Lời giải cho bài toán kinh tế và môi trường

NDO - Việc sử dụng đất, đá thải mỏ than; tro, xỉ… để san lấp mặt bằng các dự án, công trình xây dựng hay làm nguyên liệu đầu vào của các ngành, nghề khác được xem là lợi đủ đường. Điều này vừa giúp phát triển kinh tế, vừa giảm tác động đến môi trường.
0:00 / 0:00
0:00
Theo Bộ Xây dựng: Năm 2021, 29 nhà máy điện than trên cả nước thải ra môi trường khoảng 16 triệu tấn tro, xỉ. Chưa kể, tổng lượng tro, xỉ nhiệt điện than đang tồn kho khoảng 48 triệu tấn. Cũng trong năm qua, các nhà máy sản xuất phân bón, hóa chất thải ra môi trường khoảng 1,3 triệu tấn thạch cao PG.
Theo Bộ Xây dựng: Năm 2021, 29 nhà máy điện than trên cả nước thải ra môi trường khoảng 16 triệu tấn tro, xỉ. Chưa kể, tổng lượng tro, xỉ nhiệt điện than đang tồn kho khoảng 48 triệu tấn. Cũng trong năm qua, các nhà máy sản xuất phân bón, hóa chất thải ra môi trường khoảng 1,3 triệu tấn thạch cao PG.

Hiện nay, tổng trữ lượng đất, đá thải mỏ than tại các bãi thải trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh lên đến hơn 1,3 tỷ m3, mỗi năm có thêm khoảng 150 triệu m3. Trong khi đó, tổng trữ lượng của các bãi thải chứa khoảng 2.125 tỷ m3 đất, đá thải. Ngoài ra, các nhà máy nhiệt điện cũng xả ra hàng chục triệu tấn tro, xỉ/năm.

Mỏ vàng cho lựa chọn mới

Thống kê của Tổng công ty Điện lực-Tập đoàn Than, Khoáng sản Việt Nam (TKV) cho thấy: sáu nhà máy nhiệt điện của đơn vị xả ra khoảng 2,5 đến ba triệu tấn tro, xỉ/năm. Trong đó, ít nhất là Công ty cổ phần Than-Điện Nông Sơn (70 nghìn tấn/năm); nhiều nhất là Công ty cổ phần Nhiệt điện Cẩm Phả (khoảng 900 nghìn tấn/năm). Hiện nay, đã có năm nhà máy xuất bán tro, xỉ ra thị trường. Khối lượng tro, xỉ tiêu thụ của các đơn vị trong Tổng công ty năm 2021 đạt hơn ba triệu tấn, bằng 118,9% so tổng khối lượng phát thải. Trong đó, chuyển giao cho các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng hơn 1.513 nghìn tấn; phụ gia sản xuất xi-măng 384 nghìn tấn; vật liệu san lấp 1.533 nghìn tấn…

Phó Giám đốc Công ty cổ phần Nhiệt điện Cẩm Phả Dương Hồng Hải cho biết: Quy mô bãi tập kết tro, xỉ của công ty rộng 44,7ha, dung tích chứa được 3,6 triệu tấn, nhưng luôn trong tình trạng quá tải, tạo áp lực không nhỏ trong việc xử lý lượng tro, xỉ thải ra trong quá trình sản xuất điện. Nhà máy lại gần vịnh Bái Tử Long, nếu không giải quyết được vấn đề tro, xỉ sẽ ảnh hưởng sản xuất cũng như tác động xấu đến môi trường khu vực. Năm 2020, công ty đã cung cấp hơn một triệu tấn tro, xỉ cho các dự án, công trình trọng điểm. Năm 2021, tiêu thụ gần 2,2 triệu tấn. Từ khi tro, xỉ nhiệt điện đốt than được sử dụng làm vật liệu san lấp theo tiêu chuẩn quốc gia (TCVN 12249:2018), công ty tiết kiệm được hàng chục tỷ đồng chi phí vận chuyển, xử lý tro, xỉ phát thải.

