Người sáng tạo cần “bảo trọng”

Gần đây, khi văn đàn nước nhà dậy sóng về nghi án “đạo” thơ của nữ tác giả tên tuổi, vấn đề bản quyền trong sáng tạo văn học nghệ thuật và đạo đức văn nghệ sĩ lại được đặt ra một cách bức thiết.

Lâu nay, chuyện “đạo” vẫn xảy ra thường xuyên, trong nhiều lĩnh vực. Tranh chép, tranh giả nhiều năm là “đại nạn” của ngành mỹ thuật. Rồi những luận án, công trình, tác phẩm văn học, báo chí cóp nhặt, sao chép; giai điệu ca khúc, kịch bản phim “chôm” của nước ngoài… thậm chí, có lô-gô trang trí đường phố dịp lễ, Tết cũng từng dính nghi án “đạo”. Sách Mỹ thuật Hà Nội ra mắt dịp đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội có bức tranh Hà Nội - cái nhìn hôm nay bị phát hiện "chôm" đến 99% tác phẩm của họa sĩ nổi tiếng Ác-hen-ti-na… Và giờ đây, chuyện lùm xùm quanh tác phẩm của nữ nhà thơ Phan Huyền Thư vẫn tiếp tục làm tốn giấy mực của báo chí.

Nhiều người thường gọi việc xâm phạm bản quyền bằng mỹ từ “sự gặp gỡ của những ý tưởng”! Với khoa học, sự “gặp gỡ” có thể lý giải được bởi tính tất yếu, quy luật, phổ biến… Nhưng văn học - nghệ thuật là phạm trù thuộc cảm xúc, tâm hồn, mang dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Thực tế, nhiều vụ “đạo”, khi bị phát hiện được xử lý bằng cách tự dàn xếp, cũng có lúc phải đưa nhau ra tòa. Có những giải thưởng đã được vinh danh bị thu hồi. Còn thường là hòa cả làng, lặng lẽ “chìm xuồng” theo thời gian. Và sự tồn tại dai dẳng của thực trạng này, phải chăng do chưa có những quy định, chế tài, xử lý đủ mạnh? Theo nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, lòng tự trọng mất đi, sự háo danh tăng lên cùng với sự lười nhác trong sáng tác là những nguyên nhân làm cho tình trạng đạo thơ văn xảy ra ngày càng nhiều. Cái mất lớn nhất với người nghệ sĩ chính là uy tín và danh dự. Bản án lương tâm là bản án đau xót nhất.

Ngày 26-10-2004, Việt Nam tham gia Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật; Việt Nam cũng tham gia vào các Điều ước quốc tế quan trọng khác về quyền tác giả, quyền liên quan, trong đó có Hiệp định TRIPs của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hơn 10 năm qua, việc xây dựng và thực thi pháp luật về bản quyền có những tiến bộ quan trọng. Cùng với Luật Sở hữu trí tuệ, các luật chuyên ngành như Xuất bản, Báo chí, Di sản văn hoá, Điện ảnh, Quảng cáo... đều có các quy định liên quan đến bảo hộ quyền tác giả; cùng với đó là một loạt nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Như vậy, pháp luật Việt Nam về bản quyền được ban hành tương đối đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, phù hợp với các Điều ước quốc tế đã tham gia, đủ điều kiện để điều chỉnh các mối quan hệ về quyền tác giả và quyền liên quan tại Việt Nam. Song thực tế, việc chấp hành và thực thi chưa nghiêm minh cho nên tình trạng vi phạm bản quyền liên tục tiếp diễn. Bản thân các tác giả chưa có ý thức tự bảo vệ mình, chủ động đăng ký tác quyền; các cơ quan quản lý bản quyền chưa làm hết vai trò, trách nhiệm và thiếu quyết liệt trong xử lý những vi phạm. Những năm qua, việc thành lập các Trung tâm Bản quyền âm nhạc Việt Nam, Quyền tác giả văn học Việt Nam là nỗ lực đáng ghi nhận, dẫu thành quả chưa nhiều.

Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với những đòi hỏi khắt khe. Hiệp định TPP xây dựng những cam kết liên quan đến quyền của người sáng chế và tạo ra bảo hộ rõ rệt đối với các tác phẩm văn học - nghệ thuật; các thành viên TPP cũng cung cấp hệ thống chế tài mạnh, bao gồm cả chế tài hình sự đối với tội vi phạm bản quyền. Giờ đây, sự nghiêm túc của chúng ta trong thực thi pháp luật bản quyền được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết, để có thể bước vào một sân chơi hội nhập và bình đẳng.

Từ những bài học đắt giá thời gian qua, có lẽ mỗi người nghệ sĩ cần điềm tĩnh nhìn lại và nâng cao ý thức “bảo trọng”, có những ứng xử nhân văn với bản thân mình và đồng nghiệp, để tiếp tục đem lại những sáng tạo chân chính cho văn học - nghệ thuật nước nhà.