Ngành công thương góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế

Ngành công thương Việt Nam là một bộ phận hợp thành quan trọng, động lực phát triển của nền kinh tế quốc gia. Ngay từ khi thành lập nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho lập các Nha chuyên môn trong Bộ Kinh tế như Nha Thương vụ, Nha Khoáng chất và Kỹ nghệ, Nha Tiếp tế. Ngày 14-5-1951, Hồ Chủ tịch đã ký sắc lệnh 21-SL đổi tên Bộ Kinh tế thành Bộ Công thương để giúp Chính phủ quản lý toàn ngành, đáp ứng nhu cầu kháng chiến và kiến quốc. Ngày 14-5 hằng năm đã trở thành ngày truyền thống để các thế hệ nối tiếp ghi nhận các thành tựu đáng trân trọng của ngành liên tục trong nhiều năm, vượt lên khó khăn, thách thức, tiếp tục đưa ngành công thương đóng góp xứng đáng v&agra

Công cuộc đổi mới, với Nghị quyết của Đại hội VI (năm 1986) nhấn mạnh cần tập trung thực hiện ba chương trình kinh tế lớn (Chương trình lương thực thực phẩm, Chương trình hàng tiêu dùng và Chương trình hàng xuất khẩu), tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hóa ở giai đoạn tiếp theo; đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu, nhấn mạnh vai trò to lớn của công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp; phát triển công nghiệp nặng một cách có chọn lọc, hợp với sức mình, nhằm phục vụ đắc lực cho ba chương trình kinh tế, không bố trí xây dựng công nghiệp vượt quá điều kiện cũng như khả năng cho phép. Việc thực hiện ba chương trình kinh tế lớn trong kế hoạch 1986-1990 và mấy năm tiếp theo đã tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ.

Đại hội Đảng lần thứ VIII (năm 1996) chính thức ghi nhận đất nước đã chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành công thương có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

Những cải cách kinh tế đã được thực hiện trong 20 năm qua (1996-2015) đã cho thấy những chuyển biến rất cơ bản của ngành công thương. Có thể nêu lên bốn nhận xét đáng ghi nhận là:

Một là, ngành công thương đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước, đưa Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình:

Công nghiệp và thương mại đã phát triển mạnh mẽ, tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ đã chiếm hơn 80%GDP, khoảng 70% thu ngân sách Nhà nước hằng năm, tạo việc làm trực tiếp cho hàng triệu lao động. Việt Nam từ năm 2009 đã trở thành nước thu nhập trung bình với tổng thu nhập quốc dân bình quân GNI vượt 1.000 USD/người và nay GDP bình quân đã đạt 2.200 USD/người.

Về phát triển công nghiệp, các ngành công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ, với giá trị gia tăng chiếm hơn 40%GDP, đã xây dựng và hình thành được một số ngành công nghiệp có đủ năng lực đáp ứng nhu cầu trong nước, có khả năng cạnh tranh quốc tế, có kim ngạch xuất khẩu khá và đang tiếp tục lớn mạnh, trong đó có nhiều lĩnh vực sản xuất then chốt của nền kinh tế như năng lượng, khai thác khoáng sản, dầu khí, luyện kim, hóa chất, cơ khí… và những ngành hàng tiêu dùng thiết yếu như dệt may, giày dép, thực phẩm, nước giải khát,… Đã hình thành một số ngành công nghiệp cơ bản tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, phát triển thị trường và đầu tư ra nước ngoài.

Về thương mại, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế có độ mở lớn, với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương với 150% tổng GDP. Thị trường xuất khẩu liên tục được mở rộng tới gần 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu từ mức tổng giá trị đạt hơn 3 tỷ USD lúc mới đổi mới (năm 1986), ngày nay đã tăng hơn 100 lần, đạt 327 tỷ USD (năm 2015), trong đó xuất khẩu đã vượt 80%GDP. Thị trường trong nước có dân số lớn thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 3 trong khối ASEAN với hệ thống nội thương phát triển đã làm cho tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng trưởng doanh thu dịch vụ và thị trường bán lẻ tăng bình quân 26,6%/năm, nhu cầu nội địa đã trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất, chiếm hơn hai phần ba GDP. Điều đó chứng tỏ hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn ngành đã tăng lên mạnh mẽ.

Hai là, doanh nghiệp công thương đã phát triển đa dạng, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong phát triển ngành:

Số lượng các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, chủ yếu là dịch vụ phân phối hàng hóa tăng lên nhanh chóng, tạo nhiều việc làm cho nền kinh tế, trong đó có 2,5 triệu cá nhân, hộ gia đình. Ngoài ra còn có hơn 5.000 văn phòng đại diện và 50 chi nhánh của doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài tham gia kinh doanh siêu thị (Metro, Bourbon, Parkson...) tham gia dịch vụ phân phối (bán buôn, bán lẻ) và các hoạt động phụ trợ khác như nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại, v.v.

