn được học hành chính quy như các anh chị em sau này. Thời ấy, chúng tôi chủ yếu học và tham khảo văn hóa, âm nhạc Pháp. Nên có thể nói, cả thế hệ nhạc sĩ tiền chiến đều chịu ảnh hưởng âm nhạc Pháp, âm nhạc phương Tây. Giống như Đặng Thế Phong hay Đoàn Chuẩn, trước khi sáng tác nhạc tôi là một nhạc công biểu diễn nhiều nơi ở miền bắc.
- Nghĩa là ông hoàn toàn tự học âm nhạc, không trực tiếp "thọ giáo" một ông thầy nào?
- Ồ có chứ. Tôi có theo học một ông thầy dạy nhạc người Pháp tên là Banal, nguyên chỉ huy một dàn nhạc quân đội Pháp. Thời gian tôi theo học khoảng bốn tháng. Kiến thức đa phần là về phối âm phối khí. Tôi nhớ sau một thời gian dạy nhạc và nghe một vài tác phẩm đầu tay của anh em chúng tôi thầy Banal có nhận xét đại ý rằng: Các anh làm nhạc theo khúc thức phương Tây, nhưng có cảm giác như đó vẫn không phải là phương Tây mà vẫn là của các anh!