Cũng theo TKV, lượng tro, xỉ tiêu thụ cao hơn so các năm trước xuất phát từ việc các cơ chế, chính sách liên quan đến xử lý tro, xỉ dần được hoàn thiện cộng thêm sự hỗ trợ của các địa phương và các đối tác có nhu cầu sử dụng. Chẳng hạn như, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT có quy định tro bay từ quá trình đốt than của nhà máy nhiệt điện là chất thải rắn công nghiệp thông thường. Có nghĩa, thay vì phải kiểm soát ngưỡng nguy hại theo quy định tại quy chuẩn kỹ thuật môi trường về ngưỡng chất thải nguy hại như trước đây, tro bay đã "được bật đèn xanh" cho tiêu thụ.

Một hướng đi mới đang được TKV và tỉnh Quảng Ninh quyết liệt triển khai, đó là sử dụng lại đất, đá thải tại các bãi thải mỏ lộ thiên để phục vụ san lấp mặt bằng các dự án trọng điểm. Chủ trương này không những giải được bài toán khan hiếm vật liệu san lấp cho các công trình, mà còn tiết kiệm được tài nguyên, giảm áp lực và thu hẹp diện tích các bãi thải mỏ, đồng thời tăng thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Ông Đoàn Huy Bình, Phó Giám đốc Công ty Chế biến than Quảng Ninh cho biết: Hiện nay, TKV đã hoàn thành việc lập phương án thu hồi và sử dụng đất đá thải tại bãi thải mỏ Suối Lại (thuộc phường Hà Khánh, TP Hạ Long), tổng khối lượng đất, đá thải thu hồi, sử dụng là 3,5 triệu m3, được dành làm vật liệu san lấp, tôn tạo mặt bằng cho các dự án ở TP Hạ Long và thị xã Quảng Yên. "Chúng tôi đang hoàn thiện hồ sơ để xin cấp phép khai thác 18,2 triệu m3 đất đá ở bãi thải Đông Cao Sơn để phục vụ các dự án trên địa bàn TP Cẩm Phả và huyện Vân Đồn. Hồ sơ xin cấp phép hơn 10 triệu m3 đất đá ở bãi thải của Công ty Than Mạo Khê để cung cấp cho dự án đường ven sông của tỉnh và các dự án trên địa bàn thị xã Đông Triều đang được gấp rút triển khai", ông Đoàn Huy Bình cho biết thêm.

Cần sự nỗ lực của cả cộng đồng

Đất, đá thải mỏ hiện vẫn được coi là khoáng sản đi kèm than, và do nằm trong ranh giới mỏ nên Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn thay mặt nhà nước quản lý. Vì thế, việc khai thác loại khoáng sản này vẫn cần đầy đủ các thủ tục không kém gì thủ tục xin khai thác một mỏ than. Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh Trần Như Long cho biết: Sở đã và tiếp tục tham mưu với UBND tỉnh Quảng Ninh có văn bản báo cáo, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm, báo cáo Chính phủ sớm xem xét tháo gỡ sửa đổi quy định về khái niệm khoáng sản theo hướng: đất đá thải mỏ than không phải là khoáng sản đi kèm than, mà là chất thải rắn công nghiệp thông thường để việc giải quyết thủ tục được nhanh chóng, tạo điều kiện cho việc thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Theo các chuyên gia, chuyển dịch từ kinh tế tuyến tính sang kinh tế tuần hoàn đang là xu thế chung của toàn cầu và Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Đây là cách tốt nhất để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các ảnh hưởng tiêu cực tới cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm và suy thoái môi trường.

Không nằm ngoài xu thế ấy, song Việt Nam đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, như: khung chính sách về phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn chưa được hoàn thiện; nhận thức về kinh tế tuần hoàn và sự cần thiết chuyển đổi sang phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn còn hạn chế; nguồn lực cho việc thực hiện chuyển đổi sang phát triển kinh tế tuần hoàn còn yếu; thiếu các doanh nghiệp đủ năng lực công nghệ về tái chế, tái sử dụng các sản phẩm đã qua sử dụng…

Do đó, để thực hiện được định hướng này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực của mọi thành phần trong xã hội. Đặc biệt, doanh nghiệp là động lực trung tâm, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt cộng đồng tham gia thực hiện để thay đổi cả về nhận thức và hành vi của toàn xã hội.