Các doanh nghiệp nhà nước với hiệu quả đang được cải thiện đã chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong các phân ngành công nghiệp và thương mại quan trọng nhất như năng lượng, điện lực, khai thác khoáng sản,… cũng như các tập đoàn, tổng công ty xuất nhập khẩu của đất nước.

Các doanh nghiệp tập thể và tư nhân trong nước (bao gồm cả kinh tế hộ) ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong ngành công thương và toàn nền kinh tế, chủ yếu là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của các địa phương, tạo việc làm chủ yếu cho cư dân trong nền kinh tế.

Các doanh nghiệp FDI đã tạo nên cầu kết nối vững chắc với thị trường thế giới trong cạnh tranh, xây dựng được nhiều doanh nghiệp có công nghệ cao, có sức cạnh tranh lớn, góp phần chủ yếu đạt mức xuất khẩu cao của cả nước như điện thoại và linh kiện (năm 2015 đạt hơn 30 tỷ USD), máy tính và phụ tùng (hơn 15 tỷ USD), máy móc thiết bị (gần 9 tỷ USD), phương tiện vận tải (gần 6 tỷ USD) cùng với ngành dệt may (đạt gần 23 tỷ USD),… Dấu hiệu tích cực là một số doanh nghiệp hàng đầu đã đẩy mạnh các trung tâm nghiên cứu và thực hiện chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân viên tại chỗ… Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thu hút FDI thiếu lựa chọn, nhất là các doanh nghiệp công nghệ chưa cao, gây ô nhiễm môi trường, thu hút lao động có trình độ thấp, giá nhân công rẻ và thiếu liên kết.

Các doanh nghiệp thuộc mọi loại hình sở hữu đan xen đã thực hiện liên kết với mức độ khác nhau để Việt Nam ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, tạo thành một mắt xích quan trọng liên kết các doanh nghiệp trong mạng lưới sản xuất và cung ứng toàn cầu.

Ba là, công tác quản lý toàn ngành công thương đã được cải thiện, công tác xây dựng thể chế ngày càng hoàn thiện:

Đứng trước cơ hội mới của thời kỳ toàn cầu hóa và cách mạng khoa học công nghệ mới, cán bộ nhân viên của hệ thống quản lý toàn ngành công thương đã có những nỗ lực để cải thiện chất lượng quản trị, cải cách hành chính, công khai minh bạch, tăng cường phân cấp quản lý toàn ngành và từng doanh nghiệp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, góp phần đóng góp tốt hơn cho sự nghiệp phát triển đất nước.

Bộ Công thương đã trình Chính phủ để Chính phủ trình Quốc hội thông qua nhiều dự án luật quan trọng góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội, trình Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ thông qua nhiều Nghị định, Chỉ thị, Quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy theo hướng đồng bộ, phù hợp với các cam kết quốc tế trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng cơ chế phối hợp với các bộ, ngành triển khai các biện pháp về sản xuất, kinh doanh (xăng dầu, lương thực,..), xuất khẩu, phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng…; theo dõi sát tình hình thị trường để kịp thời, chủ động nắm thông tin thị trường phục vụ công tác điều hành của Chính phủ; tăng cường công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, phát triển thị trường; khai thác tiềm năng, cơ hội từ các Hiệp định thương mại song phương và đa phương đã ký, giảm dần phụ thuộc vào một thị trường.

Bốn là, thực hiện tốt việc chủ động và tích cực tham gia hội nhập sâu theo đường lối của Đảng:

Trước yêu cầu của bối cảnh mới, ngành công thương cũng đã chủ động nghiên cứu, đề xuất với lãnh đạo Đảng, Nhà nước các định hướng, chính sách và lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế hợp lý, tích cực chủ trì, tham gia các tổ chức quốc tế và ký kết các Hiệp định hợp tác đa phương và song phương trong lĩnh vực kinh tế, công nghiệp và thương mại. Đặc biệt, cùng với thực hiện các cải cách bên trong ngành, đoàn đàm phán nước ta đã tiến hành thương lượng thành công hơn 10 Hiệp định tự do thương mại FTA, nhất là FTA trong phạm vi cộng đồng ASEAN, Hiệp định FTA với EU với chất lượng cao (“thế hệ mới”) và Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong phạm vi 12 nước của châu Á - Thái Bình Dương. Những thành tựu quan trọng này có ý nghĩa không chỉ đối với ngành công thương mà còn góp phần to lớn vào quá trình hội nhập sâu rộng và hiệu quả; hoàn thiện thể chế, luật pháp và tăng cường năng lực quốc gia; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước trong thời gian tới. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; có sự ổn định về chính trị và xã hội, là những nhân tố hết sức quan trọng thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp vào kinh doanh ở Việt Nam.

Với những đóng góp to lớn trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại trước đây đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng; các Bộ tiền thân trước đây của Bộ Công thương và nhiều đơn vị trong Bộ cũng được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương và các phần thưởng cao quý khác. Nhân dịp 65 năm Ngày truyền thống, ngành công thương vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

TS Trần Tuấn Anh
Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Công thương