Cân bằng tỷ trọng xuất khẩu, giảm phụ thuộc khối FDI

Thứ Sáu, 30-07-2021, 19:06
Hoạt động logistics vẫn là một trong những khâu còn hạn chế trong hoạt động xuất khẩu. Ảnh | CTV

Theo số liệu từ Cục xuất nhập khẩu (Bộ Công thương), trong quý I/2021, cả nước ước tính xuất nhập khẩu 152,65 tỷ USD, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 77,34 tỷ USD, tăng 22%. Trong tháng tư, mặc dù sự bùng phát trở lại nghiêm trọng của dịch Covid-19, nhưng hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục đà tăng trưởng cao so cùng kỳ năm 2020 và đạt tốc độ cao nhất trong vòng 10 năm qua. Đây là một thành tựu quan trọng, tuy nhiên, điều đáng chú ý là, đóng góp cho thành tích tăng trưởng xuất khẩu này hoàn toàn thuộc vào khu vực FDI.


Cụ thể, trong tổng kim ngạch xuất khẩu hơn 77 tỷ USD nói trên, khu vực trong nước chỉ đóng góp 18,3 tỷ USD, tăng 4,9%, chiếm 23,7% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực FDI (kể cả dầu thô) đạt 59,04 tỷ USD, tăng 28,5%, chiếm 76,3%.

“Tỷ trọng xuất khẩu của khu vực FDI ngày càng lớn, lên tới hơn 76,3%, trong khi trước đây, con số này chỉ hơn 60% hoặc xấp xỉ 70%. Điều này cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào khối FDI và đây là điều đáng chú ý”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Trần Quốc Phương phát biểu trong một cuộc họp.

Những năm gần đây, tỷ trọng đóng góp của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn. Năm ngoái, khu vực FDI đóng góp 202,89 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm tỷ trọng 71,7%. Không chỉ là tỷ trọng chung, mà các con số thống kê đều cho thấy, ở các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, khu vực FDI luôn đứng đầu bảng. Chẳng hạn, với mặt hàng điện thoại và linh kiện, khu vực FDI chiếm tới chiếm 99,1%. Trong khi đó, sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng là 93,1%. Còn với giày dép và dệt may, những tưởng lợi thế thuộc về doanh nghiệp nội địa, thì khối FDI cũng chiếm tương ứng 81,9% và 62,5%.

Chính bởi thế, trong thành tích xuất siêu hơn hai tỷ USD trong quý I/2021, thì công lớn cũng thuộc về doanh nghiệp FDI. Trong quý đầu năm nay, các doanh nghiệp FDI, nếu tính cả dầu thô, xuất siêu 8,78 tỷ USD.

“Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhu cầu từ bên ngoài và năng lực xuất khẩu của khu vực FDI khiến nền kinh tế Việt Nam dễ bị tổn thương trước khủng hoảng toàn cầu” 


Trong những năm gần đây, không ít các cuộc hội thảo, toạ đàm về xuất khẩu, các chuyên gia đã lên tiếng nhiều về việc xem lại cơ cấu hàng xuất khẩu, thậm chí nhiều ý kiến cho rằng về lâu dài sẽ là mối lo ngại lớn nếu như tăng trưởng xuất khẩu phải dựa hoàn toàn vào khối doanh nghiệp FDI. Thực tế, với bất cứ nền kinh tế nào, muốn xuất siêu bền vững, ngành công nghiệp hỗ trợ phải thật sự phát triển và các doanh nghiệp nội địa phải giảm nhập siêu. Lãnh đạo Bộ Công thương trong các diễn đàn cũng đã phải thừa nhận: “Mấy năm nay, Việt Nam xuất siêu đang phụ thuộc vào khối FDI, doanh nghiệp FDI xuất siêu nhiều thì Việt Nam xuất siêu nhiều. Khối doanh nghiệp nội địa hiện vẫn nhập siêu lớn và giá trị xuất khẩu so với khối FDI ở nhiều nhóm ngành hàng vẫn chưa cao”.

Cân bằng tỷ trọng xuất khẩu, giảm phụ thuộc khối FDI -0

 

Từ năm 2016 đến nay, cán cân thương mại luôn đạt thặng dư với mức xuất siêu tăng dần qua các năm từ 1,77 tỷ USD năm 2016, 2,1 tỷ USD năm 2017, 6,8 tỷ USD năm 2018, 10,9 tỷ USD năm 2019 và nhất là kỷ lục xuất siêu hơn 19 tỷ USD năm 2020. Việc khai thác các Hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng đạt được những thành tựu nhất định, góp phần phát triển xuất khẩu nhanh và bền vững, giảm dần phụ thuộc vào một hay một vài thị trường.

