Ngăn hệ lụy từ mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) ở nước ta xảy ra từ năm 2006, và bắt đầu cao từ năm 2009. Sau gần mười năm, mặc dù, đã khá nhiều giải pháp, nhưng chưa đủ mạnh, cho nên tình trạng này vẫn tiếp tục tăng. Đến nay đã có 53 trong số 63 tỉnh, thành phố xảy ra MCBGTKS với mức 114 bé trai/100 bé gái ở thành thị và 111,1 bé trai/100 bé gái ở nông thôn.

Các tỉnh, thành phố có tỷ số MCBGTKS cao nhất gồm: Quảng Ninh, Hưng Yên, Lào Cai, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn La, Hà Nội, Lạng Sơn, Tuyên Quang… Đáng chú ý, MCBGTKS xảy ra ngay từ lần sinh thứ nhất cho thấy khát vọng có con trai là rất lớn và các gia đình đã sớm lựa chọn giới tính của con ngay từ lần mang thai đầu tiên. Đặc biệt, MCBGTKS xảy ra ở những thành phố lớn và nơi có những cặp vợ chồng có trình độ học vấn cao, kinh tế gia đình khá giả, khác hẳn với những ý kiến của các chuyên gia dân số từ trước cho rằng MCBGTKS xảy ra ở các tỉnh miền núi, vùng sâu nơi còn trình độ dân trí thấp.

Nguyên nhân chủ yếu vẫn là tâm lý muốn có con trai nối dõi tông đường đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, gia đình và dòng họ. Ở đô thị, nhiều gia đình trí thức, kinh tế khá giả nhưng luôn có tâm lý phải sinh con trai, do vậy họ lựa chọn giới tính khi sinh bằng nhiều phương pháp y tế hiện đại và cũng dễ dàng bỏ thai nếu giới tính là nữ. Mặc dù đã có nhiều quy định, cấm và xử phạt nghiêm việc chẩn đoán giới tính trước khi sinh, nhưng, việc phát hiện và xử phạt vi phạm không dễ dàng, khi các cơ sở y tế cung cấp dịch vụ vẫn cố tình vi phạm. Còn ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, một số gia đình không có điều kiện tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại thì cứ sinh con, đến khi được con trai mới thôi.

Nếu không có các biện pháp can thiệp kịp thời, tỷ số MCBGTKS sẽ tăng lên khoảng 125 bé trai/100 bé gái vào năm 2020 và tiếp tục duy trì ở mức này cho tới năm 2050. Khi đó, nước ta sẽ dư thừa hơn bốn triệu nam giới và sẽ kéo theo nhiều hệ lụy khó lường khác về mặt an ninh xã hội như nạn buôn bán phụ nữ, xâm hại tình dục... Về lâu dài, sự thiếu hụt phụ nữ dẫn tới sự suy giảm tỷ lệ sinh và xa hơn là giảm tổng dân số cũng như nhóm người trong độ tuổi lao động, dẫn tới quá trình già hóa dân số đến sớm hơn.

Mới đây tại lễ phát động Ngày hội chung tay hành động giảm thiểu MCBGTKS, 11 tỉnh, thành phố có tỷ số giới tính khi sinh cao nhất đã ký cam kết kêu gọi không phân biệt giới tính, không lựa chọn giới tính thai nhi. Nhưng xem ra đây cũng chỉ là giải pháp tình thế, chỉ kêu gọi là không đủ. Vì 10 năm nay ngành chức năng vẫn chưa tìm được giải pháp căn cơ.

Dù đã muộn, nhưng nếu không có sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn xã hội ngay từ bây giờ, thì e rằng, MCBGTKS sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước và giống nòi của dân tộc. Cần phải tuyên truyền mạnh hơn nữa để có thể thay đổi được nhận thức của người dân về quan niệm có con trai nối dõi tông đường. Theo đó, có thể can thiệp thay đổi tâm lý ưa thích con trai thông qua việc khuyến khích con gái cũng có thể nối dõi tông đường và thờ cúng tổ tiên; cha mẹ già có thể sống với con gái… Cùng với đó cần tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia nhiều hơn trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm; thành lập quỹ dành riêng cho trẻ em gái… Hoạt động truyền thông cần linh hoạt trong cách tiếp cận và thông điệp phù hợp với từng nhóm đối tượng, không chỉ đối với những cặp vợ chồng trẻ, mà phải bao gồm cả những người lớn tuổi.

Kiểm soát và xử lý nghiêm hành vi lựa chọn và tiếp tay cho việc lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức cũng là điều cần được tăng cường. Trên thực tế, chế tài xử lý các hành vi vi phạm đã được ban hành nhưng mức phạt chưa đủ nghiêm để răn đe. Đi đôi với tăng mức phạt, cần nâng cao trách nhiệm và y đức của người thầy thuốc trước thực trạng MCBGTKS đáng báo động như hiện nay.