Tổng kim ngạch xuất khẩu sử dụng các loại C/O ưu đãi theo FTA trung bình đạt 32% - 34%/năm. Kết quả này phản ánh doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA với Việt Nam. Hàng hóa Việt Nam đã thâm nhập được vào nhiều thị trường đòi hỏi yêu cầu cao về chất lượng hàng hóa, an toàn thực phẩm như EU, Nhật Bản, Mỹ, Úc,... Năm 2020, có 31 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch hơn một tỷ USD, trong đó, năm thị trường đạt kim ngạch hơn 10 tỷ USD, tám thị trường năm tỷ USD.


Trong một báo cáo của Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), các chuyên gia phân tích bản chất của việc doanh nghiệp FDI xuất siêu nhiều sẽ không mang lại nhiều giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Điều này xuất phát từ việc các doanh nghiệp FDI xuất khẩu nhiều thì cũng nhập nguyên liệu đầu vào từ các nước xuất xứ, không phải ở Việt Nam, kéo theo giá trị gia tăng trong nước không cao. Các chuyên gia của UNIDO cũng khuyến nghị Việt Nam cần đánh giá lại mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp FDI.

Theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và FDI của Việt Nam được coi là một vấn đề tiềm ẩn rủi ro. Trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 20,3% GDP của Việt Nam, họ đã đóng góp tới 67,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2019. Một trong những thí dụ điển hình về sự đóng góp “ngoại cỡ” của khu vực đầu tư nước ngoài vào sự phát triển kinh tế và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam là Samsung.

Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt tốc độ tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua

Tính đến tháng ba năm 2020, Samsung là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam với số vốn đầu tư lũy kế hơn 17 tỷ USD. Samsung cũng là một trong những nhà tuyển dụng lớn nhất tại Việt Nam, với tổng số nhân viên là hơn 110 nghìn người. Năm 2019, doanh thu của Samsung tại Việt Nam là khoảng 68,3 tỷ USD, bằng khoảng 26% GDP của Việt Nam. Đóng góp của Samsung vào hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cũng rất đáng chú ý. Năm 2019, công ty đã xuất khẩu các sản phẩm trị giá 51,3 tỷ USD, chiếm 19,4% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm đó.

Dù đầu tư của Samsung vào Việt Nam là một thí dụ tiêu biểu cho thấy thành công của Việt Nam trong việc thu hút FDI nhưng nó cũng làm nổi bật sự phụ thuộc của Việt Nam vào dòng vốn nước ngoài và xuất khẩu. Việc một công ty nước ngoài đóng góp tới 19,4% kim ngạch xuất khẩu là điều chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam và cũng là điều hiếm thấy ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Nếu Samsung quyết định ngừng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động tại Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

Giám đốc chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright Vũ Thành Tự Anh cho rằng, sự lớn mạnh của doanh nghiệp FDI thể hiện rõ qua kim ngạch xuất nhập khẩu và điều này cho thấy họ đã phát huy được những lợi thế ưu tiên từ chính sách. Theo ông Tự Anh, muốn kinh tế tăng trưởng bền vững, tránh phụ thuộc, cần xây dựng môi trường kinh doanh cạnh tranh, công khai và minh bạch. Tất cả các thành phần kinh tế đều được đối xử như nhau, không dành quá nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư từ khối FDI. Những ưu đãi này sẽ ảnh hưởng đến quá trình hình thành, phát triển và cả cạnh tranh của các khối doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Có thể thấy, nhờ các chính sách ưu đãi đầu tư khác nhau và nhiều cải cách pháp lý và hành chính, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trong khu vực. Điều này cũng phù hợp với những cân nhắc và chiến lược của Chính phủ trong việc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, “sự lép vế” của các doanh nghiệp Việt Nam ở chiều ngược lại cho thấy thế cân bằng chưa được thúc đẩy một cách thích đáng.

Theo ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, việc chưa tham gia được sâu và rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu cho thấy năng suất thấp và khả năng cạnh tranh còn yếu của khu vực kinh tế trong nước là do các doanh nghiệp trong nước đa phần quy mô nhỏ và siêu nhỏ (chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế), có trình độ công nghệ không cao, năng lực tài chính hạn chế, khả năng tích tụ và đầu tư đổi mới công nghệ thấp, hạn chế về nguồn nhân lực chất lượng cao... Trong khi đó, các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn của Việt Nam chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng 2%), chưa thật sự đóng vai trò dẫn dắt cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ trong việc liên kết chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Khuyến khích thu hút các dự án FDI tạo sức lan tỏa lớn

Cùng với xây dựng năng lực sản xuất quốc gia, thì việc có kết nối với khu vực trong nước cũng đã được nhấn mạnh. Theo Bộ Công thương, dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc trong thời gian tới khi mà các FTA đang dần được thực thi một cách toàn diện hơn, hiệu quả hơn, tạo điều kiện để hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thị trường đối tác với thuế quan ưu đãi, thông qua đó thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng mạnh.

Bên cạnh đó, nhu cầu toàn cầu cũng đang được cải thiện khi nhiều khu vực kinh tế lớn trên giới như EU, Hoa Kỳ đang bước vào giai đoạn phục hồi nhờ việc triển khai mạnh mẽ tiêm vắc-xin Covid-19, cũng như sự hỗ trợ từ chính sách nới lỏng tài khóa và tiền tệ, qua đó giúp tăng cường cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, xuất nhập khẩu cũng sẽ gặp nhiều thách thức khi diễn biến dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu vẫn diễn biến phức tạp, dẫn đến việc vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhiều chuỗi cung ứng bị gián đoạn.

Trong khi đó, chi phí đầu vào như logistics, nguyên liệu nhập khẩu tăng cao cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và xuất nhập khẩu; tình trạng thiếu công-ten-nơ rỗng, chi phí vận chuyển tăng cao khiến hoạt động xuất nhập khẩu gặp khó khăn, nhiều doanh nghiệp buộc phải dời kế hoạch xuất hàng cho đơn hàng cũ cũng như chưa thể nhận đơn hàng mới vì không thể giao đúng theo hợp đồng, cản trở việc phục hồi sản xuất.

Theo các chuyên gia, để thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng nhanh và bền vững, đồng thời xây dựng nền kinh tế tự chủ thì không thể tiếp tục phụ thuộc nhiều vào khối FDI như hiện nay. Tuy nhiên, cân bằng cán cân tỷ trọng xuất khẩu là phải tìm cách nâng cao năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước chứ không phải kéo giảm sức sản xuất của khu vực FDI. Như vậy, cần có các giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực sản xuất.

Cùng với đó, khuyến khích thu hút các dự án FDI tạo sức lan tỏa lớn, tăng kết nối với khu vực trong nước, từ đó giúp các doanh nghiệp Việt lớn dần, đủ sức trở thành đối tác của các doanh nghiệp FDI, tham gia sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và dần tăng tỷ trọng trong đóng góp vào xuất khẩu. Việt Nam cần gia tăng sức mạnh nội tại thông qua một số giải pháp:

Thứ nhất, tạo điều kiện phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Các DNVVN đóng vai trò là chất xúc tác của nền kinh tế và quan trọng trong vấn đề giải quyết việc làm. Đặc biệt, khi những doanh nghiệp này tác động ngược trở lại sẽ mang đến lợi ích cho doanh nghiệp nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, tăng cường hợp tác khu vực thông qua ASEAN và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Cần có một kế hoạch tổng thể về kinh tế và công nghiệp ASEAN, tương tự như kế hoạch tổng thể về kết nối ASEAN 2025. Kế hoạch này sẽ xác định mạng lưới sản xuất và cơ sở chuỗi cung ứng dựa trên lợi thế cạnh tranh hay vị trí chiến lược của các quốc gia thành viên. Thí dụ như việc tích hợp hoàn toàn các dây chuyền và khu sản xuất thiết bị điện & điện tử (E&E) của Việt Nam với Malaysia. Một giải pháp khác là khôi phục liên kết giao dịch ASEAN dựa trên Diễn đàn thị trường vốn ASEAN (ACMF). Thông qua đó, cung cấp các chương trình đầu tư tập thể xuyên biên giới.

Thứ ba, tăng chi đầu tư trực tiếp trong nước, bao gồm cả đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển R&D, xây dựng chiến lược tạo việc làm là trọng tâm của chiến lược kinh tế vĩ mô. Tăng cường ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước hiện đại hóa sản xuất.

Thứ tư, tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại - đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp từ vườn ươm, start-up đến đào tạo, quản trị, tài chính, thông tin định hướng, thị trường… Đẩy mạnh chiến lược phát triển thương hiệu Việt và quảng bá trên toàn thế giới. Cuối cùng, đa dạng hóa và thúc đẩy hơn nữa các liên kết thương mại và đầu tư ngoài các đối tác FDI truyền thống.

Giai đoạn 2021-2023, Chính phủ cần khuyến khích, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các lĩnh vực nông nghiệp, bán lẻ, logistic, du lịch, công nghiệp hỗ trợ, giáo dục, y tế, ICT để phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Tạo tiền đề hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, tạo ra các thương hiệu lớn vươn ra cạnh tranh và kinh doanh toàn cầu.

Để kết nối thành công giữa doanh nghiệp FDI và trong nước

Theo TS Đậu Tuấn Anh, VCCI liên kết yếu giữa doanh nghiệp dân doanh và FDI chủ yếu do ba yếu tố. Thứ nhất là chất lượng nguồn nhân lực. Kế tiếp là trình độ công nghệ và khả năng hấp thụ đầu tư của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Cuối cùng là khoảng cách địa lý giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa.

Cân bằng tỷ trọng xuất khẩu, giảm phụ thuộc khối FDI -0
 Nhà máy Samsung sử dụng hàng trăm nghìn lao động trong nước. Ảnh | Anh Tuấn

Để tăng kết nối chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và khu vực tư nhân hơn nữa cần thực hiện các giải pháp cụ thể như cải thiện hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân lực. Để thực hiện điều này rất khó kỳ vọng vào nỗ lực tự thân của chính doanh nghiệp, mà cần vai trò dẫn dắt của Nhà nước như cải thiện chất lượng các trường đào tạo nghề, kết nối hoạt động đào tạo nghề và thực tiễn phát triển công nghệ, khuyến khích đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vào hoạt động đào tạo nghề…

Để giảm khoảng cách về công nghệ giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa cần có giải pháp đột phá để cải thiện như cung cấp dịch vụ tư vấn công nghệ cao hiệu quả, vận hành quỹ phát triển công nghệ, sử dụng các chính sách về thuế, tài chính để khuyến khích đầu tư công nghệ cao.

Khoảng cách địa lý cũng có tác động đến sự kết nối này. Việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất riêng biệt, tách biệt các doanh nghiệp FDI, có thể giúp nâng cao hiệu quả hoạt động và xuất khẩu, tuy nhiên nó lại hạn chế hiệu ứng lan tỏa tích cực đối với khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

Cân bằng tỷ trọng xuất khẩu, giảm phụ thuộc khối FDI -0
 Các mặt hàng xuất nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam.

Một nghiên cứu của VCCI đã mô hình hóa vị trí địa lý đặt nhà máy của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trong nước đã chứng minh được khoảng cách địa lý ảnh hưởng đến mức độ kết nối giữa hai khu vực này. Vì vậy, khi thiết kế các khu công nghiệp dành riêng cho đầu tư FDI cũng phải tính đến sự kết nối các khu, cụm công nghiệp dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
 

Khai thác động lực từ các FTA

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một yếu tố quan trọng thúc đẩy xuất nhập khẩu tăng trưởng là do chúng ta đã và đang thực thi hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết, nhất là các FTA thế hệ mới như FTA Việt Nam - EU (EVFTA) hay Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sau 31 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, EU đã trở thành một trong những đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, đầu tư, đồng thời cũng là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của chúng ta sau Hoa Kỳ.

Đặc biệt sau khi EVFTA chính thức thực thi (1-8-2020) đã mở ra ngày càng nhiều cơ hội hơn cho hoạt động thương mại giữa hai bên. Tính chung 4 tháng đầu năm, các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang EU cũng thực hiện tự chứng nhận xuất xứ cho gần 3.585 lô hàng với trị giá hơn 10,88 triệu USD được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA cho thấy cơ hội đến từ EVFTA đang được doanh nghiệp của ta tận dụng tương đối hiệu quả.

CPTPP cũng đang là bước ngoặt quan trọng, tạo ra xung lực mới để thúc đẩy hợp tác thương mại giữa Việt Nam và các nước đối tác thành viên nói chung và các nước châu Mỹ nói riêng. Năm 2020, trong bối cảnh cả thế giới phải trải qua một năm nhiều biến động và suy thoái, dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới thương mại toàn cầu, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang khu vực châu Mỹ vẫn đạt được kết quả đáng khích lệ.

Theo đó, tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và châu Mỹ năm 2020 đạt gần 111,5 tỷ USD, tăng 16% so năm 2019; trong đó xuất khẩu đạt 89,7 tỷ USD, tăng 21,7% và chiếm tỷ trọng 31,7% trong tổng xuất khẩu của Việt Nam. Những con số này khẳng định, CPTPP đã và đang trở thành động lực mở rộng đường cho hàng Việt sang thị trường các nước châu Mỹ vốn còn rất mới mẻ và tiềm năng.

Theo Vụ Thị trường châu Âu - châu Mỹ (Bộ Công thương), bên cạnh việc khai thác thị trường CPTPP, các doanh nghiệp có thể nghiên cứu khả năng tận dụng những ưu đãi, các mối liên kết kinh tế và cơ sở hạ tầng sẵn có của các nước thành viên CPTPP để qua đó đưa hàng Việt Nam thâm nhập và mở rộng sang các thị trường khác thuộc khu vực châu Mỹ.

Khu vực này có nhiều khối liên kết kinh tế thông qua các FTA với mối ràng buộc chặt chẽ với nhau. Nếu tận dụng tốt các cơ chế liên kết kinh tế và ưu đãi thương mại này, doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tìm thấy những cơ hội kinh doanh thuận lợi, đa dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu như hiện nay.

 

Nhóm thực hiện: THÙY VÂN, CHÍ CÔNG, LINH ANH